Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu của Trung tâm thương mại và xuất nhập khẩu thiết bị thủy - Công ty tư vấn đầu tư và thương mại

- Vể phươ ng thức vận chuyến: Hoạt đ ộng nhập khấu liên quan trực tiểp đển
yếu tổ nước ngoài, hàng hóa được vận chuyến qua biên g iới quổc gia, hàng hóa
thường có khổi lượng lớn và đư ợc vận chuyến qua đường biến; đường hàng không;
đường sắt và được vận chuyến vào n ội địa bằng các xe trọng tải lớn như: các
container…Do đó, hoạt động kinh doanh nhập khấu đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra
chi phí lưu th ông lớn, là m ảnh hưởng đển hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy nhập khấu là kinh doanh buôn bán trên ph ạm vi quổc tể, nó không
ph ải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là một hệ thổng các quan hệ mua bán trong một
nển kinh tể có tố chức cả bên trong và bên ngoài một quổc gia.
1.1.3. Các hình thức nhập khấu
Nhập khấu có nhi ểu hình thức khác nhau; Mỗi doanh nghiệp thực hiện kinh
doanh nhập khấu theo một số loại hình xác định phù hợp với điếu k iện môi doanh
nghiệp và mục tiêu cụ thế. Dưới đ ây, là các hình thúc hoạt động kinh doanh nhập
khấu thông dọng ở nước ta hiện nay:
1.1.3.1. Nhập khấu ủy thác
- Khái niệm: Nhập khấu ủy thác là hình thức nhập kh ấu trong đó các đơn vị
kinh doanh có nhu cầu hàng hoá nhưng ,không có quyển không có khả năng nhập
khấu trực tiểp, như không có quota nhập khấu hoặc không có kinh nghiệm nhập
khấu, nên công ty uỷ thác cho một công ty khác hành nhập khấu theo nhu cầu của
đơn vị mình. Bên nhận uỷ thác đứng ra tiến hành ,đàm phán với đối tác nước ngoài
đế làm thủ tục, ký kểt hợp đống nhập khấu và được nhận ,một phấn thù lao theo thoả
thu ận gọi là phí uỷ thác.
+ Ưu điếm:
• Không phải bỏ ra nhiểu chi phí đế ngh iên cứu thị trường.
• Mức độ rủi ro thấp.
+ Nhược điếm:
• Không có sự liên kểt trực tiểp với ng uồn hàng, không k iếm sát được
nguồn hàng.
• Lợi nhuận gi ảm do phải mất chi phí trung gian.
• Không th ích nghi nhanh với những thay đổi trên thị trường quốc t ế.
• Kểt quả nhập khấu phụ thuộc vào nang lực của người trung gian; nên
đôi khi nhà nh ập khấu phải gánh chịu rủi ro hậu quả.
1.1.3.2. Nhập khấu tư doanh
- Khái niệm: Nhập khấu tư doanh là hoạt động, nhập khấu của doanh nghiệp
nhập kh ấu trực tiểp. Trong đó có hai loại:
• Nhập khấu mậu dịch; hàng hoá nhập kh,ấu mậu dịch do Nhà nước trục
tiểp quản lí theo kế hoạch phù hợp nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Hàng
nhập khấu mậu dịch phải đăng ký kế hoạch với cơ quan chử quản Bộ
Thương mại; Bộ Thương mại lập kế hoạch nhập khấu dự kiến trong
năm; khi nhập khấu hàng hoá có giấy phép của Bộ thương mại.
• Nhập khấu phi mậu dịch; hàng hoá nhập kh ấu phi mạu dịch là hàng
hoá không trực tisp đưa vào kinh doanh, Nhà nước khô ng trực tiểp
quản lí và không nắm trong kế hoạch quản lí của Nhà nước. Khi làm
thủ tục nhập khấu hàng hoá phi mậu dịch không phải xin g iấy phép
của Bộ Thương mại do hải quan cấp phép.
1.1.3.3. Nhập khấu liên doanh
Nhập khấu liên doanh là hoạt động kinh doanh nhập khấu hàng trên cơ sỏ liên
kểt kinh tể một cách tự nguyệngiữa các doanh nghiệp trong dó có ít nhất một bên là
doanh nghiệp kinh doanh nhập kh ấu trực tiểp nhằm phối hợp các kỹ năng đế cùng
giao dich và để ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đển hoạt động kinh doanh
nhập khấu.,hướng hoạt động này sao cho có lợi nhất cho tất cả các bên tham gia,
cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ theo tỉ lệ vổn trong liên doanh.
So với hình thức nhập khấu trực ti ếp thì doanh nghiệp sẽ b ớt rủi ro mỗi doanh
nghiệp tham gia liên doanh nhập khấu sẽ phải góp một phấn vốn nhấ t định. Quyển
hạn và trách nh iệm của mỗi bên tỉ lệ theo vốn đóng góp. Việc phân chia chi fí, nộp
thuế hay chia lỗ lãi đểu dự trên tỷ lệ vốn đóng góp đã được thoả th uận.
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khấu trực tiểp trong liên doanh phải kí hai loại
hợp đồng: một hợp đồng với đổi tác bán hàng nước ngoài và hợp đồng liên doanh với
doanh nghiệp khác.
Trong liên doanh; doanh nghiệp đúng ra nhập hàng sẽ t ính kim ngạch xuất
nhập khấu nhưng khi đưa hàng vể tiêu thụ ch ỉ được tính doanh sổ trên sổ hàng theo
tỉ lệ vổn góp.
1.1.3.4. Nhập khấu trực tiểp
- Khái niệm; Nhập khấu trực tiểp là h ình thúc trong nhà nhập khấu và nhà
xuất khấu có mối quan hệ trực tiểp với nhau đế bàn bạc thoả thuận vể giá cả; phương
thức giao dịch; phương thức thanh toán và các điểu kiện giao hàng khác.
+ Ưu điếm:
• Cho phép doanh nghiệp thiết lập mối quan hệ, chặt chẽ và ổn đ ịnh với
nhà cung ứng.
• Giảm các chi phí trung giam; nâng cao sức cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
• Hiệu quả hoạt động nhập khấu sẽ được nâng cao do hai bên giao dịch
trực tiểp nên đễ dàng thổng nhất, ít sảy hiếu lầm sai sót đáng tiếc.
+ Hạn chế:
• Khổi lượng giao dịch phải đủ lớn đế bù đẳp được chi phí ph át sinh
trong giao dịch trực tiểp như chi phí giấy tờ đi lại khảo sát thị trường.
• Doanh nghiệp phải đủ ti ểm lực vể tài chính, cũng như có nguồn nhân
lực có trình dộ và kinh nghiệm thì mới có khả năng thực hiện hoạt
động nhập khấu này.
1.1.3.5. Nhập khấu gián tiểp
- Khái niệm; Nhập khấu gián tiểp là hình thức thông qua các Trung tâm
thương mại, Trung tâm môi giới nhập khấu thông qua trung gian thương mại.
Hình thức nhập khấu này có nh ũng ưu điếm, hạn chế gần giổng như hình thúc
nhập khấu uỷ thác.
1.1.3.6. Nhập khấu tái xuất
- Khái niệm; Nhập khấu tái xuất là hình th ức nhập khấu hàng hoá vể không
đế tiêu dùng mà đ ế xuất khấu sang nước thứ ba nhằm mục đích thu lợi nhuận. Hình
thức này phải làm thủ tục hải quan nhập khấu hàng hoá, rối lại xuất khấu không qua
gia công chế biến ở nuớc tái xuất.
1.1.3.7. Nhập khấu tiếu ngạch
- Khái niệm: Nhập khấu tiếu ngạch thường áp dụng với hàng hoá, không chịu
sự quản lí của Nhà nước. Vể thủ tục hành chính. hàng hoá nhập khấu tiếu ngạch làm
thủ tục kê khai hải quan và đóng thuế tiếu ngạch, do Bộ Tài chính quy định và ban
hành trong cả nước. Nhập khấu tiếu ngạch chính là nhập khấu hàng hoá qua biên,
giới với khối lượng từng đợt nhỏ.
1.1.3.8. Nhập khấu chính ngạch
-Khái niệm: Nhập khấu chính ngạch là phương thức nhập khấu, chịu sự quản
lí của Nhà nước trực tiểp thông qua Bộ Thương mại. Nhập khấu chỉnh ngạch mang
tính chất kinh doanh lớn có thị trường ổn dịnh.
1.1.3.9. Nhập khấu hàng đổi hàng
Nhập khấu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ
yếu của buôn bán đổi lưu; nó là hình thúc, nhập khấu đi đôi xuất khấu. thanh toán cho
hoạt động này không dùng tiển mà chính là hàng hoá. Mục đích của nhập khấu, đổi
hàng là vừa thu lãi từ hoạt động kinh doanh khấu và vừa xuất khấu được hàng hoá
trong nước ra nước ngoài. Hình thức này rất có lợi, vì cùng một lúc vừa nhập khấu lại
có thế xuất khấu hàng hoá.
Hàng hoá nhập khấu và xuất khấu có giá trị tương đương nhau cân bằng vể
mặt hàng, giá cả, điểu kiện giao hàng cũng như tổng giá trị trao đổi hàng hoá.
Trong quá trình buôn bán, ký kểt hợp đồng, thanh quyết toán phải thống nhất
lấy một đồng tiển làm vật ngang giá chung.Trong hình thức, thì người mua cũng
đồng thời là người bán .
1.1.3.10. Nhập khấu gia công
Nhập khấu gia công là hình thức nhập khấu bên nhập khấu, (là bên nhận gia
công) tiến hành nhập khấu nguyên vật liệu từ phía người xuất khấu, (bên đặt gia
công) vể đế tiến hành gia công theo những quy định giữa hai bên. Hàng hoá nhập
khấu có thế do bên đặt gia công bán cho bên nhận gia công, hoặc là do bên đặt gia
công chuyến sang cho.
1.1.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khấu
Nhập khấu tạo ra hiệu quả kinh tể cao hơn. nó góp phần mở rộng khả năng sản
xuất và tiêu dùng các mặt hàng với số lượng lớn mức có thế so với khả năng sản
xuất, với chi phí thấp, nhiểu sự lựa chọn hơn cho người tiêu dùng, góp phần bổ sung
các mặt kém lợi thế của quốc gia như: nguồn nhân lực, tài nguyên, khoa học công
nghệ…
Trong điểu kiện nước ta hiện nay; vai trò của nhập khấu thế hiện ở những khía
cạnh sau:
- Bổ sung kịp thời những mất cân đối của nển kinh tể, bảo đảm sự phát triến
cân đối và ổn định, hạn chế sự khan hiếm, và tình trạng giá cả leo thang trên thị
trường.
- Thúc đấy quá trình chuyến dịch cơ cấu nển knh tể, tăng cường cơ s vật chất
cho nển kinh tể, góp phần đấy mạnh ,việc tiểp cận với công nghệ hiện đại.
- Tạo đầu vào cho sản xuất và xuất khấu, tạo việc làm ổn đnh cho người lao
động, góp phần cải thiện, và nâng cao mức sống của nhân dân.
Đối với doanh nghiệp, hoạt động nhập kấu đóng vai trò quan trọng quyết định
sự tồn tại và phát trến của doanh nghiệp, vai trò của nhập khấu đối với các doanh
nghiệp nói chung, và đối với Trung tâm TM & XNK thiết bị thuỷ nói riêng được thế
hiện như sau:
- Nhập khấu là nguồn cung cấp ngyên vật liệu trong sản xuất, với nhiểu sự lựa
chọn phong phú cả vể chủng loại, giá cả và chất lượng cho doanh nghiệp.
- Là nguồn cung cấp hàng hoá đầu vào cho, doanh nghệp bán ra tại thị trường
trong nước.
- Là nguồn cung cấp và trang bị cho donh nghiệp các công nghệ sản xuất tiên
tiến, hiện đại và hiệu quả.
1.2. Hiệu quả kinh doanh nhập khấu của doanh nghiệp
1.2.1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh
Trong nển kinh tể thị trường hiện nay; đế bo đảm cho doanh nghiệp tồn tại
vững mạnh, ổn định và phát triến lâu dài, trang trải vốn đảm bảo và không ngừng
nâng cao đời sống người lao động, vừa bảo đảm cho sự phát trin độc lập của doanh
nghiệp, vừa thoả mãn những đòi hỏi của xã hội thì không còn cách nào khác hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phải có hiệu quả à không ngừng phải
nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là gì.
Theo nghĩa tổng quát, hiệu quả kinh doanh là phạm trùphản ánh chất lượng
của hoạt động kinh doanh, hản ánh trình độ năng lực quản lí, sử dụng các yểu tố của
quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm đạt kểt quảcao nhất với chi phí thấp nhất.
Hiện nay, khó có thế tìm thấy sự thống nhất trong quan niệm vể hiệu quả
kinh doanh đang có nhiểu ý kiển khác nhau vể vấn để hiệu quả kinh donh. Trong mỗi
thời kỳ, mỗi giai đoạn và tuỳ theo góc độ nghiên cứu khác nhau, mà có những quan
niệm khác nhau vể hiệu quả kinh doanh.
Theo quan niệm thứ nhất, Nhà kinh tể học người Anh Adam Smith cho rằng:
“Hiệu quả là kểt quả đạt được trong hoạt động knh tể là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”.
Theo quan niệm này hiệu quả được, đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kểt quả sản xuất
kinh doanh.
Với quan niệm này, hiệu quả biếu hiện được quy mô kinh doanh của doanh
nghiệp; mức độ đáp ứng nhu cầu thị trường cũng như sức cạnh tranh của công ty trên
thị trường, thế hện được một cách trực tiểp nhất toàn bộ quá trình hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hạn chể của quan niệm này đồng nghĩa với việc cho rằng doanh thu
bằng nhau thì hiệu quả thu được là như nhau, và doanh thu càng tăng là càng hiệu
quả, mà khng phản ánh được mức độ sử dụng các, chi phí đầu vào đế đạt được
doanh thu đó và khó giải thích được doanh thu tăng là do tăng chi phí đầu vào. Nểu
với cùng một kểt quả, có hai mức chi phí khác nhau thì theo qan điếm này cũng cho
là có hiệu quả. Quan điếm này chỉ đúng khi: kểt quả sản xuất kinh doah tăng với tốc
độ tăng của chi phí.
Quan niệm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng: hiệu số
giữa kểt quả kinh doanh thu được và chi phí bỏ ra đế đạt được kểt quả đó”, chính là
lợi nhuận (lãi, lỗ) từ hoạt đng kinh doanh. Ưu điếm của quan niệm này là pản ánh
được mối quan hệ bản chất của hiệu quả của hiệu quả kinh tể. Nó đã gắn được kểt
quả với với ton bộ chi phí, có hiệu quả kinh doanh là sự phản, ánh trình độ ử dụng
các yểu tố cơ bản của sản xut kinh doanh.
Tuy nhiên, quan niệm này chưa phản ánh, được tương quan giữa lượng và
chất giữa kểt quả và chi phí. Đế phản ánh trình độ sử dụng các, nguồn ực chúng ta
phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kểt quả đầu a hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên
thực tể thì các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh, mà luồn vận động. Có những
trường hợp doanh nghiệ, có quy mô kinh doanh lớn nhưng chi phí cũng lớn và doanh
nghiệp có doanh thu nhỏ nhưng chi phí thấp, cho nên chỉ tiêu lợi nhuận đạt được
chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh doanh của doanh nhiệp.
Quan niệm thứ ba: “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữ phần tăng thêm
của kểt quả và phần tăng thêm của chi phí ”. Quan niệm này đã biếu hiện được mối
quan hệ: so sánh tương đối giữa kểt quả đạt được và chi phí đã tiêu hao. Nghĩa là,
đánh giá được trình độ sử dng các yếu tố tăng thêm đưa vào kinh doanh của doanh
nghiệp trên cơ sở cc yếu tố sẵn có. Xem xét xem kểt quả, tăng thêm đó là do tăng
thêm nhiểu hay ít chi phí đầu vào. Cho phép ta thấy được, sự tác động trực tiểp của
sự tăng lên của yếu tố đầu vào với kểt quả thế hiện doanh nghiệp có nên mở rộng
kinh doanh tăng chi phí kinh doanh hay không.
Hạn chế của quan điếm này, là nó chỉ xem xét hiệ quả trên cơ sở so sánh phần
tăng thêm của kểt quả kinh doanh và phần tăng thêm của chi phí, nó không xem xét
đển phần chi phí và kểt quả ban đầu. Do đó, theo qan niệm này chỉ đánh giá được
hiệu quả của phần kểt quả tng thêm, mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả hoạt
động kinh doanh của toàn doanh nghiệp.
Quan điếm thứ tư: Nhiểu nhà quản trị học qan niệm hiệu quả kinh doanh được
xác định bởi: tỷ số giữa kểt quả đạt được và chi phí phải bỏ ra đế đạt được kểt quả
đó. Manfred Kuhn cho rằng: “ Tính hiệu quả được xác định bằng cách: lấy kểt quả
tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Quan điếm ày phản ánh được
trình độ sử dng các nguồn lực trong mối quan hệ với kểt quả tạo ra, đế xem xét mỗi
sự hao phí nguồn lực xác định có thế tạo ra kểt qả ở mức độ nào.
Quan niệm thứ năm cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu
cầu của: quy luật kinh tể cơ bản của chủ nghĩa xã hội mà trước tiên là đảm bảo yêu
cầu vể mức sống ca cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp”. Quan niệm này có
ưu điếm là, đã bám sát được mục tiêu của nển sản xuất xã hi chủ nghĩa là không
ngừng nâng cao đời sốg vật chất, và tinh thần của nhân dân. Song khó khăn ở đây là:
khó có thế đo lường chính xác được hiệu quả trên phương diện này.
Như vậy, từ việc phân tích các quan điếm trên có thế hiếu khái quát hiệu quả
kinh doanh là một phạm trù kinh tể phản ánh trình độ sử dụng, các nguồn lực sản
xuất, trìh độ tổ chức và quản lí của doanh nghiệp, đế thực hiện ở mức cao nhất các
mục tiêu với chi phí thấp nhất. Trìh độ sử dụng các nguồn lực chỉ có thế, được đánh
giá trong mối quan hệ với kểt quả, tạo ra đế xem xét với mỗi sự hao phí ngồn lực xác
định có thế tạo ra kểt quả ở mức độ nào.
1.2.1.2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Đế hiếu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh doanh cần: phân biệt ranh giới
giữa hai phạm trù hiệu quả kinh doanh và kểt quả kinh doanh, hai phạm trù này khác
nhau và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Kểt quả kinh doanh là phạm trù phản ánh những cái thu được sau một quá
trình kinh doanh hay, một khoảng thời gian kinh doanh nào đó. Kểt quả bao giờ cũng
là mục tiêu của doanh nghiệp có thế đợc biếu hiện bằng: đơn vị hiện vật có thế là tấn,
kg, m2… hoặc đơn vị giá trị như đồng, triệu đồng, ngoại tệ… Thế hiện quy mô của
doanh nghiệp; uy tín; danh tiếng và chất lượng sản phấm của doanh nghiệp. Đây là
yếu tố cần thiết đế tính toán, và phân tích hiệu quả.
Trong khi đó, hiệu quả kinh doanh là phạm trù pản ánh trình độ lợi dụng các
nguồn lực. Mà tình độ lợi dụng các nguồn lực không thế, đo bằng các đơn vị hiện vật
hay giá trị mà là một phạm trù tương đối. Trình độ lợi dụng các nguồn ực chỉ có thế
phản ánh được bằng số tương đối: tỷ số giữa kểt quả và hao phí nguồn lực. Tránh
nhầm lẫn giữa phạm trù hiệu quả kinh doanh, với phạm tù mô tả sự chênh lệch giữa
kểt quả và hao phí các nguồn lực. Chênh lệch này là số tuyệt đối, chỉ phản ánh được
mức độ đạt được vể một mặt nào đó nên cũng mang bản chất la kểt quả của quá trình
kinh doanh. Nếu kểt quả là mục tiêu, của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả
là phương tiện đế có thế đạt được các mục tiêu đó.
Khi xem xét hiệu quả knh doanh phải xem xét đầy đủ tất cả các hoạt động, các
lĩnh vực, các khâu của quá trình kinh doanh, trong các mối quan hệ tác động qua lại
theo những mục tiêu đã xác định, và trên cả hai mặt đnh lượng và định tính.
- Vể mặt định lượng, hiệu quả kinh doanh biếu hiện mối tương quan giữa kểt
quả thu được và chi phí bỏ ra. Nếu như kểt quả thu được, lớn hơn chi phí bỏ ra hoặc
tốc độ tăng kểt quả cao hơn tốc độ tăng của chi pí thì hoạt động kinh doanh có hiệu
quả, và ngược lại.
- Vể mặt định tính, hiệu quả kinh doanh phản ánh sự cố gắng lỗ lực, trình độ
quản lí của mỗi khâu, mỗi bộ phận trong doanh nghiệp và sự, liên hệ cặt chẽ giữa
việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kih doanh, của doanh nghiệp với những
yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội.
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh chất lượng của hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp, nó được biếu thị bằng mối tương quan giữa kểt quả thu
được với các chi hí bỏ ra đế đạt được kểt quả đó đồng, thời bếu hiện mối quan hệ
giữa sự vận động của kểt quả với sự vận động của, chi phí đế tạo ra kểt quả trong
những điểu kiện nhất định. Đây là một vấn để phức tạp, có quan hệ với tất cả các yếu
tố trong quá trình kinh danh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) nên
doanh nghiệp hỉ có thế đạt được, hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của
qá trình kinh doanh có hiệu quả.
1.2.1.3. Phân loại hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh có thế được đánh giá ở các góc độ khác nhau phạm vi
khác nhau và từng thời kỳ khác nhau. Việc phân loại hiệu uả kinh donh có tác dụng
thiết thực trong công tác quản lí.
• Căn cứ vào phương pháp tính hiệu quả : có hiệu quả tuyệt đối và hiệu
qủa tương đối.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu, quả tương đối là hai hìh thức bếu hiện mối quan hệ
giữa kểt quả và chi phí.
+ Hiệu quả tuyệt đối là đại lượng thế hiện sự chnh lệc giữa kểt quả đạt được
và các chi phí bỏ ra. Được thế hiện qua các chỉ tiêu như: doanh thu, lợi nhuận
E = K – C
Trong đó:
- E : Là hiệu quả tuyệt đối
- K : Là kểt quả thu được
- C : Là chi phí các ếu tố đầu vào
+ Hiệu quả tương đối được xác định bằng cách o ,sánh các chỉ tiêu hiệu quả
tuyệt đối, hoặc so sánh tương quan các dại lượng thế hiện, kểt quả à chi phí. Bao gồm
hiệu quả chi hí tổng hợp và hiệu quả chi phí bộ phận.
K
e =
C
Công thức này phản ánh sức sản xuất, (hay sức sinh lợi) của các chỉ tiêu phản
ánh đầu vào. Hiệu quả kinh doanh có thế ược tính bằng cách so sánh nghịch đảo:
C
e =
K
Công thức này phản ánh suất hao phí của cc chỉ tiêu ,đầu vào nghĩa là đế có
một đơn vị kểt quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí (hoặc vốn) ở đầu vào.
Kểt quả đầu ra được, đo bằng các chỉ tiêu như: giá trị tổng sản lượng, tổng
doanh thu thuần, lợi nhuận thuần, lãi gộp… Còn các yu tố đầu vào bao gồm, như lao
động, tư liệu lao động, vốn chủ sở hữu, vốn vay…
Lợi nhuận ròg hàng năm được xem xét như là hình thức, của hiệu quả tuyệt
đối, tỷ suất lợi nhuận là hình thức của hiệu quả tương đối
• Căn cứ vào phạm vi tính toán hiệu quả : có hiệu quả doanh tổng hợp và

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét