Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Về mặt kỹ thuật: Bảo hiểm nhân thọ là nghiệp vụ bao hàm những cam kết mà
sự thi hành những cam kết này thuộc chủ yếu vào tuổi thọ của con ngời.
Nh vậy thì bảo hiểm nhân thọ giải quyết nỗi lo âu về mặt an toàn trong đời
sống nhng nó chỉ gắn với các biến cố liên quan đến bản thân con ngời nh: tử vong,
sống sót, tai nạn và bệnh tật kéo theo sự mất khả năng lao động, thơng tật và các chi
phí y tế Đôi khi các sự cố không phải luôn tơng ứng với các thiết hại. Tóm lại, bảo
hiểm nhân thọ thay thế bảo trợ xã hội cơ bản nơi mà bảo trợ xã hội không tồn tại, bổ
sung cho bảo trợ xã hội khi bảo trợ xã hội còn thiếu sót.
b.Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ:
Để tiến hành kinh doanh một sản phẩm, một ngành nghề, một lĩnh vực nào đó
thì trớc hết chúng ta phải nắm đợc tính năng và tác dụng của nó. Khác với các sản
phẩm khác, sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có đặc thù riêng.
Thứ nhất, bảo hiểm là một loại sản phẩm đặc biệt. Sở dĩ nh vậy là vì sản phẩm
bảo hiểm là một dịch vụ, không những thế nó là một dịch vụ đặc biệt. Điều này đợc
thể hiện rõ qua các đặc tính cụ thể sau:
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm không định hình. Thực chất của hoạt động
bảo hiểm là hoạt động chuyển giao rủi ro giữa những ngời tham gia bảo hiểm với
ngời bảo hiểm. Vào thời điểm bán, sản phẩm chủ yếu mà các nhà bảo hiểm cung cấp
ra thị trờng chỉ là lời hứa, lời cam kết bồi thờng hay trả tiền bảo hiểm của nhà bảo
hiểm khi xảy ra sự cố thuộc phạm vi bảo hiểm. Đó là sản phẩm vô hình mà ngời bán
không chỉ ra đợc màu sắc, kích thớc hay hình dạng cảu nó và ngời mua cũng không
cảm nhận đợc bằng các giác quan của mình nh cầm, nắn, sờ, mó, ngửi hay nếm thử.
Ngời mua buộc phải tin vào ngời bán - nhà bảo hiểm.
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm có hiệu quả về xê dịch. Có nghĩa là lợi ích
đối với khách hàng từ việc chi trả, bồi thờng cũng bấp bênh và xê dịch theo thời
gian. Ngời ta mua bảo hiểm nhân thọ nhng không biết mình sẽ sử dụng khi nào. đối
với loại sản phẩm chỉ mang tính rủi ro thì khách hàng mua bảo hiểm không những
mong muốn mà không bao giờ có ý nghĩ sẽ gặp rủi ro để đợc bồi thờng.
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm "của chu trình sản xuất kinh doanh đảo ng-
ợc". Các doanh nghiệp bảo hiểm không phải bỏ vốn trớc mà nhận phí bảo hiểm trớc
của ngời tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ sau với bên đợc bảo
hiểm khi xảy ra sự cố bảo hiểm. Do vậy không thể tính đợc chính xác hiệu quả của
một sản phẩm bảo hiểm vào thời điểm bán sản phẩm.
5
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
- Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm dễ bắt chớc. Một hợp đồng bảo hiểm dù là
bản gốc cũng không đợc cấp bằng phát minh sáng chế và không đợc bảo hộ về bản
quyền. Về lý thuyết, mọi doanh nghiệp bảo hiểm đều có thể bán một cách hợp pháp
những hợp đồng là bản sao chép của đối thủ cạnh tranh ngoại trừ tên và cách thức
tuyên truyền quảng cáo.
Thứ hai, thế giới tâm lý bảo hiểm rất phức tạp. Đó là việc chia sẻ giữa sự an
toàn hợp lý và sự mê tín.
Ngời ta mua bảo hiểm nhân thọ với sự pha trộn của hai cân nhắc, một là hợp
lý trong đề phòng rủi ro, một là biểu lộ sự mê tín. Ngời mua coi việc mua sản phẩm
bảo hiểm nh mua một chiếc bùa hộ mệnh.
Sự pha trộn giữa hai lập luận này đã làm cho ngời bảo hiểm rất khó khăn
trong khi đề cập đến vấn đề bảo hiểm với khách hàng và đánh giá chính xác mức độ
đảm bảo cần thiết. Nghĩa là, ngời bảo hiểm sẽ bị chi phối giữa việc thoả mãn ngay
nhu cầu cho khách hàng, những đảm bảo tối thiểu - phí thấp, và việc đề nghị các bảo
đảm cho an toàn cần thiết cái mà làm cho ngời bảo hiểm khó có thể khai thác đợc do
phạm vi bảo đảm rộng và phí cao.
Thứ ba, mối quan hệ giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm đợc ghi nhận
nh là một sự "nghi ngờ kép".
- Về phía ngời đợc bảo hiểm: họ nhìn nhận ngời bảo hiểm đồng thời là hai ng-
ời - ngời bảo trợ và ngời thu thuế.
Ngời đợc bảo hiểm tìm kiếm và thấy ở ngời bảo hiểm nh là một nhà t vấn và
đa ra những giải pháp để giải quyết những vấn đề lớn nh: tơng lai của con cái họ, thu
nhập của gia đình hay thu nhập của chính họ khi về hu.
Nhng đồng thời, ngời đợc bảo hiểm lại coi ngời bảo hiểm nh là ngời thu thuế.
Bởi lẽ xuất phát từ khái niệm: "hiệu quả xê dịch" mà ngời tiêu dùng cảm thấy việc
nộp phí trong thời gian dài không đem lại hiệu quả gì nếu không có sự kiện bảo
hiểm xẩy ra.
- Về phía nhà bảo hiểm: ở một khía cạnh nào đó, họ luôn có thái độ ngờ vực
khách hàng của mình. Khi bán bảo hiểm, họ luôn nghi ngờ rằng ngời tham gia có
khai đúng tình trạng sức khỏe của anh ta hay không? Khi thiệt hại xảy ra, liệu ngời
6
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
bị hại có khai báo đúng sự thực hay không? Chính thái độ này đã dẫn đến việc c xử
với khách hàng bị thiệt hại nh một "công an", trớc tiên là trấn áp.
3.Đặc trng và một số loại sản phẩm bhnt
a. Đặc trng của sản phẩm bảo hiểm nhân thọ.
Trớc hết ta phân biệt những điểm khác biệt giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo
hiểm phi nhân thọ:
Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọ
1. Phạm vi bảo hiểm Con ngời Tài sản
Con ngời
Trách nhiệm dân sự
2. Thời hạn bảo hiểm Dài hạn 5-10 năm hoặc suốt
đời
Thờng là một năm
3.Phí bảo hiểm
a. Nhân tố ảnh hởng - Thời gian tham gia
- Số tiền bảo hiểm
- Tỷ lệ lãi kỹ thuật
- Xác suất tử vong
- Xác suất rủi ro
- Số tiền bảo hiểm
- Chế độ bảo hiểm
b.Số lần đóng phí Phí đóng theo tháng, quý, 6
tháng hay 1 năm
Thờng đóng phí một lần
sau khi ký hợp đồng
4. Quyền lợi bảo hiểm Chi trả tiền bảo hiểm trong
những trờng hợp:
- Chết
- Thơng tật toàn bộ vĩnh viễn
- Hết hạn hợp đồng
Chỉ đợc bồi thờng tổn thất
trong giới hạn hợp đồng
khi có tổn thất xảy ra.
5. Tính chất Vừa mang tính chất rủi ro
vừa mang tính tiết kiệm. Tất
cả mọi ngời tham gia đều đ-
ợc nhận số tiền bảo hiểm
Chỉ mang tính rủi ro.
Chỉ một số ít ngời đợc
nhận số tiền bảo hiểm khi
gặp rủi ro thuộc trách
nhiệm bảo hiểm.
Qua bảng so sánh giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ trên, ta
thấy bảo hiểm nhân thọ có một số đặc trng sau:
7
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Thứ nhất: có sự phức tạp trong các mối quan hệ giữa ngời ký, ngời đợc bảo
hiểm và ngời đợc hởng quyền lợi bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ.
Các loại bảo hiểm khác ngoài bảo hiểm nhân thọ đều đề phòng các hậu quả
của một sự cố không lờng trớc. Ngời ta cũng biết đợc ai là ngời đợc hởng quyền lợi
của hợp đồng, chẳng hạn là nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của sự cố.
Đối với bảo hiểm nhân thọ, trong trờng hợp tử vong, ngời đợc hởng quyền bảo
hiểm không phải là nạn nhân của sự cố. Ngời đợc bảo hiểm chết, ngời đợc hởng là
ngời có mối quan hệ thân thuộc với ngời đợc bảo hiểm. Ngời ta thấy rằng điều này
đã làm hạn chế đến sự tự do của ngời đợc bảo hiểm. Ngời đợc bảo hiểm không phải
lúc nào cũng có thể tự do thay đổi ngời đợc thừa hởng vì một số ngời khác cũng
cũng có thể đợc thừa hởng từ ngời này. Trờng hợp này có thể xảy ra đối với bảo
hiểm trong trờng hợp sống nhng rất hiếm. Trong bảo hiểm nhân thọ, các mối quan
hệ giữa ngời ký, ngời đợc bảo hiểm và ngời đợc hởng rất phức tạp và mang tính
nguyên tắc hơn rất nhiều so với các loại hình bảo hiểm khác.
Thứ hai, bảo hiểm nhân thọ có tính đa mục đích. Trong khi các loại hình bảo
hiểm phi nhân thọ có một mục đích là bồi thờng cho các hậu quả của một sự cố tiêu
cực, không lờng trớc thì bảo hiểm nhân thọ lại có nhiều mục đích khác nhau: tạo lập
một quỹ dự phòng cho tơng lai để con cái học tập hay lập nghiệp, lập ra một quỹ hu
trí cho bản thân khi về già, để lại một khoản tiền cho ngời thân khi tử vong, dành
khoản tiền để chi tiêu cho một mục đích trong tơng lai.
Thứ ba, trong bảo hiểm con ngời nói chung và bảo hiểm nhân thọ nói riêng,
hầu hết các trờng hợp không áp dụng nguyên tắc bồi thờng mà áp dụng nguyên tắc
khoán. Bởi lẽ:
+ Trong trờng hợp tử vong, nhà bảo hiểm sẽ trả số tiền bảo hiểm khi ngời đợc
bảo hiểm chết. Nhng không thể xác định đợc số tiền này một cách hoàn toàn khách
quan vì khái niệm giá cả không thể áp dụng cho con ngời đợc. Tính mạng của con
ngời là vô giá.
+ Một ngời đợc hởng bảo hiểm muốn gia đình hay ngời thân của anh ta hởng
một khoản tiền nhất định nào đó tuỳ thuộc vào thu nhập hoàn cảnh gia đình của
mình Anh ta có quyền ấn định khoản tiền bồi thờng vào thời điểm ký hợp đồng với
nhà bảo hiểm. Nh vậy bảo hiểm trong trờng hợp tử vong không nhằm vào bồi thờng
một thiệt hại. Hơn nữa, ttrong nhiều loại hình bảo hiểm con ngời, biến cố dẫn đến
8
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
nghĩa vụ của ngời bảo hiểm không có bản chất thiệt hại. Do vậy khái niệm thiệt hại
không thể sử dụng trong bảo hiểm con ngời.
Nhìn chung, bảo hiểm con ngời dẫn đến các khoản trợ cấp khoán mà số tiền
đợc ấn định trớc và tách biệt với khái niệm bồi thờng. Đó là:
Nguyên tắc khoán đợc áp dụng trong hầu hết các loại hình bảo hiểm con ngời.
Loại trừ trờng hợp hoàn trả các khoản chi phí y tế, bị bệnh hoặc tai nạn, bảo hiểm ở
đây mang tính chất bồi thờng vì nhà bảo hiểm bồi thờng cho ngời đợc bảo hiểm giá
của sự chăm sóc thuộc trách nhiệm của anh ta.
Thứ t, trong bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền.
Cùng một lúc, khách hàng có thể tham gia nhiều loại hình bảo hiểm con ngời
và nếu có xảy ra sự cố nào đó thuộc phạm vi bảo hiểm của nhiều hợp đồng thì họ đ-
ợc nhận tất cả các khoản bồi thờng từ các hợp đồng khác nhau. Ngời đợc hởng
quyền lợi từ bảo hiểm con ngời có thể đồng thời nhận đợc các khoản bồi thờng từ
các hợp đồng mà họ tham gia và khoản bồi thờng của ngời gây ra thiệt hại. Trong tr-
ờng hợp này, không có sự khiếu nại của nhà bảo hiểm (nhà bảo hiểm bồi thờng cho
các hợp đồng do ngời bị tai nạn tham gia) đối với ngời thứ ba (ngời gây ra thiệt hại)
và nhà bảo hiểm của anh ta.
Duy nhất trong bảo hiểm nhân thọ cho phép đảm bảo cùng một lúc hai sự cố
đối lập nhau là "tử vong và sống".
Thứ năm, trong bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc đóng góp.
Nguyên tắc này chỉ áp dụng trong bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm
thiệt hại. Theo nguyên tắc đóng góp thì công ty bảo hiểm khi đã đền bù cho ngời đ-
ợc bảo hiểm có quyền gọi các công ty bảo hiểm khác chia sẻ tổn thất trong trờng
hợp:
+ Có hai hợp đồng bồi thờng có hiệu lực trở lên
+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các quyền lợi chung
+ Các hợp đồng đều bảo hiểm cho các rủi ro chung
Nhng bảo hiểm nhân thọ là loại hình bảo hiểm con ngời nên ngời tham gia
bảo hiểm có quyền nhận quyền lợi của mọi hợp đồng mà họ tham gia. Hơn nữa, con
ngời là vô giá nên không áp dụng nguyên tắc này.
9
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Nh vậy, nếu bảo hiểm nhân thọ có những điểm tơng đồng với các loại hình
bảo hiểm con ngời thì nó lại có những khác biệt với các loại hình bảo hiểm phi nhân
thọ khác.
b.Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.
ở các nớc trên thế giới, hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ đang bán 4
loại hình sản phẩm bảo hiểm nhân thọ chính:
- Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn.
- Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.
- Bảo hiểm trợ cấp hu trí.
- Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.
* Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn:
Bảo hiểm sinh mạng có thời hạn, đúng nh tên gọi của nó nhà bảo hiểm nhận
bảo hiểm đối với ngời tham gia bảo hiểm trong một thời gian nhất định gọi là thời
hạn bảo hiểm. Số tiền bảo hiểm chỉ đợc thanh toán trong trờng hợp ngời đợc bảo
hiểm tử vong trong thời hạn bảo hiểm. Nếu ngời đợc bảo hiểm sống qua thời hạn bảo
hiểm sẽ không đợc thanh toán bất cứ khoản gì. Độ dài của thời hạn bảo hiểm rất
khác nhau. Tuy nhiên, ngày nay thời hạn bảo hiểm của các sản phẩm bảo hiểm sinh
mạng có thời hạn có khi dới một năm.
* Bảo hiểm nhân thọ trọn đời:
Đây là loại hình có thời hạn bảo hiểm dài hạn và số tiền bảo hiểm chỉ đợc trả
khi ngời đợc bảo hiểm chết hay sống đến 99 tuổi tuỳ thuộc vào sự kiện nào đến trớc.
Bảo hiểm nhân thọ trọn đời kết hợp yếu tố tiết kiệm với bảo hiểm. Trong khi bảo
hiểm sinh mạng có thời hạn chỉ bao gồm yếu tố rủi ro và không trả thêm bất cứ
quyền lợi nào.
* Bảo hiểm cấp hu trí:
Là loại hình mà phí bảo hiểm đợc đóng ngay một lần hay định kỳ. Sau đó,
công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả trợ cấp định kỳ cho ngời đợc bảo hiểm từ khi
ngời đợc baỏ hiểm về hu cho đến chết.
10
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Ngời ta thờng kết hợp dạng bảo hiểm trợ cấp hu trí với bảo hiểm hu trí. Khi về
hu, ngời đợc bảo hiểm nhận số tiền bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm hu trí và mua
ngay hợp đồng trợ cấp hu trí để đảm bảo cuộc sống khi về hu cho đến khi chết.
* Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp:
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đảm bảo rằng số tiền bảo hiểm đợc trả
mà không quan tâm đến việc ngời đợc bảo hiểm có bị chết trong thời hạn bảo hiểm
hay không với điều kiện ngời đợc bảo hiểm phải đóng phí theo quy định. Mỗi hợp
đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp đều quy định ngày hết hạn bảo hiểm. Vào ngày đó,
công ty bảo hiểm sẽ trả tiền bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm nếu anh ta còn sống.
Nếu ngời đợc bảo hiểm chết trớc khi hết hạn hợp đồng thì số tiền bảo hiểm sẽ đợc
trả cho ngơì đợc hởng lợi vào ngày ngời đợc bảo hiểm bị chết.
Nh vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp trả số tiền bảo hiểm ấn định dù
ngời đợc bảo hiểm vẫn còn sống đến ngày đáo hạn của hợp đồng hoặc chết trớc khi
hết hạn hợp đồng. Phí bảo hiểm cũng không đổi trong suốt thời hạn hợp đồng. Bảo
hiểm nhân thọ hỗn hợp thể hiện rõ sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm.
Dựa trên 4 sản phẩm cơ bản này, các Công ty bảo hiểm nhân thọ khác nhau
thiết kế ra các sản phẩm đặc thù riêng của mình.Chẳng hạn:
Bảo Việt nhân thọ có các sản phẩm nh: bảo hiểm và tiết kiệm thời hạn 5 năm
(NA4/1998) nay là an khang thịnh vợng, bảo hiểm và tiết kiệm thời hạn 10 năm
(NA5/1998) nay là an gia thịnh vợng, an sinh giáo dục (NA6/1998), bảo hiểm trợ
cấp hu trí (ND1/1999)
Prudential có các sản phẩm: phú an khang, phú tích luỹ
11
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Phần II. Thực trạng triển khai hoạt động kinh
doanh tại công ty bảo hiểm nhân thọ hà nội.
I. Lịch sử ra đời và phát triển của công ty bảo hiểm nhân thọ
Hà Nội.
Sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích đặc điểm tình hình kinh
tế-xã hội, dân số Việt Nam, lãnh đạo bộ Tài chính, và công ty Bảo hiểm Việt Nam
nhận định rằng đã đến lúc phải đa sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vào thị trờng Bảo
hiểm Việt Nam. Ngày 20/3/1996, Bộ Tài chính đã có quyết định số 281-TC cho
phép triển khai bảo hiểm nhân thọ. Do bảo hiểm nhân thọ có những nét đặc thù
riêng, nên ngày 22/6/1996, Bộ Tài chính đã ký quyết định số 586/QĐ-TCTC thành
lập công ty bảo hiểm nhân thọ (gọi tắt là Bảo Việt Nhân Thọ) với tên giao dịch quốc
tế là BAOVIET LIFE, trực thuộc Tổng công ty bảo hiểm nhân thọ. Hiện nay, công
ty có trụ sở đặt tại 94-Bà Triệu-Hà Nội.
Công ty chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/8/1996 với số vốn pháp định là
20 tỷ đồng. Trong giai đoạn đầu kể từ ngày thành lập đến 31/12/1997, Công ty tiếp
quản khai thác bảo hiểm nhân thọ trong toàn quốc thông qua hệ thống cộng tác viên
là các công ty bảo hiểm địa phơng từ Bình Thuận trở ra và mạng lới đại lý (đội ngũ
cán bộ khai thác). Ngoài ra Công ty có nhiệm vụ tập huấn, đào tạo nghiệp vụ cho
các công ty địa phơng và các đại lý, xây dựng hoàn thiện hệ thống đại lý chuyên
nghiệp.
Kể từ ngày 1/1/1998, Tổng công ty đã lập riêng một phòng quản lý bảo hiểm
nhân thọ để quản lý toàn bộ tình hình hoạt động tại các công ty bảo hiểm địa phơng.
Vì vậy, bảo hiểm nhân thọ đợc đổi tên thành bảo hiểm nhân thọ hà
nội và chỉ quản lý tình hình hoạt động tại địa bàn Hà Nội và các vùng lân cận nội
thành nh Gia Lâm, Đông Anh.
Nét nổi bật của công ty trong giai đoạn từ 1/8/1996 đến 31/12/1998 là độc
quyền kinh doanh bảo hiểm nhân thọ trên toàn quốc. Nhng kể từ thời diểm 1/1/1999
trở lại đây, công ty bắt đầu chịu sự cạnh tranh của các công ty bảo hiểm nhân thọ
100% vốn nớc ngoài đã triển khai hoạt động tại thị trờng Thành phố Hồ Chí Minh,
đó là CHINFON-MANULIFE (liên doanh hai tập đoàn CHINFON-Đài Loan và
MANULIFE-CANADA) và công ty PRUDENUAL (Anh quốc). Đến ngày
12
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
31/12/1999 thì hai công ty bảo hiểm nhân thọ trên đều đã mở văn phòng đại diện tại
thủ đô Hà Nội và bớc đầu triển khai việc tuyên truyền quảng cáo sản phẩm.
Khi mới đi vào hoạt động, tổ chức bộ máy của công ty còn đơn giản, mỗi
phòng kiêm nhiệm nhiều chức năng. Trải qua một thời gian hoạt động, yêu cầu của
việc hoàn thiện tổ chức bộ máy cho phù hợp với tình hình đợc đặt ra. Hiện nay, cơ
cấu tổ chức của công ty nh sau:
Cơ cấu tổ chức của Công ty bảo việt nhân thọ Hà Nội.
BAN GIáM ĐốC
Phòng
Tổng hợp
Phòng
phát hành
hợp đồng
Phòng
quản lý
đại lý
Phòng
quản lý
hợp đồng
Phòng tài
chính kế
toán
Phòng khai thác BHNT
quận, huyện
Các tổ đại lý
Các đại lý
13
Đề án môn học Phạm T Duy Bảo Hiểm 41B
Phòng đại lý bảo hiểm nhân thọ có nhiệm vụ triển khai quản lý, giám sát các
hoạt động khai thác bảo hiểm nhân thọ và thực hiện các chức năng quản lý hành
chính.
Cơ cấu tổ chức của phòng đại lý bảo hiểm nhân thọ gồm có một trởng phòng
phụ trách chung, có các phó phòng (đối với các phòng lớn), các tổ trởng đại lý và
các đại lý. Hiện nay tổ trởng của công ty thờng quản lý khoảng 10 cán bộ khai thác.
Trởng phòng đại lý bảo hiểm nhân thọ đợc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thởng và kỷ
luật theo sự đề nghị của phòng quản lý đại lý.
Các đại lý cũng nh các trởng phòng, tổ trởng khai thác phải thờng xuyên báo
cáo tình hình hoạt động với Công ty thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của
mình theo quy định của Công ty, tham gia các cuộc họp, hội thảo do Công ty tổ
chức.
II.thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty bảo việt
nhân thọ hà nội
1. những yếu tố ảnh hởng đến việc triển khai hoạt động kinh doanh của công ty
bảo hiểm nhân thọ Hà Nội.
Bảo Việt nhân thọ Hà Nội tự hào là ngời đi đầu trong lĩnh vực bảo hiểm nhân
thọ ở Việt Nam, nhng Công ty vô cùng lo lắng trớc những khó khăn, thách thức mà
ngời đi đầu thờng gặp phải. Do vậy để xây dựng một kế hoạch, chiến lợc phát triển
kinh doanh, đòi hỏi Công ty bảo việt nhân thọ phải chú trọng tới việc phân tích, xem
xét sự tác động theo các chiều hớng khác nhau của các yếu tố trong lĩnh vực, đề ra
các biện pháp nhằm phát huy nhân tố tích cực, hạn chế những ảnh hởng tiêu cực
trong quá trình hoạt động. Với thời gian hoạt động gần 4 năm, việc triển khai hoạt
động bảo hiểm nhân thọ chịu sự tác động của một số nhân tố thể hiện trên hai mặt
sau:
a. Những yếu tố thuận lợi.
- Điều kiện kinh tế: Sau đổi mới, đất nớc ta đạt đợc một số thành tựu quan
trọng, nền kinh tế tiếp tục tăng trởng với tốc độ cao và ngày càng ổn định. Thu nhập
bình quân đầu ngời tăng (dự kiến sẽ đạt 500 USD/ngời vào năm 2000). Theo sự phát
triển của nền kinh tế, đời sống nhân dân, đặc biệt là nhân dân thủ đô ngày càng đợc
cải thiện và đi vào ổn định. Do vậy, nhu cầu tiết kiệm và đầu t tiền nhàn rỗi ngày
càng tăng. Song song với quá trình tăng trởng của nền kinh tế, lạm phát đã đợc kiểm
soát và ổn định (theo thống kê của ngân hàng nhà nớc,tỷ lệ lạm phát năm 1994 là
14,4%; năm 1995 là 12,7% đén năm 1996 còn 4,5% và đến năm 1997 chỉ còn
3,6%), ngời dân có thể tin tởng vào các hình thức đầu t dài hạn trong đó có hình thức
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét