Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến vấn đề đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự

Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
A.LỜI MỞ ĐẦU
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng ngoài cá nhân còn có
pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Và không phải lúc nào các chủ thể đó cũng có thể tự mình tham gia vào
quan hệ pháp luật dân sự, lúc đó cần phải có một người thay mặt chủ thể thực
hiện các giao dịch dân sự đó. Chính vì vậy mà Bộ luật dân sự Việt Nam đã dành
một chương để quy định về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự. Đây là một
chế định truyền thống của Luật Dân sự, thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong
cách thức tham gia quan hệ pháp luật dân sự của các chủ thế. Trong phạm vi bài
nghiên cứu, em xin trình bày một số vấn đề lý luận cũng như thực tiễn liên quan
đến vấn đề đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự, từ đó đưa đên những nhận
thức đúng đắn, rõ ràng về chế định này.
B.NỘI DUNG
1-Lý luận chung
a/Khái niệm đại diện
Theo quy định tại khoản 1 Điều 139 BLDS 2005 thì: “Đại diện là việc một
người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau
đây gọi là người được đại diện) xác lập thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi
thẩm quyền đại diện”.
Như vậy, có thể thấy rằng đại diện là một quan hệ pháp luật dân sự bao
gồm hai bên chủ thể là người đại diện và người được đại diện. Quan hệ đại diện
còn là căn cứ làm phát sinh thêm quan hệ giữa người đại diện với người thứ ba
theo ý chí của người được đại diện và vì lợi ích của người được đại diện. Mọi cá
nhân đều có quyền xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp thông qua người khác. Tuy nhiên với những giao dịch mà pháp
luật quy định cá nhân phải tự mình xác lập, thực hiện thì không được phép đại
1
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
diện như không được ủy quyền cho người khác thực hiện các công việc liên quan
đến yếu tố nhân thân.
b/Đặc điểm của quan hệ đại diện.
Quan hệ đại diện cũng mang đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói
chung. Đó là: Thứ nhất có sự đa dạng về chủ thể tham gia gồm cá nhân, pháp
nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Thứ hai, các chủ thể tham gia luôn quan tâm đến
những lợi ích vật chất hoặc tinh thần nhất định. Thức ba, quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Thứ tư, trách
nhiệm pháp luật mà các chủ thể phải gánh chịu liên quan đến tài sản.
Ngoài những đặc điểm của quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ
đại diện còn có các đặc điểm riêng sau đây:
Đại diện làm phát sinh hai mối quan hệ cùng tồn tại song song: quan hệ
giữa người đại diện và người được đại diện (quan hệ bên trong) và quan hệ giữa
người đại diện với người thứ ba (quan hệ bên ngoài). Trên thực tế vẫn tồn tại
mối quan hệ về lợi ích và trách nhiệm giữa người được đại diện với người thứ ba
(còn gọi là mối quan hệ gián tiếp).
Người đại diện là người nhân danh người được đại diện xác lập quan hệ
với người thứ ba. Người được đại diện là người tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ
quan hệ do người đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện. Người
được đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi dân sự, chưa đủ năng
lực hành vi dân sự nên theo quy định của pháp luật, phải có người đại diện trong
quan hệ pháp luật. Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự có thể ủy quyền
cho người khác là đại diện theo ủy quyền của mính. Các chủ thể khác của quan
hệ pháp luật dân sự là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều hoạt động thông
qua hành vi của những người nhất định có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó.
Mục đích của người đại diện xác lập quan hệ với người thứ ba là vì lợi ích
của người được đại diện. Còn lợi ích của người đại diện, trong quan hệ đại diện
2
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
theo ủy quyền, họ có thể được hưởng tiền thù lao nếu có thỏa thuận, còn trong
quan hệ đại diện theo pháp luật thì đó là nghĩa vụ của người đại diện và không
được hưởng các lợi ích vật chất cụ thể từ quan hệ này.
Quan hệ đại diện có thể được xác định theo quy định của pháp luật, có thể
được xác định theo ý chí của các chủ thể tham gia thông qua giấy ủy quyền hoặc
hợp đồng ủy quyền. Trong phạm vi thẩm quyền đại diện, người đại diện xác lập,
thực hiện các giao dịch dân sự, đem lại quyền và nghĩa vụ cho người được đại
diện.
c/ Ý nghĩa của việc quy định đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự
Đại diện là một công cụ pháp lý hữu hiệu để các chủ thể thực hiện được
tất cả các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình một cách linh hoạt và hiệu quả
nhất. Bởi không phải lúc nào chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự cũng có thể tự
mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Có thể do nguyên
nhân khách quan như chưa đủ độ tuổi luật định, hay bị mắc bện tâm thần làm
mất năng lực hành vi dân sự hay bị hạn chế năng lực hành vi dấn sự. Khi đó hình
thức đại diện theo pháp luật sẽ là một giải pháp giúp họ vẫn được hưởng các
quyền và lợi ích từ các giao dịch thông qua người đại diện của họ. Ngoài ra, một
số người có đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia vào các giao dịch nhưng họ
lại muốn người khác thay họ thực hiện vì lý do thời gian, sức khỏe hay kinh
nghiệm hiểu biết trong lĩnh vực giao dịch đó thông qua việc ký kết hợp đồng ủy
quyền. Còn đối với các chủ thể pháp lý (pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác) mà
quyền lợi mang tính cộng đồng thì việc tham gia giao dịch dân sự bắt buộc phải
thông qua hành vi của con người. Do đó chế định đại diện sẽ tạo điều kiện và
đem lại lợi ích tốt nhất cho các chủ thể khác ngoài cá nhân.
Như vậy, chế định đại diện không chỉ thỏa mãn quyền, lợi ích hợp pháp
của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự mà còn là công cụ pháp lý hữu
hiệu để Nhà nước kiểm soát quan hệ đại diện theo một trật tự chung.
3
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
d/Quy định của pháp luật về đại diện.
Chế định đại diện đã được quy định ngay từ Bộ luật Dân sự đầu tiên của
nước ta – Bộ luật Dân sự 1995. Trong BLDS 1995 thì chế định đại diện được
quy định trong chương VI, phần thứ nhất của bộ luật bao gồm 10 điều từ Điều
148 đến Điều 157.
Đến BLDS 2005 thì chế định đại diện được quy định trong chương VII,
phần thứ nhất của bộ luật, vẫn bao gồm 10 điều từ Điều 139 đến Điều 148.
Trong đó Điều 140 (đại diện theo pháp luật) và Điều 141 (đại diện theo ủy
quyền) là vẫn giữ nguyên so với quy định tương ứng tại BLDS 1995. Các điều
còn lại đều đã được sửa đổi, bổ sung.
2-Các quy định của pháp luật hiện hành về đại diện.
a/Các hình thức đại diện.
* Đại diện theo pháp luật:
Theo Điều 140 BLDS 2005 quy định “Đại diện theo pháp luật là đại diện
do pháp luật quy định hoặc do cơ quan nhà nước quyết định”.
Căn cứ hình thành: Do ý chí của nhà nước. Pháp luật quy định mối quan
hệ đại diện được xác lập dựa trên các mối quan hệ tồn tại sẵn có chứ không phụ
thuộc vào ý chí hay sự định đoạt của các chủ thể.
Người đại diện theo pháp luật theo Điều 141 quy định bao gồm:
- Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
- Người giám hộ đối với người được giám hộ.
- Người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự.
- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của điều lệ pháp nhân hoặc
quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình.
- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với hộ gia đình.
4
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
- Những người khác theo quy định của pháp luật.
Về điều kiện đối với người đại diện và người được đại diện:
Người được đại diện nếu là cá nhân thì phải là người không có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ, người mắc bệnh tâm thần hoăc bệnh khác mà không nhận
thức và làm chủ hành vi của mình, người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng
lực hành vi dân sự. Đây là những đối tượng mà bản thân họ không thể trực tiếp
tham gia vào bất kỳ giao dịch nào nên pháp luật quy định sẵn những chủ thể có
nghĩa vụ bảo về quyền lợi của họ trong việc xác lập và thực hiện các giao dịch
dân sự. Các chủ thể còn lại là một tổ chức nên khi tham gia vào các giao dịch
dân sự bắt buộc phải thông qua người đại diện cụ thể.
Người đại diện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Và để nhận biết
quan hệ đại diện theo pháp luật phải dựa vào các căn cứ:
- Đối với con chưa thành niên căn cứ vào giấy khai sinh.
- Đối với người được giám hộ căn cứ vào xác nhận của Ủy ban nhân dân xã,
phường nơi người giám hộ cư trú.
- Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự căn cứ vào quyết định
của Tòa án khi tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Đối với pháp nhân căn cứ vào Đăng ký kinh doanh, Điều lệ hay Quyết
định thành lập pháp nhân.
- Đối với hộ gia định căn cứ vào Sổ hộ khẩu.
- Đối với tổ hợp tác căn cứ vào hợp đồng hợp tác có xác nhận của Ủy ban
nhân dân xã, phường.
* Đại diện theo ủy quyền:
Khoản 1 Điều 142 BLDS 2005 quy định “Đại diện theo ủy quyền là đại
diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện”.
5
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
Căn cứ xác lập: dựa trên ý chí của hai bên chủ thể, người đại diện và
người được đại diện tự thỏa thuận với nhau về nội dung ủy quyền, phạm vi thẩm
quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền.
Điều kiện của chủ thể tham gia quan hệ đại diện theo ủy quyền: hai bên chủ
thể của quan hệ đại diện theo ủy quyền đều phải có năng lực hành vi dân sự đầy
đủ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 143 BLDS “Người từ đủ 15 tuổi
đến chưa đủ 18 tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp
luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ 18 tuổi trở lên xác lập, thực
hiện”. Đây là một điểm khác biệt so với BLDS 1995, trong BLDS 1995 quy định
“Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế
năng lực hành vi dân sự không được làm người đại diện theo uỷ quyền”.
Đại diện theo ủy quyền có hai loại: đại diện theo ủy quyền của cá nhân và
đại diện theo ủy quyền của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Đối với đại diện
theo ủy quyền của cá nhân thì trong trường hợp vì lý do chủ quan hay khách
quan, cá nhân có thể thông qua một cá nhân khác hoặc một pháp nhân để đại
diện cho họ xác lập các giao dịch dân sự. Đại diện theo ủy quyền của pháp nhân,
hộ gia đình, tổ hợp tác: Đối với pháp nhân, theo khoản 1 Điều 143 BLDS 2005
thì “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho
người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”. Đối với hộ gia đình, theo khoản
1 Điều 107 BLDS “…Chủ hộ có thể ủy quyền cho thành viên khác đã thành niên
làm đại diện cho hộ trong quan hệ dân sự”. Đối với tổ hợp tác, khoản 1 Điều 113
BLDS quy định “Tổ trưởng tổ hợp tác có thể ủy quyền cho tổ viên thực hiện một
số công việc nhất định cần thiết cho tổ”. Như vậy, đối với hộ gia đình và tổ hợp
tác thì người được ủy quyền chỉ có thể là thành viên trong hộ gia đình và tổ hợp
tác. Còn đối với pháp nhân thì phạm vi những người được ủy quyền cho pháp
nhân không được quy định rõ.
6
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
Về hình thức ủy quyền: khoản 2 Điều 142 BLDS 2005 quy định “Hình
thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy
quyền phải được lập thành văn bản”. Hình thức ủy quyền là do các bên tự thỏa
thuận với nhau. Đó có thể là hình thức viết tay thông qua hợp đồng ủy quyền
hoặc giấy ủy quyền, có thể là hình thức miệng. So với BLDS 1995 thì BLDS
2005 quy định hình thức ủy quyền rộng hơn, nó không bắt buộc phải lập thành
văn bản như khoản 2 Điều 151 BLDS 1995. Tuy nhiên để đảm bảo cho việc ủy
quyền có hiệu lực và được công nhận và để cho Tòa án có căn cứ giải quyết các
tranh chấp xảy ra thì các bên phải chứng minh quan hệ ủy quyền đó. Đối với hợp
đồng ủy quyền hoặc giấy ủy quyền thì phải có công chứng, chứng thực. Đối với
ủy quyền bằng miệng thì phải có căn cứ chứng minh quan hệ ủy quyền đó tồn tại
hoặc tất cả các bên quan hệ đều phải thừa nhận có quan hệ ủy quyền.
Ý nghĩa: Đại diện theo ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều
kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều
hình thức khác nhau có thể tham gia vào giao dịch dân sự một cách thuận lợi
nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ích vật chất, tinh thần mà chủ thể
quan tâm.
b/Phạm vi đại diện.
Phạm vi đại diện là giới hạn quyền và nghĩa vụ của người đại diện trong
việc nhân danh người được đại diện xác lập và thực hiện giao dịch dân sự với
một người thứ ba.
Phạm vi đại diện được quy định trong Điều 144 BLDS 2005, theo đó tùy
thuộc vào quan hệ đại diện là đại diện theo pháp luật day đại diện theo ủy quyền
mà phạm vi đại diện là khác nhau:
Đại diện theo pháp luật: “Người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập,
thực hiện mọi giao dịch dân sự vì lợi ích của người được đại diện” (khoản 1 Điều
144). Như vậy, pháp luật cho phép người đại diện theo pháp luật có quyền chủ
7
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
động tối đa trong việc lựa chọn, xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự liên
quan đến người được đại diện nhưng phải xuất phát từ lợi ích của người được đại
diện. Trong trường hợp đại diện cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,
chính vì người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp tham gia giao kết
hợp đồng nên người đại diện chỉ đóng vai trò giám sát, đồng ý hay không đồng ý
cho xác lập giao dịch dân sự.
Đại diện theo ủy quyền: “Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập
theo sự ủy quyền” (khoản 2 Điều 144). Phạm vi thẩm quyền của người đại diện
theo ủy quyền được xác định trong chính văn bản ủy quyền. Người đại diện theo
ủy quyền chỉ được thực hiện các hành vi pháp lý trong khuôn khổ văn bản ủy
quyền quy định.
Để bảo vệ lợi ích chính đáng cho người thứ ba, là người xác lập giao dịch
dân sự với người đại diện, khoản 4 Điều 144 BLDS quy định nghĩa vụ của người
đại diện phải thông báo cho người thứ ba biết về phạm vi thẩm quyền đại diện
của mình. Để ngăn ngừa và loại trừ những giao dịch dân sự được xác lập, thực
hiện có thể đem lại hậu quả bất lợi cho người được đại diện thì “Người đại diện
cũng không được xác lập, thực hiện giao dịch dân sự với chính mình hoặc với
người thứ ba mà mình cũng là người đại diện của người đó, trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác” (khoản 5 Điều 144).
Ý nghĩa của việc xác định phạm vi đại diện: Việc xác định phạm vi đại
diện không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được đại diện mà
còn bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba xác lập giao dịch dân sự với người đại
diện. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người được đại diện với người thứ ba
chỉ phát sinh khi người đại diện xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm
vi đại diện của mình. Ngoài ra đây còn là căn cứ để xem xét tính hiệu lực của
một số giao dịch do người đại diện xác lập, thực hiện. Trường hợp không có
8
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
thẩm quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện thì người đại
diện phải tự chịu trách nhiệm.
* Trường hợp không có thẩm quyền đại diện và vượt quá phạm vi thẩm quyền
đại diện:
Như chúng ta đã biết, giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực
hiện chỉ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người được đại diện trong phạm vi
đại diện. Còn đối với trường hợp giao dịch dân sự do người không có thẩm
quyền đại diện hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền đại diện thì thì hậu quả pháp
lý của nó được quy định trong Điều 145, Điều 146 BLDS 2005.
Giao dịch dân sự do người không có thẩm quyền đại diện xác lập, thực
hiện: Theo khoản 1 Điều 145 BLDS thì giao dịch dân sự do người không có
quyền đại diện xác lập, thực hiện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với
người được đại diện, trừ trường hợp người đại diện hoặc người được đại diện
đồng ý. Người đã giao dịch với người không có quyền đại diện phải thông báo
cho người được đại diện hoặc người đại diện của người đó để trả lời trong thời
gian ấn định. Nếu hết thời hạn này mà không trả lời thì giao dịch đó không làm
phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
Tuy giao dịch dân sự đó không có giá trị đối với người được đại diện
nhưng giao dịch dân sự đã xác lập có giá trị thi hành hay không phụ thuộc vào
quyết định của người đã giao dịch với người không có thẩm quyền đại diện. Nếu
người đã giao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện mà vẫn
xác lập giao dịch thì giao dịch đó không có hiệu lực. Còn nếu người đã giao dịch
không biết hoặc không thể biết về việc không có thẩm quyền đại diện thì: Người
đã giao dịch có thể chấp nhận giao dịch đã xác lập với người không có thẩm
quyền đại diện và có quyền yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện thực
hiện nghĩa vụ trong hợp đồng đối với mình. Người không có thẩm quyền đại
diện vẫn phải chịu trách nhiệm đối với giao dịch mà mình đã xác lập. Hoặc
9
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
người đã giao dịch có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ giao
dịch đã xác lập và yêu cầu người không có thẩm quyền đại diện bồi thường thiệt
hại cho mình (khoản 2 Điều 145).
Giao dịch dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện vượt quá phạm vi
đại diện: Theo khoản 1 Điều 146 thì giao dịch dân sự do người đại diện xác lập,
thực hiện vượt quá phạm vi đại diện không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của
người được đại diện đối với phần giao dịch được thực hiện vượt quá phạm vi đại
diện, trừ trường hợp người được đại diện đồng ý hoặc biết mà không phản đối thì
giao dịch đó vẫn có giá trị đối với người được đại diện. Đối với người đã giao
dịch với người đại diện, nếu họ không biết về việc vượt quá phạm vi đại diện thì
có quyền hoặc yêu cầu người đại diện phải thực hiện nghĩa vụ về phần giao dịch
vượt quá phạm vi đại diện hoặc đơn phương chấm dứt thực hiện hoặc hủy bỏ
giao dịch dân sự đối với phần vượt quá phạm vi đại diện hoặc toàn bộ giao dịch
dân sự và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Còn trường hợp người đã giao dịch với
người đại diện biết hoặc phải biết về việc vượt quá phạm vi thẩm quyền mà vẫn
xác lập giao dịch thì giao dịch đó sẽ vô hiệu. Trường hợp người đại diện và
người giao dịch với người đại diện cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vượt
quá phạm vi đại diện mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách
nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại (khoản 3 Điều 146 BLDS).
c/Chấm dứt đại diện.
Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, quan hệ đại diện không tồn
tại vĩnh viễn mà sẽ phải chấm dứt khi có các sự kiện pháp lý nhất định xảy ra.
Khi chấm dứt đại diện, mọi hậu quả pháp lý phát sinh từ giao dịch dân sự do
người đại diện xác lập, thực hiện đều không có giá trị pháp lý đối với người được
đại diện. Các hình thức đại diện được chấm dứt trong các trường hợp sau:
10
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
* Chấm dứt đại diện theo pháp luật:
Chấm dứt đại diện theo pháp luật của cá nhân: theo quy định tại khoản 1
Điều 147 BLDS thì đại diện theo pháp luật của cá nhân chấm dứt trong các
trường hợp sau:
- Người được đại diện đã thành niên hoặc năng lực hành vi dân sự đã được
khôi phục. Trong trường hợp này người được đại diện đã đủ năng lực hành
vi dân sự để tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ và phải tự chịu trách
nhiệm trước pháp luật.
- Người được đại diện chết làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ trong mọi
quan hệ pháp luật trong đó có quan hệ đại diện.
- Các trường hợp khác do pháp luật quy định như trường hợp người đại diện
của cá nhân không có đủ điều kiện để làm người đại diện.
Chấm dứt đại diện theo pháp luật của pháp nhân: theo khoản 1 Điều 148
BLDS 2005 “Đại diện theo pháp luật của pháp nhân chấm dứt khi pháp nhân
chấm dứt”. Đó là các trường hợp: pháp nhân bị Tòa án tuyên bố phá sản hay có
quyết định giải thể hay bị chia tách, hợp nhất, sáp nhập.
Chấm dứt đại diện theo pháp luật của hộ gia đình, tổ hợp tác: quan hệ đại
diện của tổ hộ gia đình và tổ hợp tác sẽ chấm dứt khi hộ gia đình hoặc tổ hợp tác
đó chấm dứt tồn tại. Ngoài ra còn chấm dứt khi người đại diện theo pháp luật của
hộ gia đình, tổ hợp tác không còn đủ điều kiện đại diện thì sẽ có các chủ thể khác
thay thế vị trí đại diện của họ.
* Chấm dứt đại diện theo ủy quyền:
Theo khoản 2 Điều 147 thì đại diện theo ủy quyền của cá nhân chấm dứt
trong các trường hợp sau đây:
- Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành;
- Người ủy quyền hủy bỏ việc ủy quyền hoặc người được ủy quyền từ chối
việc ủy quyền;
11
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
- Người ủy quyền hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố mất
năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là
đã chết.
Và khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền, người đại diện phải thanh toán
xong các nghĩa vụ tài sản với người được đại diện hoặc với người thừa kế của
người được đại diện.
Theo khoản 2 Điều 148 BLDS 2005 thì đại diện theo ủy quyền của pháp
nhân chấm dứt trong các trường hợp sau:
- Thời hạn ủy quyền đã hết hoặc công việc ủy quyền đã hoàn thành;
- Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân hủy bỏ việc ủy quyền hoặc
người được ủy quyền từ chối việc ủy quyền;
- Pháp nhân chấm dứt hoặc người được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.
Khi chấm dứt đại diện theo ủy quyền, người đại diện phải thanh toán xong
các nghĩa vụ tài sản với pháp nhân hoặc pháp nhân kế thừa.
Có thể thấy các trường hợp chấm dứt đại diện theo ủy quyền của cá nhân
và pháp nhân là tương đối giống nhau. Đối với cả hai trường hợp chấm dứt đại
diện theo ủy quyền của cá nhân và pháp nhân cần phải chú ý:
Thứ nhất, về thời hạn ủy quyền thì do các bên tự thỏa thuận. Nếu các bên
không thỏa thuận cụ thể về thời hạn hoặc pháp luật không quy định thì quan hệ
ủy quyền chỉ kéo dài một năm kể từ ngày xác lập việc ủy quyền (Điều 582
BLDS 2005).
Thứ hai, nếu thời hạn ủy quyền đã hết mà công việc được ủy quyền chưa
hoàn thành thì quan hệ ủy quyền vẫn bị chấm dứt. Do đó các bên cần phải cân
nhắc tính chất công việc ủy quyền để xác định thời hạn ủy quyền phù hợp.
Thứ ba, trường hợp chấm dứt ủy quyền theo ý chí của một bên mà gây
thiệt hại cho chủ thể phía bên kìa thì phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt
12
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
hại đó. Ngoài ra theo điều 589 BLDS 2005 còn quy định trường hợp hợp đồng
ủy quyền chấm dứt khi một trong hai bên tuyên bố đơn phương chấm dứt thực
hiện hợp đồng ủy quyền.
d/Đánh giá chung về các quy định của pháp luật hiện hành về đại diện.
Có thể thấy rằng Bộ luật dân sự 2005 đã quy định khá chặt chẽ, đầy đủ về
vấn đề đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự. Nhà làm luật đã dự liệu, quy
định khá chi tiết các vấn đề có thể phát sinh nhằm hạn chế mức thấp nhất những
khiếm khuyết của chế định này. Vấn đề được đặt ra ở đây không phải là quy định
của pháp luật mà là về thái độ, hành vi của người đại diện khi thay mặt người
được đại diện tham gia các giao dịch dân sự. Khi người đại diện đã thay mặt
người được đại diện tham gia các giao dịch dân sự thì họ có toàn quyền trong
phạm vi đại diện của mình. Do đó sẽ dễ dẫn đến tình trạng lạm quyền, tư lợi, gây
thiệt hại cho người được đại diện vì người được đại diện không thể quản lý hết
được việc đại diện. Vì vậy người được đại diện đặc biệt là trong trường hợp đại
diện theo ủy quyền cần phải cân nhắc, lựa chọn người đại diện thích hợp, đáng
tin cậy và phải có những biện pháp quản lý việc đại diện. Và người đại diện phải
nhận thức rõ vai trò, nghĩa vụ của mình, thực sự có trách nhiệm trong phạm vi
đại diện và phải vì lợi ích của người được đại diện.
3. Thực tiễn áp dụng chế định đại diện.
Trong thực tế, chế định đại diện được áp dụng khá phổ biến trong các
quan hệ dân sự. Và cũng từ đó làm phát sinh nhiều tranh chấp. Những tính huống
thực tế dưới đây sẽ cho thấy một vài tranh chấp điển hình trong thực tế liên quan
đến vấn đề đại diện.
Trước hết, đó là áp dụng chế định trong tố tụng dân sự mà cụ thể là việc
xác định tư cách đương sự.
Tình huống thứ nhất: Vụ án tranh chấp về bảo hiểm xã hội có nội dung
như sau: Bà Nguyễn Thị Sinh và ông Nguyễn Văn Cường có một con chung là
13
Bài tập học kỳ môn Luật dân sự 1
cháu Nguyễn Thị Dung sinh năm 1992. Ông Cường có một con riêng là anh
Nguyễn Thế An sinh năm 1980. Năm 1997 ông Cường và bà Sinh ly hôn. Tháng
3/2000 ông Cường chết. Bảo hiểm tỉnh Yên Bái giải quyết tiền mai táng phí cho
anh An với số tiền bằng 8 tháng lương của ông Cường là 960.000 đồng và lập sổ
trợ cấp tuất hàng tháng cho cháu Nguyễn Thị Dung nhưng do anh An đứng tên
trong sổ lãnh tiền. Bà Nguyễn Thị Sinh đã khởi kiện Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên
Bái yêu cầu được nhận số tiền tuất hàng tháng của ông Cường mà cháu Dung
được hưởng. Bản án sơ thẩm số 01/2004/LĐ-ST ngày 9/12/2004 của Tòa án
nhân dân tỉnh Yên Bái đã xác định: nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Sinh, bị đơn là
Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái. Bản án đã quyết định: buộc Bảo hiểm xã hội tỉnh
Yên Bái trả cho bà Nguyễn Thị Sinh số tiền tuất hàng tháng mà cháu Nguyễn
Thị Dung được hưởng.
Trong vụ án trên, có thể thấy Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã có sự nhầm
lẫn trong việc xác định tư cách đương sự (nguyên đơn). Người được hưởng
quyền lợi ở đây là cháu Dung con bà Sinh và ông Cường. Do cháu Dung mới 12
tuổi mà theo khoản 4 Điều 57 BLTTDS thì “Đương sự là người từ đủ sáu tuổi
đến chưa đủ mười lăm tuổi thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những
người này tại Tòa án do người đại diện hợp pháp của họ thực hiện”. Và bà sinh là
người đại diện theo pháp luật cho cháu Dung theo khoản 1 Điều 141 BLDS. Nên
bà Sinh chỉ là người đại diện cho cháu Dung kiện Bảo hiểm xã hội tỉnh Yên Bái
để đòi quyền lợi cho cháu Dung. Do đó trong bản án phải xác định cháu Dung là
nguyên đơn do bà Sinh – mẹ của cháu Dung là người đại diện. Do xác định sai tư
cách đương sự nên bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái đã quyết định
không chính xác. Nếu theo quyết định của Tòa án thì bà Sinh sẽ là người được sở
hữu số tiền mà cháu Dung được hưởng nhưng thực tế thì bà chỉ là người đại diện
lãnh số tiền hàng tháng. Trong trường hợp này cần phải quyết định: buộc Bảo
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét