Nhóm chiến lược là nhóm các công ty cùng áp dụng một chiến lược giống
nhau trên một thị trường mục tiêu nhất định (VD: hình 2).
Từ việc phát hiện những nhóm chiến lược này đã nảy sinh ra những ý
tưởng quan trọng. Thứ nhất: chiều cao các rào cản nhập khác nhau đối với
từng nhóm chiến lược. Một công ty mới, dễ nhập vào nhóm D hơn, bởi vì chỉ
cần vốn đầu tư tối thiểu vào việc nhất thể hoá dọc và vào các thành phần chất
lượng và danh tiếng. Ngược lại, công ty đó sẽ khó gia nhập vào nhóm A hay
nhóm B nhất. Thứ hai, nếu công ty nhập được vào một trong bốn nhóm đó thì
các thành viên của nhóm đó sẽ trở thành những đối thủ cạnh tranh chủ chốt
của công ty này. Chẳng hạn như, nếu công ty nhập được vào nhóm B thì nó
cần phải có đủ sức mạnh chủ yếu để chống lại General Electric, Whiplpool và
Sears. Nếu muốn thành công thì nó phải có một số ưu thế cạnh tranh nào đấy
khi gia nhập nhóm đó.
Mặc dù cạnh tranh diễn ra quyết liệt nhất trong nội bộ nhóm chiến lược
giữa các nhóm vẫn có sự kình địch. Thứ nhất, là một số nhóm chiến lược có
thể có ý đồ lấn chiếm các nhóm khách hàng của nhau. Thứ hai, là các khách
hàng có thể không thấy có sự khác biệt gì nhiều giữa các mặt hàng chào bán.
Thứ ba, là mỗi nhóm đều có thể muốn mở rộng phạm vi khác thị trường của
mình, nhất là nếu các công ty đều có quy mô và sức mạnh ngang nhau và rào
cản cơ động giữa các nhóm lại thấp.
5
HÌNH 2: CÁC NHÓM CHIẾN LƯỢC TRONG NGÀNH THIẾT BỊ NHÀ BẾP CHỦ YẾU
Ta giả sử rằng hai tham biến chiến lược quan trọng đó là hình ảnh chất
lượng và mức độ nhất thể hoá dọc. Nhóm chiến lược A gồm một đối thủ cạnh
tranh (Maytag). Nhóm chiến lược B gồm ba đối thủ cạnh tranh chủ yếu
(General Electric, Whirepool, và Sears). Nhóm chiến lược C gồm bốn đối thủ
cạnh tranh và nhóm chiến lược D gồm hai đối thủ cạnh tranh.
Ngoài việc sử dung hai tham biến để phát hiện các nhóm chiến lược một
ngành. Người ta còn sử dụng một số tham biến khác nữa như mức độ tinh vi
6
NHÓM A:
- Chủng loại hẹp.
- Chi phí sản xuất thấp.
- Dịch vụ rất cao, giá cao.
NHÓM C:
- Chủng loại vừa phải.
- Chi phí sản xuất trung bình.
- Dịch vụ trung bình.
- Giá trung bình.
NHÓM B:
- Chủng loại đầy đủ.
- Chi phí sản xuất thấp.
- Dịch vụ tốt.
- Giá trung bình.
NHÓM D:
- Chủng loại rộng.
- Chi phí sản xuất trung bình.
- Dịch vụ ít.
- Giá thấp.
Chất
lượng
cao
Chất
lượng
thấp
Nhất thể hoá dọc cao Tập hợp lại
Mức độ nhất thể hoá dọc
của công nghệ, phạm vi địa bàn, phương pháp sản xuất, Trong thực tế mỗi
đối thủ đều định hướng chuyên môn của mình đầy đủ hơn là chỉ theo hai tham
biến. Mỗi công ty có một cơ cấu chiến lược khácn hau và vì thế cũng nhắm
vào những nhóm khách hàng khác nhau. Công ty cần có những thông tin chi
tiết hơn nữa về từng đối thủ cạnh tranh. Nó cần biết chất lượng sản phẩm, tính
năng và danh mục sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách hàng, chính sách giá cả,
phạm vi phân phối, chiến lược về lực lượng bán hàng, chương trình quảng
cáo, kích thích tiêu thụ và phát triển tình hình sản xuất, cung ứng, tài chính và
ác chiến lược khác nhau của từng đối thủ cạnh tranh. Công ty phải không
ngừng theo dõi chiến lược của các đối thủ cạnh tranh. Những đối thủ cạnh
tranh giàu nguồn lực thường thay đổi chiến lược sau một thời gian. Vì vậy
công ty cần phải nhạy bén với những thay đổi mong muốn, nhu cầu của khách
hàng và cách thức thay đổi chiến lược của đối thủ cạnh tranh.
3-/ Xác định mục tiêu của đối thủ cạnh tranh.
Sau khi đã phát hiện ra đối thủ cạnh tranh và chiến lược của họ ta phải
đặt vấn đề: từng đối thủ cạnh tranh đang tìm kiếm cái gì trên thị trường? Cái
gì đang điều khiển hành vi của từng đối thủ cạnh tranh.
Một giả thiết ban đầu có ích là các đối thủ cạnh tranh đều phấn đấu để
tăng tối đa lợi nhuận của mình. Ngay cả trong trường hợp này, các công ty có
cách nhìn nhận khác nhau về tầm quan trọng của lợi nhuận trước mắt so với
lợi nhuận lâu dài. Hơn nữa có một số công ty lại hướng suy nghĩ của mình
vào việc “thoả mãn” chứ không phải “tăng tối đa”. Họ đề ra chỉ tiêu lợi nhuận
mục tiêu và hài lòng khi đạt được nó, cho dù là với những chiến lược và nỗ
lực khác có thể đạt được lợi nhuận lớn hơn.
Một giả thiết khác nữa là, mỗi đối thủ cạnh tranh đều theo đuổi một số
mục tiêu. Ta cần biết tầm quan trọng tương đối mà đối thủ cạnh tranh nhìn
nhận đối với khả năng sinh lời hiện tại, mức tăng thị phần, vị trí dẫn đầu về
công nghệ, vị trí dẫn đầu về dịch vụ, khi biết được các mục tiêu với tầm
quan trọng nhất định của đối thủ cạnh tranh, ta có thể biết được đối thủ cạnh
tranh có hài lòng hay không, với kết quả tài chính hiện thời của họ và họ có
thể phản ứng như thế nào với các kiểu tiến công cạnh tranh khác nhau, Ví
dụ, một đối thủ cạnh tranh theo đuổi vị trí dẫn đầu về chi phí thấp sẽ phản ứng
mạnh mẽ hơn đối với trường hợp một đối thủ cạnh tranh nào đó có một bước
đột phá về quy trình sản xuất so với trường hợp đối thủ đó chỉ tăng ngân sách
quảng cáo.
7
Mục tiêu của đối thủ cạnh tranh được xác định dựa trên cơ sở của nhiều
yếu tố trong đó có quy mô, quá trình lịch sử, ban lãnh đạo và tình trạng kinh
tế của họ.
4-/ Đánh giá mặc mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh tranh.
Các đối thủ cạnh tranh của công ty có thể thực hiện được chiến lược của
mình và đạt được những mục đích của họ không? Điều đó còn tuỳ thuộc vào
các nguồn tài nguyên và năng lực của từng đối thủ cạnh tranh. Công ty cần
phát hiện những mặt mạnh và những mặt yếu của từng đối thủ cạnh tranh
bước đầu tiên là công ty phải thu thập những số liệu về tình hình kinh doanh
của từng đối thủ cạnh tranh cụ thể là mức tiêu thụ, thị phần, lợi nhuận trên
vốn đầu tư, đầu tư mới và mức sử dụng năng lực. Có một số thông tin sẽ rất
khó kiếm. Ví dụ, các công ty tư liệu sản xuất thấy rất khó ước tính thị phận
của đối thủ cạnh tranh bởi vì họ không có dịch vụ cung cấp số liệu như những
công ty hàng tiêu dùng đóng gói. Tuy vậy, bất kỳ thông tin nào cũng giúp họ
đánh giá tốt hơn các mặt mạnh và các mặt yếu của từng đối thủ cạnh tranh.
Những loại thông tin này sẽ giúp cho công ty quyết định tấn công ai trên thị
trường có thể lập chương trình kiểm soát.
Các công ty thường tìm hiểu những mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ
cạnh tranh thông qua những số liệu thứ cấp, kinh nghiệm cá nhân và lời đồn.
Họ có thể tìm kiếm thông tin này bằng cách tiến hành nghiên cứu Marketing
trực tiếp các khách hàng, người cung ứng và đại lý của mình.
5-/ Đánh giá cách phản ứng của đối thủ cạnh tranh.
Những mục tiêu và các mặt mạnh yếu của một đối thủ cạnh tranh góp
phần rất lớn vào việc chỉ rõ những biện pháp và phản ứng của họ đối với
những biện pháp của công ty như giảm giá, tăng cường khuyến mãi hay tung
ra sản phẩm mới. Ngoài ra, mỗi đối thủ cạnh tranh, còn có một triết lý nhất
định về việc kinh doanh, một nề nếp văn hoá nội bộ nhất định và một số niềm
tin chủ đạo nhất định. Cần phải hiểu một cách sâu sắc toàn bộ ý đồ của một
đối thủ cạnh tranh nhất định thì mới có thể dự đoán được cách đối thủ có thể
hành động.
Trong những phản ứng của đối thủ cạnh tranh, các đối thủ cạnh tranh có
thể dùng nhiều biện pháp đặc biệt có thể dùng chiến lược Marketing - Mix áp
dụng cho phản ứng của họ.
Sau đây là những cách phản ứng phổ biến của các đối thủ cạnh tranh:
8
+ Đối thủ cạnh tranh điềm tĩnh: một số đối thủ cạnh tranh không phản
ứng nhanh hay mạnh đối với biện pháp của một đối thủ nhất định. Họ có thể
cảm thấy khách hàng của mình là những người trung thành, họ có thể chậm
phát hiện ra biện pháp phản ứng, họ có thể thiếu kinh phí để phản ứng, công
ty phải cố gắng đánh giá lý do tại sao đối thủ lại có hành vi điềm tĩnh.
+ Đối thủ cạnh tranh kén chọn: đối thủ cạnh tranh có thể chỉ phản ứng
với những kiểu tấn công nhất định mà không có phản ứng gì với những kiểu
tấn công khác. Họ có thể phản ứng với việc giảm giá để báo hiệu rằng việc đó
không có nghĩa lý gì. Nhưng họ có thể không phản ứng với việc tăng chi phí
quảng cáo, vì nghĩ rằng nó ít đe doạ. Khi biết được những phản ứng của một
đối thủ cạnh tranh chủ chốt thì công ty sẽ có những căn cứ để hoạch định
hướng tấn công khả thi nhất.
+ Đối thủ cạnh tranh hung dữ: công ty này phản ứng mau lẹ và mạnh mẽ
với mọi cuộc đột kích vào lãnh địa của mình. Chẳng hạn như P&G không để
hco một chất tẩy rửa mới được tung ra thị trường một cách dễ dàng. Đối thủ
cạnh tranh hung dữ luôn cảnh báo rằng, tốt nhất là các công ty khác đừng nên
tấn công, vì người phòng thủ sẽ chiến đấu đến cùng. Tấn công một con cừu
bao giờ cũng tốt hơn là tất công một con cọp.
+ Đối thủ cạnh tranh khôn ngoan: có một số đối thủ cạnh tranh không để
lộ ra một cách phản ứng nào có thể đoán trước được. Như đối thủ cạnh tranh
có thể trả đũa hay không trả đũa trong một trường hợp cụ thể nào đó, và
không có cách nào đoán trước được điều đó căn cứ vào tình trạng kinh tế, quá
trình lịch sử, hay bất kỳ điều gì khác nữa.
Có những ngành có đặc điểm là các đối thủ cạnh tranh tương đối hoà
thuận với nhau và có những ngành thì họ lại thường xuyên xung đột với nhau.
6-/ Thiết kế hệ thống thông tin tình báo cạnh tranh.
Ta đã trình bày những dạng thông tin chính mà những người thông qua
quyết định của công ty cần biết về các đối thủ cạnh tranh của mình. Thông tin
này phải được thu thập, giải thích phân phát và sử dụng. Tuy chi phí tiền bạc
và thời gian để thu thập những thôn tin tình báo cạnh tranh rất lớn, nhưng cái
giá của việc không thu thập những thông tin đó còn đắt hơn. Vì vậy công ty
phải thiết kế hệ thống thông tin tình báo cạnh tranh của mình sao cho có hiệu
quả về chi phí, có bốn bước chính sau:
9
+ Chuẩn bị hệ thống: bước thứ nhất đòi hỏi phải phát hiện những kiểu
thông tin cạnh tranh quan trọng, phát hiện những nguồn tốt của thông tin đó
và cử ra một người quản trị hệ thống và các dịch vụ của nó.
+ Thu thập số liệu: các số liệu được thu thập liên tục từ hiện trường (lực
lượng bán hàng, các kênh, những người cung ứng, các công ty nghiên cứu thị
trường, các hiệp hội thương mại) và từ những số liệu đã công bố (những ấn
phẩm của Nhà nước, những bài nói chuyện, những bài báo). Công ty cần xây
dựng những cách mua thông tin cần thiết về các đối thủ cạnh tranh có hiệu
quả mà không vi phạm những tiêu chuẩn pháp luật hay đạo đức.
+ Đánh giá và phân tích: các số liệu được kiểm tra về giá trị và độ tin
cậy, giải thích ý nghĩa và sắp xếp lại một cách thích hợp.
+ Phân phát và trả lời: những thông tin chủ chốt được gửi cho những
người thông qua quyết định hữu quan, và trả lời những yêu cầu của các cán bộ
quản trị về các đối thủ cạnh tranh.
Với hệ thống này những người quản trị công ty sẽ nhận được kịp thời
những thông tin về đối thủ cạnh tranh qua điện thoại, báo cáo, bản tin, Fax,
những người quản trị cũng có thể liên hệ với bộ phận này khi cần giải thích ý
nghĩa của một biện pháp đột ngột của đối thủ cạnh tranh hay khi cần biết
những mặt yếu và mặt mạnh của đối thủ cạnh tranh hoặc cách thức phản ứng
của đối thủ cạnh tranh đối với biện pháp dự tính của công ty.
Những công ty lớn thì có cả một phòng, một bộ phận chính thức chuyên
làm công việc theo dõi những đối thủ cạnh tranh nhất định và nhập cuộc.
Những công ty nhỏ thì đã cử những người phụ trách về vấn đề này; Hệ thống
thông tin tình báo thực sự là sức mạnh của công ty sẽ đảm bảo và hỗ trợ đắc
lực cho chiến lược cạnh tranh của công ty.
7-/ Lựa chọn đối thủ cạnh tranh để tấn công và né tránh.
Khi có những thông tin tình báo tốt những người quản lý dễ dàng hoạch
định được những chiến lược cạnh tranh của mình. Họ sẽ hình dung rõ hơn
những đối thủ mà họ có thể cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường. Người quản
lý phải quyết định cần cạnh tranh quyết liệt nhất với những đối thủ nào. Việc
phân tích giá trị của khách hàng sẽ hỗ trợ cho người quản lý thực hiện việc lựa
chọn màu, vì nó vạch ra những mặt mạnh và những mặt yếu của công ty so với
các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Công ty có thể tập trung trong những đòn tấn
công của mình vào một trong những lớp đối thủ cạnh tranh sau đây:
10
+ Các đối thủ cạnh tranh mạnh và yếu:
Hầu hết các công ty đều hướng những đòn tấn công của mình vào những
đối thủ cạnh tranh yếu. Vì như vậy sẽ cần ít tài nguyên và thời gian hơn tính
cho mỗi điểm giành được. Nhưng trong quá trình công ty có thể đạt được ít
kết quả trong việc nâng cao năng lực của mình công ty cũng cần phải cạnh
tranh với cả những đối thủ mạnh để bắt kịp với trình độ tiên tiến. Hơn nữa
ngay cả những đối thủ cạnh tranh mạnh cũng có những mặt yếu và công ty có
thể được em là một đối thủ ngang sức.
+ Các đối thủ cạnh tranh gần và xa.
Hầu hết các công ty đều cạnh tranh với các đối thủ gần giống mình nhất.
Đồng thời không nên “phá rối” đối với đối thủ cạnh tranh gần. Nếu ta không
tính đến điều này sẽ dễ phản tác dụng.
+ Các đối thủ cạnh tranh “tốt” và “xấu”.
Porter khẳng định rằng mỗi ngành đều có những đối thủ cạnh tranh “tốt”
và “xấu”. Một công ty khôn ngoan sẽ ủng hộ những đối thủ cạnh tranh tốt và
tấn công những đối thủ cạnh tranh xấu. Những đối thủ cạnh tranh tốt có một số
đặc điểm. Họ chơi theo đúng luật của ngành, ho đưa ra những giả thiết thực tế
về tiềm năng tăng trưởng của ngành, họ giới hạn mình ở một phần hay một
phạm vi của ngành, họ thúc đẩy những người khác tham gia chi phí hay tăng
thêm đặc điểm khác biệt, và họ chấp nhận mức chung về thị phần và lợi nhuận.
Những đối thủ cạnh tranh xấu vi phạm luật chơi. Họ cố gắng mua thi phần chứ
không phải tự giành lấy nó, họ chấp nhận những rủi ro lớn, họ đầu tư vào năng
lực sản xuất dư thừa và nói chung họ phá vỡ trạng thái cân bằng của ngành.
8-/ Cân đối các quan điểm định hướng theo khách hàng và theo đối thủ
cạnh tranh.
Ta đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc công ty theo dõi chặt chẽ các
đối thủ cạnh tranh. Liệu có thể là dành quá nhiều thời gian và công sức vào
việc theo dõi các đối thủ cạnh tranh không? Câu trả lời là có! Một công ty có
thể tập trung vào đối thủ cạnh tranh đến mức độ sao nhãng việc tập trung vào
khách hàng.
Một công ty lấy đối thủ cạnh tranh làm trung tâm là công ty đề ra các
biện pháp của mình về cơ bản đều xuất phát từ những hành động và phản ứng
của đối thủ cạnh tranh. Công ty đó theo các hoạt động và thị phần của các đối
thủ cạnh tranh trên từng thị phần. Đường lối của loại công ty này như sau:
11
Công ty lấy đối thủ cạnh tranh làm trung tâm:
Tình huống:
- Đối thủ cạnh tranh W sắp dồn sức đánh bại ta ở thị trường X.
- Đối thủ cạnh tranh Z đang mở rộng phạm vi phân phối của mình ở thị
trường Y và gây thiệt hại chomức tiêu thụ của ta.
Phản ứng:
- Ta sẽ tăng chi phí quảng cáo ở thị trường Y.
- Đề phòng với chiến lược cạnh tranh ở thị trường X.
Công ty lấy khách hàng làm trung tâm.
Tất cả mọi hành động phản ứng của công ty đều chú trọng quan tâm đến
các khách hàng và thị trường mục tiêu của mình. Theo dõi những biến đổi về
nhu cầu, mong muốn của khách hàng. Sau đó mới đề ra chiến lược cách thức
phản ứng hành động của mình cho phù hợp với mục tiêu đó.
12
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CẠNH TRANH NHÃN HIỆU BIA HÀ NỘI
I-/ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY BIA HÀ NỘI.
1-/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Để có tên gọi như ngày nay công ty bia Hà Nội phải trải qua nhiều giai
đoạn, nó thực hiện các nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nhất định theo sự cho
phép của Nhà nước.
Công ty bia Hà Nội nguyên là xí nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ quản
lý. Nhiệm vụ chính của công ty là sản xuất bia để đáp ứng cho nhu cầu toàn xã
hội.
Công ty được hình thành từ thời Pháp thuộc vào năm 1890 do một chủ
đầu tư tên là Homel đầu tư và xây dựng. Mục đích của ông là vừa kinh doanh
có lãi vừa sản xuất để phục vụ cho quân đội viễn chinh Pháp và lính đánh
thuê ở Việt Nam.
Sản lượng bia của công ty hồi đó đạt từ 300-600 lít/năm. Lúc đó nhu cầu
về bia của nhân dân là hầu như không có. Toàn bộ kỹ thuật sản xuất bia do
người Pháp quản lý còn lại do người Việt Nam làm thuê. Đến năm 1954 sau
khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, công ty bia thuộc quyền sở hữu của
Nhà nước. Đến tháng 7/1957 Chính phủ chủ động cho khôi phục lại Nhà máy
nhờ sự giúp đỡ của chuyên gia Tiệp Khắc ngày 15/8/1958 chai bia đầu tiên
của nhà máy đã ra đời với sản lượng đạt 6 tỉệu lít/năm và từ đó đến nay Nhà
máy đã nâng công suất và đầu tư sản lượng nên trong những năm 1958-1972
sản lượng bình quân tăng gấp 6 lần so với năm 1958.
Từ năm 1991 đến năm 1994 công ty đã tiến hành đầu tư mở rộng nâng
công suất 50 triệu lít/năm. Hầu hết các thiết bị đều của CHLB - Đức theo đơn
đặt hàng có chuyên gia sang lắp đặt gồm có: 2 hệ thống máy chiết bia và hệ
thống chiết bia lon, máy lọc, bồn men 20 triệu lít/năm, hệ thống máy lạnh,
máy nén khí CO
2
, máy thanh trùng bia để diệt men và tạp khuẩn.
Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trải qua các giai đoạn:
+ Từ năm 1958 - 1981 nhà máy thực hiện chế độ hạch toán độc lập.
13
+ Từ năm 1982 - 1989 thực hiện chế độ hạch toán phụ thuộc, nhà máy
bia Hà Nội sát nhập với nhà máy rượu Hà Nội thành lập Liên hiệp xí nghiệp
rượu bia nước giải khát.
+ Tháng 6/1989 Nhà máy bia Hà Nội được Bộ Nông nghiệp và Công
nghiệp thực phẩm quyết định cho phép Nhà máy thực hiện chế độ hạch toán
độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ.
Ngày 9/12/1993 theo Nghị định 388 về thành lập lại doanh nghiệp Nhà
nước Nhà máy bia Hà Nội đổi tên thành công ty bia Hà Nội với tên giao dịch
quốc tế là Hà Nội Beer Company (viết tắt là HABECO).
2-/ Một số đặc điểm sản xuất kinh doanh chủ yếu của công ty bia Hà Nội.
2.1. Vị trí địa lý:
Công ty bia Hà Nội được đặt tại 70A Hoàng Hoa Thám - Quận Ba Đình
- TP. Hà Nội. Với diện tích tương đối rộng (5ha). Đây là vị trí hết sức thuận
lợi cho việc lưu thông sản phẩm hàng hoá. Hơn nữa ở vị trí này, công ty có
nguồn nước đặc biệt ngay tại mặt bằng sản xuất của mình. Mà nguyên liệu
nước chiếm 90% trong thành phần sản phẩm bia.
2.2. Đặc điểm về sản phẩm, thị hiếu và thu nhập của người tiêu dùng.
* Đặc điểm về sản phẩm: công ty bia Hà Nội có 3 loại sản phẩm: bia hơi,
bia chai, bia lon. Mỗi loại có đặc điểm khác nhau.
Bia hơi: là loại sản phẩm tươi và mát chất lượng dinh đưỡng cao, giá
thành rẻ, phù hợp với đông đảo tầng lớp dân cư trong xã hội. Nhưng đòi hỏi
yêu cầu đảm bảo vệ sinh một cách tuyệt đối. bia hơi được đóng trong thùng
nhôm 100 lít và 50 lít khi bán ra phải được tiêu thụ trong ngày, nếu để qua
đêm rất dễ bị chua, giảm chất lượng. Do vậy bia hơi rất khó vận chuyển đi xa
chỉ có những nơi gần nơi sản xuất mới tiêu thụ được loại bia này.
Bia chai: là loại bia có chất lượng dinh dưỡng cao, để được lâu, vận
chuyển đi được xa nhưng công kềnh và nó có khả năng bảo quản được lâu
hơn vàn ó được tuyệt trùng từ trước khi đem đi tiêu thụ, nhưng độ tiện lợi khi
sử dụng kém.
Bia lon: có hàm lượng chất lượng dinh dưỡng cao, để được lâu hơn bia
chai vận chuyển đi xa được dễ dàng, hình dáng lịch sự, tiện lợi trong sử dụng.
Mặc dù vậy sản lượng bia lon tiêu thụ không cao.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét