Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP


3
nhất là từ khi xảy ra vụ PMU 18. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực
này khá phong phú dưới các giác độ và nội dung khác nhau. Trong đó, điểm
chung của các công trình này là tập trung làm rõ vai trò, đặc điểm của vốn
ODA trong nền kinh tế cũng như đối với một ngành; mô tả, đánh giá quy
trình vay vốn giải ngân và sử dụng nguồn vốn này; một số ít công trình đã đề
cập đến quản lý vốn ODA nhưng chủ yếu dưới giác độ
quản lý sử dụng. Đề
tài kế thừa chọn lọc các vấn đề lý luận của các công trình nghiên cứu trên để
phát triển thành cơ sở lý luận của luận án về QLNN đối với nguồn vốn ODA
nói chung và nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT nói riêng.
Về đầu tư cho GDĐT, các công trình thuộc lĩnh vực này khá phong
phú và có mặt trên hầu hết các thể loại tài liệu như sách, kỷ yếu hội thả
o, bài
viết trên tạp chí, các đề tài khoa học… Khó có thể liệt kê đầy đủ các công
trình thuộc nhóm này bởi khối lượng khá đồ sộ và phạm vi nghiên cứu rất
rộng. Các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống, có liên quan đến đối
tượng nghiên cứu của đề tài luận án phải kể đến các luận văn thạc sĩ, luận án
tiến sĩ. Đây là nhóm công trình đồ sộ về số lượng và nghiên cứu khá toàn diện
về các v
ấn đề liên quan đến đầu tư cho GDĐT. Chẳng hạn như:
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Trần Thị Thu Hà (1993): "Đổi mới
và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân", với
những phân tích khá sắc sảo về hiện trạng cơ chế quản lý ngân sách và đề
xuất hệ thống giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới cơ
chế quản lý ngân sách cho
toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân.
- Luận án tiến sĩ giáo dục của tác giả Lê Xuân Trường (2003) với đề tài:
"Một số biện pháp sử dụng nguồn lực tài chính nhằm phát triển giáo dục phổ
thông trong giai đoạn hiện nay" đã phân tích có hệ thống cơ sở lý luận của
việc sử dụng hợp lý nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục phổ thông;
phân tích thực trạng việc sử dụng nguồn lực tài chính cho giáo dục phổ thông
ở Việt Nam thời gian qua và xu thế trong thời gian tới. Qua đó đề xuất biện
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính để phát triển giáo dục.
Với cách tiếp cận, phân tích quản lý tài chính từ chuyên ngành giáo dục học
nên những kết luận có giá trị tham khảo ở mức độ nhất định.
- Luận án tiến sĩ kinh t
ế của tác giả Nguyễn Duy Phong (2003) với đề
tài: "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục phổ thông ở Hà
Nội" đã chỉ tập trung nghiên cứu cơ chế quản lý tài chính đối với giáo dục
phổ thông trên địa bàn Hà Nội. Bằng việc hệ thống hoá một số vấn đề lý luận
về giáo dục, cơ chế quản lý tài chính giáo dục, luận án đã đi sâu phân tích

4
thực trạng cơ chế quản lý tài chính giáo dục ở thành phố Hà Nội, từ đó đề
xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện cơ chế này trong giáo dục
phổ thông ở Hà Nội. Đây là công trình khá hệ thống, đầy đủ với số liệu cập
nhật tính đến thời điểm công bố nhưng giới hạn nghiên cứu là giáo dục phổ
thông trên phạm vi Thủ đô, hơn n
ữa, cơ chế tài chính của giáo dục phổ thông
và giáo dục đại học hoàn toàn khác nhau, do đó những kết luận của đề tài chỉ
mang tính tham khảo.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đặng Văn Du (2003) với tên đề
tài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở
Việt Nam” đã phân tích khá sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học.
Luận án đã xây dựng các tiêu chí phục vụ cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư
tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam, qua đó phân tích thực trạng đầu tư
tài chính và đánh giá hiệu quả của chúng qua các tiêu chí được xây dựng.
Luận án cũng đã đề xuất hệ thống giải pháp tương đối toàn diện và có tính
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính đại học ở n
ước ta. Có thể
nói, đây là công trình nghiên cứu công phu với những kết luận sắc sảo, có
căn cứ lý luận và cơ sở thực tiễn và là tài liệu tham khảo tốt không chỉ cho
các nhà quản lý giáo dục, mà còn cho các nhà nghiên cứu về tài chính.
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Lê Phước Minh (2005) với đề tài: "Hoàn
thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học Việt Nam" đã tập trung
nghiên cứu chính sách tài chính cho giáo dục đại học. Trên cơ sở tổ
ng hợp lý
luận và thực tiễn về chính sách tài chính cho giáo dục đại học trong và ngoài
nước, luận án đã đi sâu phân tích thực trạng chính sách tài chính cho giáo dục
ở Việt Nam, đồng thời làm rõ các cơ hội, thách thức và đề xuất quan điểm,
giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách tài chính cho giáo dục đại học ở nước
ta. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về chính sách tài chính cho
GDĐH với hệ thống số liệu cập nhật, những kế
t luận thuyết phục, hệ thống
giải pháp mang tính khả thi cao và là tài liệu tham khảo quan trọng cho
những nhà hoạch định và thực thi chính sách tài chính cho giáo dục đại học.
Tuy nhiên, thu hút và quản lý nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT
là lĩnh vực khá hẹp và cho đến nay có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn
đề này. Các tài liệu liên quan thường dừng ở các bài phát biểu tại các buổi
hội thảo hoặc đề tài cấp bộ với những nộ
i dung mang tính khai phá. Đó là Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2004: Vốn ODA với chiến lược phát
triển giáo dục đại học của Việt Nam đến năm 2010 – Thực trạng và giải
pháp, do tác giả Vũ Thị Kim Oanh, Trường Đại học Ngoại thương làm chủ

5
nhiệm. Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã hệ thống hoá những
vấn đề chung về vai trò của ODA trong phát triển giáo dục và đánh giá thực
trạng sử dụng vốn ODA cho phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam những
năm qua. Từ đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp sử dụng có hiệu quả
hơn vốn ODA cho chiến lược phát triển giáo dục đại học
ở Việt Nam đến
năm 2010. Song do mục đích nghiên cứu, công trình này chưa đi sâu nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư
cho GDĐT. Như vậy, có thể nói, đề tài luận án là công trình đầu tiên nghiên
cứu về QLNN đối với nguồn vốn vay ODA đầu tư cho GDĐT ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là nh
ững vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn về
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT. Trong đó, luận
án tập trung làm rõ các vấn đề về khung pháp lý nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho GDĐT; cơ chế, chính sách đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu
tư cho GDĐT; bộ máy QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
GDĐT; mô hình QLDA đố
i với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT.
Các khía cạnh khác liên quan được đề cập chỉ để đảm bảo tính tổng thể nhằm
làm rõ những nội dung trọng tâm nghiên cứu của đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là đối
tượng quản lý của QLNN. Tuy nhiên, nguồn vốn vay nước ngoài là phạm trù
rộng, nó bao gồm nhiều hình thức vay, trong đó có cả vay của nhà nướ
c và
vay của tư nhân; vay ưu đãi và vay thương mại. Trong phạm vi đề tài này,
chủ yếu nghiên cứu về nguồn vốn ODA, trong đó có phần vốn vay ưu đãi
nước ngoài của nhà nước đầu tư cho GDĐT - loại vốn phải hoàn trả nhưng
với lãi suất thấp hơn và trong một giai đoạn dài hơn so với các khoản vay
thương mại từ ngân hàng với lãi suất thị trường. Vì thế
, luận án chủ yếu tập
trung khảo cứu và lấy số liệu dẫn chứng về nguồn vốn ODA nói chung và
vay ODA nói riêng đầu tư cho GDĐT.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn
về QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT để tìm những
giải pháp phù hợp tiếp tục
đổi mới QLNN nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn
vốn này, góp phần nâng cao chất lượng GDĐT ở Việt Nam trong điều kiện
hiện nay.
Để thực hiện mục tiêu đó, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra gồm: Làm rõ cơ
sở lý luận của QLNN đối với các nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho

6
GDĐT đặt trong mối quan hệ với nguồn vốn NSNN đầu tư cho GDĐT nói
chung; Phân tích thực trạng QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư
cho GDĐT ở nước ta, rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân; Đề
xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với các nguồn
vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta trong giai đoạn tiếp theo.
5. Cơ sở
lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin; đồng thời trên cơ sở quan
điểm, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Ngoài ra, tác giả vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, sử dụng các
phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chứng, mô hình hoá,
kết hợp nghiên cứu lý luận với khảo sát thực tiễn, để thực hiện đề tài.
6. Đóng góp mới của luận án
Một là, xây dựng khái niệm QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho GDĐT là sự tác động của các cơ quan QLNN bằng pháp luật, cơ
chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn này để phát triể
n GDĐT, góp phần phát triển KT-XH của
quốc gia.
Hai là, chỉ rõ QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho
GDĐT chịu tác động từ cả phía nước cho vay và nưóc đi vay; vì vậy,
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT cần phải đặt
trong mối quan hệ đa chiều đó, trong đó vai trò quản lý của nước tiếp nhận
có vai trò quyết định đế
n hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
Ba là, đánh giá đúng thực trạng QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta từ năm 1993 đến nay; rút ra kết quả đạt
được, hạn chế tồn tại và nguyên nhân. Qua đó cho thấy, QLNN đối với
nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT trong thời gian qua vẫn còn
nhiều bất cập.
Bốn là,
đưa ra các quan điểm và phương hướng đầu tư phát triển
GDĐT cũng như giải pháp hoàn thiện QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài đầu tư cho GDĐT ở nước ta trong bối cảnh hiện nay.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm 177 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 mụ
c.


7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN
VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

1.1. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VÀ CÁC NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.1.1. Vai trò của giáo dục đào tạo đối với phát triển kinh tế
GDĐT là hoạt động không thể thiếu đối với sự nghiệp phát triển KT-
XH của mỗi quốc gia. Muốn có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn
minh đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ.
Sản phẩm của GDĐT là con người, là yếu t
ố đặc biệt quan trọng trong quá
trình sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Trình độ thành thạo, kỹ năng
của con người có tác động trực tiếp đến năng suất lao động, việc hình thành
kỹ năng nhất thiết phải thông qua GDĐT. Tuy không thể trực tiếp tạo ra ngay
sự tăng trưởng, nhưng về lâu dài, GDĐT có vai trò quan trọng đối với sự phát
triển kinh tế c
ủa một quốc gia. Qua đó, luận án đã phân tích vai trò của GDĐT
đối với phát triển kinh tế thể hiện ở các mặt chủ yếu như: (i) Nâng cao năng
suất và chất lượng của lực lượng lao động; (ii) Tạo tạo động lực thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế.
1.1.2. Vốn và các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo
Có thể sử dụng các tiêu thức khác nhau
để phân loại các nguồn vốn đầu
tư cho GDĐT, chẳng hạn như: nguồn trong nước và nguồn ngoài nước;
nguồn NSNN và nguồn ngoài NSNN. Song tiêu thức phân loại phổ biến mà
nước ta cũng như nhiều nước khác hay sử dụng là nguồn NSNN và nguồn
ngoài NSNN. Trên cơ sở đó, luận án đã phân loại nguồn vốn đầu tư cho
GDĐT bao gồm: (i) Đầu tư từ NSNN; (ii) Đầu tư ngoài NSNN.
Trong các nguồn tài chính đầu tư cho GDĐT, NSNN vẫn đóng vai trò
chủ yếu, là nguồn quan trọng đối với sự nghiệp phát triển GDĐT. Tuy nhiên,
đầu tư cho GDĐT đòi hỏi những khoản tiền rất lớn. Vì vậy, các nước chậm
và đang phát triển đều quan tâm tìm các nguồn vốn khác nhau để đầu tư cho
GDĐT. Ngoài việc huy động vốn từ ngân sách, các nguồn khác từ trong
nước, các quốc gia còn phải tranh th
ủ các nguồn vốn nước ngoài, nhất là
nguồn vốn ODA.
1.1.3. Đặc điểm và vai trò của nguồn vốn vay nước ngoài đối với
phát triển giáo dục đào tạo

8
1.1.3.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn ODA
Có thể hiểu nguồn vốn ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại
và các khoản viện trợ hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn, lãi suất
thấp…) của các chính phủ và các tổ chức nước ngoài dành cho các nước
đang và chậm phát triển nhằm hỗ trợ sự phát triển của các nước này. Tuy
nhiên, cần chú ý rằng, nguồn viện trợ phát tri
ển bao gồm phần cho không
chiếm khoảng 25% số vốn cung cấp.
Đặc điểm cơ bản của vốn ODA là nguồn vốn do các nước và các tổ
chức quốc tế tài trợ thông qua hình thức cho vay ưu đãi (chiếm hơn 80% tổng
nguồn vốn ODA) hoặc viện trợ không hoàn lại. ODA là nguồn vốn có khả
năng gây nợ. Ngoài ra, vốn ODA còn có đặc điểm là đi kèm theo nó thường
có các điều ki
ện ràng buộc của bên cho vay.
Tuỳ theo tính chất, mục đích, điều kiện, khác nhau mà có các loại
ODA khác nhau. Phân loại đúng ODA sẽ giúp cho việc sử dụng đúng mục
đích mục đích và có hiệu quả hơn. Theo tính chất, ODA gồm các khoản viện
trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn lại. Theo mục đích, ODA gồm vốn
đầu tư phát triển, viện trợ kỹ thuật, tín dụng điều chỉnh c
ơ cấu, viện trợ nhân
đạo và cứu trợ. Theo điều kiện, ODA gồm viện trợ không ràng buộc, viện trợ
ràng buộc và ràng buộc một phần. Theo hình thức, ODA gồm viện trợ theo
dự án và phi dự án.
1.1.3.2. Vai trò của nguồn vốn vay nước đối với giáo dục đào tạo
Cũng như một số ngành, lĩnh vực khác, nguồn vốn ODA có vai trò
quan trọng đối với lĩnh vực GD
ĐT. Việc sử dụng vốn ODA đúng mục đích
và có hiệu quả trong GDĐT sẽ tạo nên sự kích thích có ý nghĩa như phương
thức đầu tư cho giáo dục có trọng điểm, có mục tiêu, mục đích cụ thể. Theo
WB, một USD viện trợ được sử dụng để tài trợ cho các dự án giáo
dục có xu hướng làm tăng chi tiêu của chính phủ ở mọi lĩnh vực,
ngang với m
ức một USD của chính phủ thu từ bất cứ một nguồn nào. Theo
đó, luận án đã khái quát vai trò của nguồn vốn ODA trong lĩnh vực GDĐT
như: (i) góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư cho GDĐT; (ii) góp phần nâng
cao trình độ giáo viên và năng lực quản lý ngành GDĐT; (iii) góp phần phát
triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho hệ thống GDĐT ở các cấp.
1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY NƯỚC
NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay nước ngoài
Mỗi quốc gia khi tiếp nhận nguồn vốn ODA đều phải có cơ chế, chính

9
sách, pháp luật và bộ máy để quản lý – hay còn gọi là QLNN. QLNN đối với
nguồn vốn ODA là quá trình nhà nước lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm
tra việc thu hút và sử dụng ODA, nhằm đạt được các mục tiêu của nhà nước
đặt ra với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện phát triển của đất nước.
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là một bộ
phận
của QLNN về tài chính nói chung và tài chính trong lĩnh vực GDĐT nói
riêng. Qua phân tích, luận án đưa ra khái niệm QLNN đối với nguồn vốn
vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT là sự tác động của các cơ quan QLNN
bằng pháp luật, cơ chế, chính sách, biện pháp nhằm tăng cường huy động
và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này để phát triển GDĐT, góp phần
phát triển KT-XH của quốc gia.
1.2.2. Quan điểm của Đả
ng và Nhà nước về huy động nguồn vốn vay
nước ngoài
Kể từ khi khởi xướng công cuộc đổi mới cho đến nay, Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định nhất quán phương châm huy động nguồn vốn trong và
ngoài nước để đầu tư phát triển KT-XH. Trong đó, vốn trong nước có ý nghĩa
quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng. Qua phân tích cho thấy,
chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
đã chỉ rõ sự cần
thiết phải huy động vốn từ nước ngoài cho phát triển KT-XH, trong đó coi
trọng sử dụng vốn ODA cho lĩnh vực GDĐT. Đồng thời, cần phải tăng
cường quản lý chặt chẽ việc vay nợ và trả nợ nước ngoài, bảo đảm nghiêm
ngặt hiệu quả sử dụng vốn vay, quy định rõ thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ
.
1.2.3. Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay
nước ngoài
Luận án đã phân tích, làm rõ sự cần thiết của QLNN đối với nguồn vốn
vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT dưới cả góc độ của nước cho vay và nưóc
đi vay, trong đó vai trò quản lý của nước tiếp nhận có vai trò quyết định đến
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. Dướ
i góc độ nước đi vay, sự cần thiết của
QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT vì các lý do chủ
yếu như: (i) do những hạn chế và nguy cơ tiềm ẩn của nguồn vốn ODA; (ii)
nước tiếp nhận dễ bị rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả nguồn vốn
ODA; (iii) trình độ và kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA của nước tiế
p
nhận thường là thấp.
1.2.4. Nội dung quản lý nhà nước đối với nguồn vốn vay nước ngoài
đầu tư cho giáo dục đào tạo
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nội dung QLNN đối với nguồn

10
vốn vay nước ngoài như: tiếp cận theo chức năng quản lý; tiếp cận theo quá
trình quản lý Theo chức năng quản lý, QLNN đối với nguồn vốn vay nước
ngoài bao gồm: tạo lập môi trường pháp luật; xây dựng định hướng chiến
lược, kế hoạch; sử dụng các công cụ tổ chức triển khai thực hiện chiến lược,
kế hoạch; thực hiện các chính sách, biện pháp liên quan đến đi
ều tiết nền
kinh tế; tổ chức kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện và tổ chức bộ máy. Cách
tiếp cận theo chức năng quản lý thường được sử dụng để làm rõ nội dung
QLNN đối với huy động và sử dụng vốn chung trong quốc gia (ở cấp cao, TW).
Ở cấp bộ, ngành, nội dung QLNN đối với nguồn vốn vay nước ngoài
thường gắn với quá trình, hoạt động cụ thể về
huy động và sử dụng vốn; gắn
với các khâu và các bước cụ thể của quá trình xây dựng thực hiện dự án đầu
tư. Theo đó, các bước QLDA ODA nói chung và dự án ODA trong GDĐT
nói riêng gồm 6 bước sau: (i) Đề xuất dự án; (ii)Đàm phán, ký kết điều
ước quốc tế khung về ODA (iii) Chuẩn bị dự án (iv); Tổ chức triển khai và
thực hiện các chương trình, dự án; (v)Theo dõi và đánh giá dự án; (vi)
Nghiệm thu bàn giao công trình.
1.2.5. Nh
ững yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với
nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho giáo dục đào tạo
Luận án đã phân tích, làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN đối
với nguồn vốn vay nước ngoài đầu tư cho GDĐT dưới cả góc độ của nước
cho vay và nưóc đi vay. Những yếu tố ảnh hưởng từ phía các nhà tài trợ
nh
ư: Mục tiêu chiến lược cung cấp ODA của nhà tài trợ; Tình hình kinh tế,
chính trị cũng như các biến động bất thường có thể xảy ra ở phía nhà tài trợ;
Bầu không khí quốc tế và sự phát triển các mối quan hệ kinh tế, chính trị
giữa hai phía tài trợ và nhận tài trợ. Những yếu tố ảnh hưởng từ phía bên
nhận tài trợ như: Sự ổn định của thể chế chính trị
; Chiến lược phát triển
GDĐT trong từng thời kỳ; Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan đến thu hút, tổ chức quản lý, sử dụng nguồn vốn ODA cho GDĐT;
Nhận thức, năng lực và trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của cán bộ
lãnh đạo, cán bộ quản lý giáo dục các cấp, các nhà giáo, các cơ sở GDĐT;
Công tác cải cách hành chính tại các cơ quan QLNN, đặc biệt là cơ quan Bộ
GDĐT và các c
ơ quan ngành dọc tại địa phương.
1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN
VAY NƯỚC NGOÀI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
Qua nghiên cứu một số kinh nghiệm thành công trong thu hút và quản
lý, sử dụng vốn ODA như của Trung Quốc, Ba Lan, Malaysia, Thái Lan cho

11
thấy: cần phải chuẩn bị tốt dự án xin viện trợ; xác định đúng lĩnh vực đầu tư
ưu tiên; quy định rõ nguyên tắc sử dụng vốn ODA; quy định hạn mức vay và
trả nợ hàng năm.
Tuy nhiên, việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA có thể xem như
con dao hai lưỡi. Nếu sử dụng tốt, có hiệu quả sẽ là động lực thúc đẩy tăng
tr
ưởng và phát kinh tế triển xã hội, ngược lại sẽ trở thành một gánh nặng nợ
nần, đẩy các nước này vào thảm cảnh bi đát hơn. Bên cạnh thành công, một
số nước đang phát triển cũng đã để lại những bài học đáng nhớ để các nước
khác rút kinh nghiệm. Có thể nêu ra một số kinh nghiệm chưa thành công
trong sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA như: nhận thứ
c chưa đúng về
nguồn vốn ODA; quản lý nguồn vốn ODA không chặt chẽ, kém hiệu quả.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý vốn vay nước ngoài ở một
số quốc gia, luận án đã rút ra một số bài học như: ODA chỉ là nguồn vốn
đóng vai trò quan trọng chứ không có vai trò quyết định cho sự thành công
của một quốc gia trên con đường phát triển. Trong quá trình hoạch định sử
dụ
ng vốn ODA, các quốc gia cần chủ động xây dựng danh mục các ngành,
các địa phương, lĩnh vực sẽ thu hút vốn, đặc biệt cần phải coi trọng hiệu quả
sử dụng vốn ODA hơn là số lượng vốn ODA. Khi đã tiếp cận được nguồn
vốn, đòi hỏi phải tổ chức bộ máy thực hiện. Bộ máy này có chức năng thay
mặt Nhà nước quản lý tốt vi
ệc tổ chức thực hiện mục tiêu dự án, bên cạnh đó
cũng đưa ra được những quy chế chặt chẽ khi sử dụng vốn ODA như việc chi
phí hợp lý cho các hoạt động tư vấn, hoạt động khảo sát, lập dự án. Công tác
kiểm soát là hết sức quan trọng, nó vừa bảo đảm tiến độ, thời gian vừa giảm
được lãng phí, thất thoát trong quá trình thực thi.

Chương 2
TH
ỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN VAY
NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO Ở NƯỚC TA

2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH THU HÚT VÀ SỬ DỤNG VỐN VAY
NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
2.1.1. Thực trạng giáo dục đào tạo
GDĐT nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định. Nhu cầu học
tập của nhân dân, trước hết ở GDPT được đáp ứng tốt hơn. Các mục tiêu
chiến lược về quy mô phát triển ở các cấp học và trình độ đào tạo đạt được
kết quả theo chỉ tiêu và kế hoạch đề ra. Chính sách xã hội về GDĐT
đã được

12
thực hiện tốt hơn và có hiệu quả hơn. Chất lượng GDĐT đã có chuyển biến
bước đầu. Điều kiện bảo đảm phát triển GDĐT được tăng cường hơn. Tuy
nhiên, trong GDĐT vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém, khuyết điểm đang gây
lo lắng, bức xúc trong xã hội. Sở dĩ còn những yếu kém, bất cập trên là do tư
duy giáo dục chậm
được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất
nước cũng như đòi hỏi của sự chuyển đổi cơ chế quản lý KT-XH và hội nhập
quốc tế; quản lý GDĐT còn yếu kém và bất cập, chưa tương thích với nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực
của đất nước; mâu thuẫn lớn giữ
a một bên là yêu cầu cao về phát triển quy
mô, nâng cao chất lượng với một bên là khả năng hạn hẹp của nguồn lực vẫn
chưa có biện pháp khắc phục hiệu quả. Nếu so sánh với các nước trong khu
vực và trên thế giới, theo bảng xếp hạng của UNESCO, các chỉ tiêu giáo dục
của Việt Nam nhìn chung nằm ở thứ hạng trung bình.
2.1.2. Tình hình thu hút và sử dụng vốn vay nước ngoài đầu tư cho
giáo dục
đào tạo trong những năm qua
Theo số liệu thống kê của GDĐT, tính đến nay, Việt Nam đã và đang
triển khai 19 dự án ODA đầu tư cho ngành GDĐT. Trong đó, có 9 dự án vay
nợ, 10 dự án viện trợ không hoàn lại (chỉ tính những dự án viện trợ có số vốn
lớn và phạm vi tác động rộng). Hầu hết, các dự án ODA trong ngành GDĐT
đã có mặt ở các bậc học. Trong số 19 dự án trong ngành GDĐT, có 11 dự
án
đầu tư cho giáo dục phổ thông (681,5 triệu USD, chiếm 81,5%), 8 dự án đầu
tư cho giáo dục đại học và sau đại học (155,2 triệu USD, chiếm 18,1%). Như
vậy, các dự án ODA trong ngành GDĐT chủ yếu ưu tiên đầu tư cho giáo dục
phổ thông.
Mặc dù, vốn ODA chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng kinh phí dành
cho GDĐT hàng năm, nhưng nói chung các dự án ODA đã và đang triển khai
đều đạt được những kết quả nhấ
t định, đặc biệt đối với những dự án dành cho
giáo dục phổ thông, là những dự án được các nhà tài trợ quan tâm và được
coi là ưu tiên. Có thể nói, việc tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả
nguồn vốn ODA cho GDĐT thời gian qua đã góp phần cải thiện chất lượng
và nâng cao hiệu quả công tác GDĐT, tăng cường một bước cơ sở vật chất
kỹ thuật cho việc nâng cao chấ
t lượng dạy và học.
2.2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN
VAY NƯỚC NGOÀI ĐẦU TƯ CHO GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
2.2.1. Khung pháp lý quản lý nguồn vốn vay nước ngoài
Kể từ khi Việt Nam chính thức nối lại quan hệ với cộng đồng tài trợ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét