Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Ứng dụng quyền chọn chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang
5

thấy, Cuộc khủng hoảng tài chính lần này của Mỹ chính là do chưa quản lý, giám
sát chặt chẽ cơng cụ chứng khốn phái sinh trong lĩnh vực bất động sản.
Mặc dù trong thời gian hiện nay, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, việc
ứng dụng quyền chọn chứng khốn trên thị trường chứng khốn Việt Nam có những
hạn chế nhất định, tuy nhiên xét về mục tiêu dài hạn thì chứng khốn phái sinh vẫn
là cơng cụ khơng thể thiếu đối với những thị trường chứng khốn phát triển. Do vậy,
bên cạnh việc nghiên cứu ứng dụng chứng khốn phái sinh cũng cần chú ý đến cơ
chế giám sát, quản lý chặt chẽ từ cơ quan nhà nước để thị trường chứng khốn phát
triển một cách hiệu quả, có kiểm sốt.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc tham khảo và ứng dụng quyền chọn
chứng khốn vào điều kiện thực tiễn ở nước ta là một bước đi cần thiết cho sự phát
triển của thị trường chứng khốn Việt Nam trong tương lai, đó cũng là lý do tác giả
chọn đề tài “Ứng dụng quyền chọn chứng khốn trên thị trường chứng khốn Việt
Nam hiện nay” làm đề tài cho Luận văn thạc sĩ của mình.
1. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ đặc điểm, vai trò của cơng cụ quyền chọn, chiến
lược phòng ngừa rủi ro bằng quyền chọn, các thành phần của thị trường
quyền chọn.
- Đánh giá thực trạng thị trường chứng khốn Việt Nam và sự cần thiết áp
dụng quyền chọn vào thị trường chứng khốn Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm áp dụng các giao dịch quyền chọn chứng
khốn tại Việt Nam
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu các lý luận về sản phẩm quyền chọn chứng khốn và thị
trường quyền chọn chứng khốn.
- Nghiên cứu q trình hoạt động của thị trường chứng khốn Việt Nam từ
khi thành lập đến giai đoạn hiện nay, thực trạng ứng dụng cơng cụ quyền
chọn trên thị trường chứng khốn Việt Nam.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
6

- Ngồi ra, do có sự giới hạn nên trong khn khổ của đề tài nghiên cứu,
đề tài này khơng đi vào những vấn đề như: các kỹ thuật định giá quyền
chọn….
3. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn này được nghiên cứu trên cơ sở lý thuyết tài chính hiện đại, lý
thuyết quản trị rủi ro tài chính, cùng với phương pháp thống kê, mơ tả,
phân tích và tổng hợp dữ liệu để khái qt hóa lên bản chất của các vấn
đề cần nghiên cứu.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
- Là tài liệu cho các nhà nghiên cứu và các nhà kinh doanh chứng khốn
tham khảo.
- Do hạn chế về thời gian, trình độ và kinh nghiệm, đề tài khơng thể đi sâu
tìm hiểu, khảo sát và phân tích hết các khía cạnh có liên quan đến quyền
chọn. Mong rằng đề tài này sẽ tiếp tục được nghiên cứu, khảo sát, kiểm
chứng đầy đủ hơn và trên cơ sở đó có thể củng cố hoặc bổ sung thêm các
giải pháp, đề xuất nhằm đạt được hiệu q thiết thực và bền vững hơn.
5. Kết cấu của đề tài
- Với phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung chính của Luận văn bao gồm
03 chương:
- Chương 1: Khái qt chung về thị trường quyền chọn và hợp đồng quyền
chọn cổ phiếu
- Chương 2: Kinh nghiệm ứng dụng quyền chọn chứng khốn của một số
nước trên thế giới và những quan điểm về ứng dụng quyền chọn chứng
khốn tại Việt Nam.
- Chương 3: Ứng dụng quyền chọn chứng khốn trên thị trường chứng
khốn Việt Nam.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
7

1 CHƯƠNG 1: KHÁI QT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG QUYỀN
CHỌN VÀ HỢP ĐỒNG QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU
1.1 SỰ RA ĐỜI THỊ TRƯỜNG QUYỀN CHỌN:
Những giao dịch quyền chọn bán và quyền chọn mua đầu tiên được ghi nhận
là ở các quốc gia châu Âu và Mỹ đầu thế kỷ 18. Vào đầu những năm 1900, hiệp hội
những nhà mơi giới và kinh doanh quyền chọn (option) ra đời. Mục đích của hiệp
hội này là cung cấp kỹ thuật nhằm đưa những người mua và người bán lại với nhau.
Nhà đầu tư muốn mua quyền chọn sẽ liên hệ với một cơng ty thành viên, cơng ty
này sẽ tìm người bán quyền chọn từ khách hàng của cơng ty hoặc của các cơng ty
thành viên khác. Nếu khơng có người bán, cơng ty đó sẽ tự phát hành quyền chọn
với giá cả thích hợp. Thị trường hoạt động theo cách này gọi là thị trường phi tập
trung OTC (over-the-counter), các nhà kinh doanh khơng gặp nhau trên sàn giao
dịch.
Tuy nhiên, thị trường quyền chọn phi tập trung này bộc lộ rõ nhiều khiếm
khuyết. Thứ nhất, do khơng có thị trường thứ cấp, thị trường này khơng cung cấp
cho người nắm giữ quyền chọn cơ hội bán quyền chọn cho một người khác trước
khi quyền chọn đáo hạn. Các quyền chọn được thiết kế để nắm giữ cho đến khi đáo
hạn, và rồi chúng sẽ được thực hiện hoặc để cho hết hiệu lực. Vì vậy, hợp đồng
quyền chọn có rất ít, thậm chí khơng có tính thanh khoản. Thứ hai, việc thực hiện
hợp đồng của người bán chỉ được đảm bảo bởi cơng ty mơi giới kiêm kinh doanh.
Nếu người bán hoặc cơng ty thành viên của Hiệp hội các nhà kinh doanh quyền
chọn mua và quyền chọn bán bị phá sản, người nắm giữ quyền chọn coi như tổn
thất hồn tồn. Thứ ba, phí giao dịch tương đối cao, một phần cũng do hai ngun
nhân kể trên.
Năm 1973, đã có một thay đổi mang tính cách mạng trong thế giới quyền
chọn. Sàn giao dịch Chicago Board of Trade (CBOT) – Sàn giao dịch lâu đời nhất
và lớn nhất về các Hợp đồng giao sau hàng hóa, đã tổ chức một sàn giao dịch dành
riêng cho giao dịch quyền chọn cổ phiếu. Sàn giao dịch này được đặt tên là Chicago
Board of Options Exchange (CBOE), mở cửa giao dịch quyền chọn mua vào ngày
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
8

26/04/1973 và giao dịch các hợp đồng quyền chọn bán trong tháng 06/1977. Vào
thời kỳ đó chủ yếu trao đổi các cổ phiếu thương mại đơn lẻ.
CBOE đã tạo ra một thị trường trung tâm cho các Hợp đồng quyền chọn.
Bằng cách tiêu chuẩn hóa các kỳ hạn và điều kiện của Hợp đồng quyền chọn, nó đã
làm tăng tính thanh khoản cho thị trường. Nói cách khác, một nhà đầu tư đã mua
hoặc bán quyền chọn trước đó có thể quay trở lại thị trường trước khi hợp đồng đáo
hạn và bán hoặc mua quyền chọn, và như vậy đã bù trừ vị thế ban đầu. Tuy nhiên,
quan trọng nhất CBOE đã bổ sung một trung tâm thanh tốn đảm bảo cho người
mua rằng người bán sẽ thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng. Vì vậy, khơng giống như
trên thị trường phi tập trung, người mua quyền chọn khơng còn phải lo lắng về rủi
ro tín dụng của người bán. Điều này khiến quyền chọn trở nên hấp dẫn đối với cơng
chúng.
Tiếp theo đó, thị trường chứng khốn Mỹ (AMEX) và thị trường chứng
khốn Philadelphia (PHLX) bắt đầu thực hiện giao dịch quyền chọn vào năm 1975,
thị trường chứng khốn Pacific (PSE) thực hiện giao dịch vào năm 1976. Khoảng
đầu thập niên 80, khối lượng giao dịch tăng lên nhanh chóng đến mức mà số lượng
cổ phiếu theo Hợp đồng quyền chọn bán hàng ngày vượt khối lượng giao dịch cổ
phiếu trên thị trường chứng khốn New York.
Năm 1982, quyền chọn bắt đầu giao dịch trên các hợp đồng giao sau với trái
phiếu chính phủ, và loại giao dịch này phát triển rất nhanh. Giao dịch trên thị
trường đấu giá mở, việc mua bán quyền chọn cung cấp rất nhiều cơng cụ để đầu cơ
và phòng hộ giá cho cộng đồng thương mại. Sự thành cơng của hợp đồng quyền
chọn đã mở lối cho việc ra đời quyền chọn trên vơ số các hàng hố tiêu dùng, như
ngơ, đậu nành và các sản phẩm khác.
Khi xã hội ngày càng phát triển, giao dịch quyền chọn ngày càng trở nên phổ
biến hơn, lan rộng sang Anh, Brazil, Đức, Pháp, Nhật Bản, Singapore, Hồng Kơng
và Australia. Việc tồn cầu hố thị trường thế giới đã tạo ra nhu cầu liên kết điện tử
và thương mại 24/24 trong ngày. Thị trường Mỹ đã đáp ứng nhu cầu này bằng cách
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
9

tạo ra những sản phẩm giao dịch quốc tế, mở rộng giờ giao dịch và triển khai một
sàn giao dịch điện tử.
Những hệ thống đáng chú ý nhất là GLOBEX (được CME phát triển) và
Project A (được CBOT) phát triển. Ở Đức, Deutsche Terminborse Exchange đã bỏ
kiểu giao dịch đấu giá mở, thay vào đó vận hành sàn giao dịch điện tử. Trên hệ
thống GLOBEX, các nhà đầu tư cá thể có thể giao dịch dựa trên chỉ số SP500,
SP500 mini và NASDAQ 100 và các hợp đồng con. Các nhà đầu tư cá thể cũng có
thể mua bán ngoại hối trên GLOBEX.
Trên hệ thống Project A (hiện tại là hệ thống Eurex (Tháng 8/2000, CBOT
xây dựng Eurex, tất cả các giao dịch trên Project A đều được thực hiện tại Eurex)),
các nhà đầu tư cá thể có thể mua bán trái phiếu T-bonds và tín phiếu, quyền chọn,
và tất cả các sản phẩm ngũ cốc trên CBOT. Giao dịch điện tử được thiết kế để hỗ
trợ việc đấu giá mở ngồi giờ giao dịch chính thức.
Hiện nay, chủ yếu các hợp đồng quyền chọn được mua bán rộng rãi tại văn
phòng thị trường chứng khốn (Chicago board Option Exchange–CBOE,
Philadelphia Exchange–PHLX, The American Stock Exchange–AMEX, The
Pacific Stock Exchange–PSE, The New York Stock Exchange–NYSE ). Việc mua
bán dưới hình thức hợp đồng chọn tại các văn phòng thị trường chứng khốn có
nhiều khía cạnh giống như mua bán hợp đồng tương lai. Văn phòng thị trường
chứng khốn phải xác định rõ các điều kiện, mức độ, thời gian đáo hạn và ấn định
giá của hợp đồng quyền chọn được mua bán trên thị trường của họ.Và để giảm rủi
ro của việc thực hiện hợp đồng, lúc mua sản phẩm (cổ phiếu chẳng hạn), người đầu
tư mở tài khoản dự trữ bắt buộc với người mơi giới của họ, mức độ dự trữ tuỳ thuộc
vào loại hàng hố được giao dịch và tuỳ vào từng tình huống cụ thể. Đồng thời,
cũng có những quy định để kiểm sốt thị trường hợp đồng quyền chọn, như những
qui định kiểm sốt ứng xử của thương nhân, của những người tạo lập thị trường.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
10

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ QUYỀN CHỌN:
1.2.1 Quyền chọn:
Quyền chọn là một Hợp đồng giữa hai bên – người mua và người bán – trong
đó cho người mua quyền nhưng khơng phải là nghĩa vụ, để mua hoặc bán một tài
sản nào đó vào một ngày trong tương lai với giá đả đồng ý trong ngày hơm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán một số tiền gọi là phí quyền chọn.
Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều
khỏan của Hợp đồng nếu người mua muốn thế. Một quyền chọn để mua tài sản gọi
là quyền chọn mua (call). Một quyền chọn để bán tài sản gọi là quyền chọn bán
(put).
1.2.2 Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu:
Hợp đồng quyền chọn cổ phiếu là hợp đồng quyền chọn mà chứng khốn
được ấn định trong quyền chọn là cổ phiếu. Cổ phiếu được ấn định trong hợp đồng
quyền chọn sau đây được gọi là cổ phiếu cơ sở (underlying stock).
1.2.3 Phân loại quyền chọn:
v Căn cứ vào quyền của người sở hữu quyền chọn: Có hai loại là quyền chọn
mua và quyền chọn bán.
1.2.3.1 Quyền chọn mua (sau đây gọi tắt là call):
Quyền chọn mua là quyền chọn, trong đó người sở hữu call có quyền mua
chứng khốn cơ sở với giá thực hiện bất cứ khi nào cho đến ngày đáo hạn.
Ví dụ: Một người đầu tư muốn mua một scall cổ phiếu IBM, anh ta đặt lệnh
như sau: Buy 1 IBM Jun 90 Call at 6 ½. Có nghĩa là quyền chọn này cho phép
khách hàng mua 100 cổ phiếu IBM với giá $90 một cổ phiếu bất cứ lúc nào trong
khoảng thời gian từ khi mua được cho đến tháng Sáu. Để có được quyền này anh ta
phải trả mức phí $650 (100*6 ½ ) cho một quyền chọn. Và khi anh ta muốn thực
hiện quyền của mình là mua cổ phiếu IBM thì người bán call có nghĩa vụ bán cổ
phiếu IBM cho anh ta với giá $90 một cổ phiếu.
Như vậy, người sở hữu Call có quyền mua, và người bán Call có nghĩa vụ bán.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
11

1.2.3.2 Quyền chọn bán (sau đây gọi tắt là put):
Quyền chọn bán là quyền chọn, trong đó người sở hữu quyền chọn put có
quyền bán chứng khốn cơ sở với giá thực hiện bất cứ khi nào cho đến ngày đáo
hạn.
Ví dụ: Một người đầu tư muốn mua một put cổ phiếu IBM, anh ta đặt lệnh sau:
Buy 1 IBM Jan 100 Put at 7 ¼. Quyền chọn này cho phép người sở hữu bán 100 cổ
phiếu của IBM ở giá $100 một cổ phiếu từ lúc mua được quyền chọn cho đến tháng
Giêng. Để có được quyền này anh ta phải trả mức phí là $725 cho một quyền chọn
(100*7 ¼ ). Người bán quyền chọn có nghĩa vụ mua 100 cổ phiếu IBM với giá
$100 một cổ phiếu nếu người sở hữu u cầu thực hiện quyền chọn trong thời hạn
của quyền chọn. Với nghĩa vụ này người bán nhận được số tiền phí là $725 cho một
quyền chọn.
Tóm lại, người sở hữu Put có quyền bán, và người bán Put có nghĩa vụ mua.
v Căn cứ vào thời gian thực hiện quyền chọn: Có hai loại là quyền chọn kiểu Mỹ
và quyền chọn kiểu châu Âu.
1.2.3.3 Quyền chọn kiểu Mỹ (American style option):
Quyền chọn kiểu Mỹ là quyền chọn cho phép người nắm giữ quyền chọn thực
hiện hợp đồng quyền chọn vào bất kỳ ngày nào trong thời hạn hợp đồng và trước
ngày đáo hạn.
1.2.3.4 Quyền chọn kiểu châu Âu (European style Option):
Quyền chọn kiểu châu Âu là quyền chọn chỉ cho phép người nắm giữ thực
hiện hợp đồng quyền chọn vào ngày đến hạn. Việc thanh tốn giữa hai bên thực tế
xảy ra sau khi hợp đồng đến hạn từ 1 đến 2 ngày làm việc, giống trường hợp ngày
giá trị trong các giao dịch giao ngay (spot).
Sự phân biệt giữa hai loại quyền chọn kiểu châu Âu và quyền chọn kiểu Mỹ
khơng liên quan đến vị trí địa lý. Đa số hợp đồng quyền chọn được trao đổi chính
yếu trên thị trường Mỹ. Tuy nhiên, quyền chọn kiểu châu Âu có đặc điểm dễ phân
tích hơn quyền chọn kiểu Mỹ và một số thuộc tính trong quyền chọn kiểu Mỹ
thường được suy ra từ quyền chọn kiểu châu Âu.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
12

1.3 CÁC THÀNH PHẦN TRÊN SÀN GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CỔ
PHIẾU CHICAGO BOARD OF OPTIONS EXCHANGE (CBOE):
Sàn giao dịch quyền chọn là nơi những quyền chọn được niêm yết và giao dịch.
Việc giao dịch quyền chọn cổ phiếu (và các loại quyền chọn chứng khốn khác)
trên sàn giao dịch cũng tương tự như việc giao dịch cổ phiếu. Mỗi quyền chọn được
ấn định tại một địa điểm cố định trên sàn và mọi giao dịch của quyền chọn này diễn
ra tại trạm đó.
Các quyền chọn giao dịch tại sàn (còn gọi là các quyền chọn niêm yết) do
một cơ quan của sàn giao dịch có tên gọi là “Cơng ty thanh tốn bù trừ hợp đồng
quyền chọn” (Options Clearing Corporation – OCC) phát hành. Mọi giao dịch về
quyền chọn đều được diễn ra thơng qua hệ thống máy vi tính và được thể hiện trong
tài khoản của các mơi giới quyền chọn tại sàn, và khơng có bất kỳ chứng thư nào
được phát hành trong các giao dịch này.
1.3.1 Các nhân viên trên sàn giao dịch
Có hai hệ thống giao dịch quyền chọn đang được áp dụng hiện nay, đó là: hệ
thống giao dịch dựa vào các chun gia và hệ thống giao dịch dựa vào những người
tạo thị trường và nhân viên lưu trữ lệnh. Tùy vào việc ứng dụng hệ thống giao dịch
nào mà mỗi sàn giao dịch có những thành viên cụ thể. Nhiệm vụ cụ thể của các
nhân viên như sau:
1.3.2 Người tạo thị trường (Maket maker):
Người tạo thị trường là một trong những thành viên của sàn giao dịch, họ mua
bán bất cứ loại quyền chọn cổ phiếu nào theo u cầu của các viên chức sở giao
dịch hoặc theo u cầu của một mơi giới nào đó đang có lệnh mua bán của khách
hàng. Khi được u cầu, người tạo thị trường thường đưa ra cả giá hỏi mua (bid) và
giá chào bán (adk). Giá hỏi mua là giá mà tại đó người tạo thị trường sẵn sàng mua
và giá chào bán là giá mà tại đó người tạo thị trường sẵn sàng bán. Vào lúc giá hỏi
mua và giá chào bán được niêm yết, người tạo thị trường khơng biết rằng người
kinh doanh đã u cầu niêm yết đang muốn mua hay muốn bán. Giá chào bán ln
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
13

cao hơn giá hỏi mua. Chênh lệch giữa giá mua và giá bán khơng được quy định cụ
thể nhưng ln có một giới hạn trên.
Ví dụ: mức chênh lệch khơng được cao hơn 0.25$ đối với các quyền chọn cso
giá thấp hơn 0.50$; khơng được cao hơn 0.50$ đối với các quyền chọn có giá từ
0.50$ đến 10$…
Với đặc điểm mua bán nêu trên người tạo thị trường tự tạo ra lợi nhuận cho
mình từ chênh lệch giá mua và giá bán. Đồng thời, họ cũng làm tăng khả năng linh
hoạt cho thị trường vì sự có mặt của họ trên sàn giao dịch đảm bảo lệnh mua và
lệnh bán có thể ln ln được thực hiện ở một vài mức giá một cách nhanh chóng.
1.3.3 Nhân viên lưu trữ lệnh (Order book official):
Nhân viên lưu trữ lệnh có nhiệm vụ lưu giữ các lệnh giới hạn và duy trì các
lệnh thị trường một cách trật tự, họ khơng kinh doanh cho tài khoản của họ.
Quy trình lưu giữ lệnh được thực hiện như sau: khi người mơi giới trên sàn
nhận được lệnh giới hạn, anh ta sẽ chuyển lệnh này đến nhân viên lưu trữ lệnh.
Nhân viên này đưa lệnh vào máy tính cùng với những lệnh giới hạn khác để đảm
bảo rằng ngay khi đạt đến giá giới hạn, lệnh sẽ được thực hiện. Những thơng tin về
tất cả các lệnh giới hạn chưa được thực hiện được cơng bố cho tất cả các nhà kinh
doanh. Trên hệ thống giao dịch dựa vào các chun gia thì khơng có các nhân viên
lưu trữ lệnh vì như trên đã nói, các chun gia chính là những người lưu trữ lệnh.
1.3.4 Chun gia (Specialist):
Theo hệ thống giao dịch dựa vào chun gia, nhân viên với chức danh là
chun gia có nhiệm vụ như người tạo thị trường và giữ hồ sơ về lệnh giới hạn.
Khơng giống như các nhân viên lưu trữ lệnh, chun gia khơng thơng tin về lệnh
giới hạn sẵn có cho những nhà kinh doanh khác.
Cũng giống như các chun gia trên sàn giao dịch cổ phiếu, các chun gia
của sàn giao dịch quyền chọn vừa thực hiện các lệnh do các người mơi giới đưa đến,
vừa kinh doanh kiếm lời cho chính họ. Nhiệm vụ của các chun gia là duy trì thị
trường hoạt động ổn định và có trật tự.
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Trang
14

1.3.5 Nhà mơi giới trên sàn (Floor boker):
1.3.5.1 Nhà mơi giới trên sàn:
Là những người mơi giới làm việc trên sàn giao dịch, thực hiện giao dịch cho
khách hàng của cơng ty mình. Khi nhà đầu tư đặt lệnh cho cơng ty chứng khốn,
các lệnh này sẽ được chuyển đến nhân viên mơi giới trên sàn. Nhà mơi giới tiến
hành giao dịch với các nhà mơi giới khác trên sàn và với những người tạo thị trường
để thực hiện lệnh nhận được.
1.3.5.2 Nhà mơi giới tự do:
Trên sàn giao dịch ngồi những nhân viên mơi giơi làm việc cho các cơng ty
chứng khốn còn có những nhà mơi giới tự do là những người thực hiện các lệnh
của bất kỳ cơng ty chứng khốn nào th họ để hưởng h hồng.
1.3.6 Lệnh và các loại lệnh giao dịch quyền chọn
1.3.6.1 Lệnh giao dịch quyền chọn
Khi một khách hàng muốn mua hay bán một loại quyền chọn nào đó, anh ta
đến cơng ty chứng khốn nơi mơi giới của anh ta làm việc hoặc gọi điện cho mơi
giới của anh ta để đặt lệnh. Sau khi nhận lệnh, mơi giới tại cơng ty chứng khốn
truyền lệnh đến mơi giới của cơng ty tại sàn. Tại sàn giao dịch, mơi giới tại sàn
nhận lệnh và đặt lệnh mua bán cho các chun gia.
Lệnh mua bán quyền chọn tại sàn giao dịch là lệnh điện tử, được lưu trong
máy vi tính, và khơng có phiếu lệnh như các giao dịch thơng thường. Một lệnh mua
hay bán quyền chọn chứa đựng các thơng tin sau:
o Số tài khoản của khách hàng, của nhân viên đại diện có đăng ký
o Sàn giao dịch nơi quyền chọn được giao dịch
o Cách thức nhận lệnh (method of reciept of the order)
o Mua hay bán
o Loại quyền chọn (put hay call)
o Số lượng quyền chọn muốn mua hay bán
o Cổ phiếu cơ sở, tháng đáo hạn, giá thực hiện
Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét