Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
sơmi nam được coi là sản phẩm mũi nhọn của công ty. Mỗi sản phẩm của
công ty đều thể hiện sự phong phú, chất lượng, phù hơp với thị hiếu của
người tiêu dùng.
1.1.2 Khả năng xuất khẩu sản phẩm may mặc của doanh nghiệp
Cuối năm 2007 tại Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới WTO, đây là cơ hội vàng cho ngành dệt may phát triển, vì không bị
khống chế về hạn ngạch. Khi đó nhiều nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ quan tâm
vào ngành sản xuất dệt may tại Việt Nam, các doanh nghiệp tại nước thứ ba
cũng sẽ vào đặt hàng. Như vậy số lượng hàng hoá xuất khẩu sẽ tăng lên. Điều
đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư mở rộng, đầu tư mới và thu hút thêm
các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam gia nhập WTO sẽ là cơ hội cho các
doanh nghiệp may xuất khẩu, giá cả, chất lượng sản phẩm và thời gian giao
hàng của các doanh nghiệp được bình đẳng với các nước và ngành dệt may
Việt Nam có điều kiện huy động tối đa năng lực thiết bị và tay nghề hiện có.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã có uy tín trên thị trường quốc tế, được khách
hàng trong và ngoài nước biết đến như Việt Tiến, Nhà Bè, Phương Đông, May
Sài Gòn 3,May An Phước, May 10, May 28 sẽ có cơ hội tiếp nhận các đơn
hàng lớn. Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm ăn,
góp phần tạo nên sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.
May 10 là công ty xuất khẩu hàng may mặc có tên tuổi trên thị trường quốc tế,
với kinh nghiệm đã tích luỹ được nhiều cơ hội sẽ đến với công ty, nếu nắm bắt
kịp thời và tận dụng được các cơ hội từ môi trường kinh doanh quy mô của
công ty có thể sẽ được mở rộng đáng kể.
1.2. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN PHẨM MAY MẶC
Nhu cầu về sản phẩm may mặc là rất đa dạng, số lượng lớn và thường
xuyên do sản phẩm may mặc là mặt hàng thiết yếu, không một người tiêu
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
dùng nào không cần đến nó. Điều này làm cho thị trường may mặc luôn sôi
động với các hoạt động mua và bán.
Yêu cầu về công nghệ và vốn đối với sản phẩm may mặc thấp hơn các
sản phẩm khác, do đó cạnh tranh về giá không quan trọng, thị trường không
co giãn về giá, giá cả thay đổi nhưng không làm cầu trên thị trường thay đổi.
Đối với lĩnh vực xuất khẩu thị trường xuất khẩu về cả khách hàng lẫn phạm vi
địa lý là rất rộng lớn, nhất là khi nền kinh tế đang có xu thế toàn cầu hoá như
hiện nay đã tạo ra rất nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản
phẩm nhưng cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho doanh nghiệp trong việc tiến
hành các hoạt động kinh doanh xác định đúng đối tượng khách hàng, các khu
vực sẽ xâm nhập nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất phù hợp với
mục tiêu của doanh nghiệp, dựa trên những điều kiện có hạn của chính công
ty may 10.
Đối với các nước nhập khẩu trên thế giới, hàng may mặc được chia làm
4 phân nhóm chính:
- Các sản phẩm thời trang cao cấp: Các sản phẩm may mặc có mầu sắc,
kiểu dáng thời trang, chất lượng
- Các sản phẩm được sản xuất từ các nguyên liệu thô :Casơmia, len
angora, len môhai và các loại len quý hiếm khác
- Các sản phẩm có hàm lượng lao động cao
- Các sản phẩm nghệ thuật thủ công truyền thống.
Hiện nay các doanh nghiệp may mặc Việt Nam đang tận dụng lợi thế
nguồn nhân lực giá rẻ dồi dào của đất nước, các sản phẩm sản xuất ra chủ yếu
là hàng thông thường, có hàm lượng lao động cao.
* 4 xu hướng lớn trong thương mại dệt may thế giới hiện nay:
- Các nước phát triển tại châu Âu, Bắc Mỹ và châu Á tiếp tục bị giảm
bớt thị phần, do phải đối mặt với sự cạnh tranh gia tăng từ các nước sản xuất
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hàng dệt may giá rẻ. Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc đối trọng lại bằng
biện pháp tập trung vào hàng cao cấp.
- Các nhà sản xuất đối tác của Hoa Kỳ và EU cũng bị giảm thị phần.
Việc liên kết gia công Mexico – Trung Mỹ tại Hoa Kỳ và Bắc Phi - Thổ Nhĩ
Kỳ tại EU đã hạn chế bớt giảm sút của những nhà sản xuất này.
- Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may, mặc dù bị
Hoa Kỳ và EU áp dụng chế độ hạn chế và kiểm soát nhập khẩu. Biện pháp
chính được Trung Quốc áp dụng trong năm 2006 là đa dạng hoá thị trường
xuất khẩu, trong đó chú trọng tăng thị phần tại các nước châu Á.
- Các nước đang phát triển tại châu Á tiếp tục được lợi từ những sản
phẩm dệt may xuất khẩu giá rẻ của mình. Bangladesh, Campuchia và Việt
Nam là những nước thắng lợi trong thời kỳ hậu hạn ngạch hàng dệt may thế
giới, cùng với Trung Quốc.
Như vậy cơ hội cho ngành dệt may Việt Nam nói chung cũng như với
công ty May 10 nói riêng trong thời gian tới là rất nhiều .Yêu cầu đặt ra đối
với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc là phải tìm ra cách thức xâm
nhập thị trường hàng may mặc thế giới phù hợp với điều kiện thực tế của
doanh nghiệp nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất.
1.3. NỘI DUNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU CHO SẢN
PHẨM MAY MẶC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Sau Trung Quốc, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ tăng rất
mạnh trong hai năm qua, bất chấp những khả năng bị Mỹ đánh thuế chống
bán phá giá.
Lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam ở Cat 338/339 (sơ mi dệt kim
bông) tăng 54% và tăng 32% ở Cat 347/348 (quần vải bông).
Thêm vào đó, Việt Nam không bị sức ép cạnh tranh của Trung Quốc vì
Mỹ đã xóa bỏ các hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam, như ở Cat
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
341/641 (sơ mi dệt thoi dành cho phụ nữ và thiếu nữ), lượng hàng xuất khẩu
của Việt Nam tăng 57%.
Nhưng ở hai Cat hàng này, thị phần hàng Việt Nam vẫn ở mức khiêm
tốn 3.45% so với mức vượt trội 46% của Trung Quốc.
Tuy nhiên, so với các đối thủ cạnh tranh Nam Á, thị phần của các nhà
xuất khẩu Việt Nam vẫn tăng cao ở các mặt hàng xơ nhân tạo
Mặt khác, khó khăn lớn nhất đối với ngành dệt may hiện nay là để mất
thị trường Mỹ. Để Quốc hội Mỹ chấp thuận thông qua việc áp dụng Quy chế
thương mại bình thường vĩnh viễn đối với Việt Nam (PNTR), Chính phủ Mỹ
đã cam kết sẽ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt
Nam và áp dụng biện pháp chống bán phá giá. Tất cả các nhà nhập khẩu Mỹ
cho rằng việc áp dụng biện pháp này sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh của họ, bởi họ không thể lường trước được khi nào sẽ bị tăng thuế.
Điều này đồng nghĩa với việc nhiều nhà nhập khẩu Mỹ sẽ quay lưng lại với
hàng dệt may Việt Nam và lựa chọn một đối tác làm ăn khác ít bị rủi ro hơn.
Theo ông Ân, nhiều nhà nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam ở Mỹ đang
chuyển hướng đầu tư và đơn hàng sang các nước khác. "Theo dự báo trước
đây, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may sẽ tăng 15-20%/năm, nhưng nếu Mỹ
áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may Việt Nam và áp dụng
biện pháp chống bán phá giá, thì mức tăng chỉ còn khoảng 5-7%/năm".
Hiện ngành dệt may có khoảng 2 triệu lao động đang làm việc và việc
Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc biệt đối với ngành dệt may sẽ gây khó khăn
cho người lao động. Theo ông Lê Quốc Ân, có thể số lao động ngành dệt may
chưa bị giảm đi trong năm 2007 vì Mỹ mới bắt đầu áp dụng chế độ theo dõi
này, nhưng từ năm 2008 trở đi, mức độ ảnh hưởng sẽ tăng cao.
Để hạn chế ảnh hưởng bất lợi từ việc Mỹ áp dụng chế độ theo dõi đặc
biệt, ngành dệt may dự kiến sẽ mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác,
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đồng thời chú trọng nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm, đầu tư sản
xuất nguyên phụ liệu ngay tại thị trường nội địa.
Riêng đối với thị trường Mỹ, ngành sẽ coi trọng điều tiết, kiểm soát cả
về số lượng, chủng loại và giá cả hàng hoá xuất sang thị trường này, đồng
thời tiếp tục vận động chính quyền Mỹ sớm chấm dứt chế độ theo dõi đặc biệt
đối với ngành dệt may Việt Nam cũng như không áp dụng biện pháp chống
bán phá giá.
Trước sự biến động của thị trường thế giới, để mở rộng thị trường xuất
khẩu bắt buộc các doanh nghiệp dệt may phải hiểu rõ thị trường và xu hướng
biến động, cụ thể, phải tiến hành các hoạt động sau:
1.3.1 Nghiên cứu thị trường để lựa chọn đoạn thị trường và lập
chiến lược kinh doanh.
Ngày nay nghiên cứu thị trường trở thành một công cụ không thể thiếu
trong việc nắm bắt thị trường, được sử dụng một cách rất phổ biến. Hoạt động
nghiên cứu thị trường được dùng để thu thập các thông tin trên thị trường như
thông tin về các sản phẩm mới, chính sách của nhà nước (dự kiến phân bổ
ngân sách nhà nước, thuế xuất nhập khẩu, các thoả thuận của nhà nước có liên
quan đến thị trường ), thông tin về các đối tác, khách hàng tiềm năng, nhu
cầu khách hàng, xu hướng tiêu dùng Dựa trên những thông tin trên doanh
nghiệp có thể dự đoán thị trường và đưa ra những quyết định đúng đắn để có
thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường, củng cố vị trí của mình trên thị
trường.
Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp sẽ có nhiều thông tin
hơn để đề ra những kế hoạch kinh doanh phù hợp, xác lập các kênh phân phối
hiệu quả, định ra mức giá cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp. Thu
thập thông tin về giá của đối thủ cạnh tranh, giá nguyên vật liệu đầu vào, thu
thập thông tin về sự phân phối lợi nhuận trong các thành phần tham gia phân
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phối sản phẩm để kịp thời điều chỉnh nhằm tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm, tăng lợi nhuận cho mình. Qua đó có thể định vị giá một cách hợp lý.
Ngoài ra nghiên cứu thị trường còn là cơ sở cho phép doanh nghiệp
đánh giá thái độ của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp để từ đó
cải tiến dịch vụ khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh và tìm ra một định
vị mới thích hợp cho sản phẩm của mình.
Đối với thương mại quốc tế, do tính chất phức tạp của nó, việc nghiên
cứu luật pháp liên quan đến mua bán hàng hoá trên thị trường như
Luật Thương mại, Luật Hải quan, Luật chóng bán phá giá, chống độc quyền ,
các tập quán và thông lệ quốc tế, các đặc điểm văn hoá - xã hội là các yếu tố
cần phải xem xét, cân nhắc và rất cần thiết để doanh nghiệp xâm nhập vào thị
trường nước ngoài.
Tuy nghiên cứu thị trường có vai trò rất quan trọng trong hoạt động
kinh doanh nhưng các cuộc điều tra gần đây cho thấy chi phí cho nghiên cứu
thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam rất thấp, không chỉ so với các nước
phát triển mà chi phí này của Việt Nam còn thua nhiều nước trong khu vực.
Đại diện Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã thừa nhận, ít doanh
nghiệp Việt Nam có thói quen thu thập và xử lý thông tin trước khi ra quyết
định. Các doanh nghiệp cũng ít quan tâm đầu tư cho hoạt động thông tin cả về
con người lẫn phương tiện. Việc thu thập thông tin về phía nước ngoài và đối
tác là doanh nghiệp nước ngoài thường rất khó khăn đối với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa. Đây là một thực trạng đáng cảnh báo, vì những lợi thế giúp các
doanh nghiệp thành công trước đây như yếu tố giá nhân công rẻ, sự hỗ trợ của
chính phủ, đang mất dần. Mức độ cạnh tranh trên thị trường tăng lên do
phải mở cửa theo lộ trình cam kết gia nhập WTO đòi hỏi các doanh nghiệp
phải tạo sức cạnh tranh thông qua xây dựng và quảng bá thương hiệu. Các
doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn thị trường trong nước và quốc tế, điều này sẽ
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
giúp cho sản phẩm, thương hiệu và dịch vụ có được hiệu quả tốt trong việc
gia nhập và chiếm lĩnh thị trường.
1.3.2. Chọn phương thức gia nhập thị trường quốc tế phù hợp với
tiềm năng và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Phương thức gia nhập thị trường quốc tế gồm có:
- Xuất khẩu gián tiếp.
- Xuất khẩu trực tiếp.
- Tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hoá.
- Liên doanh.
- Thành lập chi nhánh thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp ở nước
ngoài.
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam đang cố
gắng xuất khẩu trực tiếp và thành lập các chi nhánh ở nước ngoài để tiến hành
hoạt động trao đổi với các doanh nghiệp nước ngoài thuận tiện hơn.
1.3.3. Xây dựng chiến lược thị trường và phát triển thị trường xuất
khẩu
Thị trường là mảnh đất tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, để đứng
vững ở thị trường nước ngoài cần xây dựng chiến lược thị truờng ngay từ khi
bắt đầu kinh doanh.
Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp xuất khẩu thường
có chiến lược đa dạng hoá thị trường để tránh mất thị trường ảnh hưởng đến
khối lượng hàng hoá xuất khẩu. Không nên "độc canh" trên một thị trường vì
sẽ gặp rủi ro khi thị trường thay đối. Cần lựa chọn một số thị trường nhất định
để khỏi phụ thuộc vào một khách hàng nào đó nhằm phát triển thị trường.
Phát triển thị trường là phát triển sản phẩm, phát triển khách hàng, phát triển
địa bàn kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.3.4 Nâng cao năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu
Trên thị trường quốc tế chỉ có các sản phẩm, các doanh nghiệp có năng
lực cạnh tranh mới có thể xâm nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu, ngược
lại những sản phẩm kém năng lực cạnh tranh sẽ không tiêu thụ được, các
doanh nghiệp phải nâng cấp năng lực cạnh tranh nếu không muốn bị phá sản.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu là khả năng đáp ứng nhu
cầu khách hàng nước ngoài về chất lượng, giá cả, kiểu dáng, thương hiệu, bao
bì, tính độc đáo hay sự khác biệt so với sản phẩm cùng loại trên thị truờng
quốc tế. Doanh nghiệp muốn phát triển thị trường xuất khẩu phải có được ưu
thế cạnh tranh về chất lượng, giá cả, kiểu dáng, so với đối thủ cạnh tranh.
1.3.5 Khắc phục rào cản trong thương mại quốc tế của doanh
nghiệp
Rào cản thương mại quốc tế là tất cả những chính sách, quy định, biện
pháp của Chính phủ nhằm hạn chế, ngăn cản sự thông thương hàng hoá của
nước mình với các nước, gồm:
-Thuế quan các loại.
-Quota, giấy phép nhập khẩu, các quy định hạn chế hoặc ngăn cấm
nhập khẩu, chống bán phá giá.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật: về chất lượng, quy cách bao bì, ký mã hiệu,
nhãn hiệu sản phẩm, các trách nhiệm xã hội và môi trường của doanh nghiệp.
Trong đó các rào cản kỹ thuật có xu hướng được sử dụng phổ biến và
chủ yếu trong thương mại quốc tế.
Đối với một doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá ra thị trường quốc tế thì
điều đầu tiên là phải nghiên cứu kỹ luật pháp nước nhập khẩu để kịp thời tìm
ra các rào cản, từ đó có biện pháp thích nghi nhằm xâm nhập thị trường có
hiệu quả.
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.4. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU SẢN
PHẨM MAY MẶC
1.4.1 Các nhân tố tự nhiên
Các nhân tố tự nhiên như khí hậu, địa lý…luôn là yếu tố được các
doanh nghiệp quan tâm khi bắt đầu hoạt động và trong suốt quá trình tồn tại,
phát triển của mình. Những biến động của tự nhiên như mưa, nắng, bão, lụt,
…có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chúng
gây ra những hao mòn tự nhiên, nếu không quan tâm đến sẽ gây ra những
thiệt hại không đáng có cho doanh nghiệp.
Đối với sản phẩm may mặc, thời tiết sẽ quy định chất liệu, kiểu dáng,
màu sắc, mẫu mã sản phẩm. Sự thay đổi về thời tiết sẽ dẫn đến những thay
đổi về sản phẩm may mặc. Vì vậy nghiên cứu các nhân tố tự nhiên là rất cần
thiết đối với công ty.
1.4.2 Các nhân tố kinh tế
Sự ổn định hay bất ổn định về kinh tế, chính sách kinh tế của các quốc
gia, khu vực tác động trực tiếp đến hoạt động và hiệu quả của hoạt động kinh
doanh chính của các công ty nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu của công
ty nói riêng. Vì vậy, đối với công ty cần nghiên cứu một số vấn đề như:
* Cấu trúc công nghiệp của nước sở tại: Định hình các nhu cầu về sản
phẩm, dịch vụ, mức lợi tức và mức độ sử dụng nhân lực. Có 4 loại cấu trúc
công nghiệp:
- Nền kinh tế tự cung tự cấp
- Nền kinh tế xuất khẩu nguyên liệu thô
- Nền kinh tế đang công nghiệp hoá
- Nền kinh tế công nghiệp hoá
* Sự phân bổ thu nhập: Phản ánh khả năng thanh toán và sử dụng của
người tiêu dùng
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước nhập khẩu: Ảnh huởng đến
tổng cầu thị trường và tổng mức nhập khẩu hàng hoá của quốc gia đó. Nó
được biểu hiện qua GNP, GDP bình quân trên đầu người,, tốc độ tăng trưởng,
sự ổn định kinh tế
* Xu thế phát triển và hội nhập kinh tế vùng và trên biên giới: Giảm bớt
các rào chắn thương mại giữa các quốc gia thành viên, thúc đẩy các di chuyển
trên thị trường quốc tế về đầu tư, nhân tố đầu vào…và các chính sách kinh tế,
tài chính, tỷ giá hối đoái…Hội nhập có ảnh hưởng đến lợi ích các quốc gia
tham gia khối kinh tế, dẫn đến các thay đổi quan trọng trong các quốc gia
thành viên. Quan trọng nhất là tăng áp lực về cạnh tranh đối với sản phẩm
xuất khẩu.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả
kinh doanh của một doanh nghiệp. Các yếu tố kinh tế có thể và phải được tính
đến là: Tốc độ tăng trưởng của GDP, lãi suất tiền vay, mức độ thất nghiệp,
chính sách tài chính, tỷ lệ lạm phát,…Các nhân tố này có tác động trực tiếp
đến tình hình sản xuất, xuất khẩu của công ty, vì vậy yêu cầu công ty phải
nghiên cứu và nắm bắt được xu hướng vận động của các yếu tố kể trên để có
hướng đi đúng.
1.4.3 Các nhân tố văn hóa
Yếu tố văn hoá là yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc và rộng rãi nhất đến nhu
cầu, hành vi của con người, trong cả lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực tiêu dùng
cá nhân. Các giá trị văn hoá cơ bản có tính bền vững cao, được lưu truyền và
được củng cố bằng những quy chế xã hội như luật pháp, đạo đức, tôn giáo,
chính quyền, hệ thống thứ bậc trong xã hội quyết định đến những mặt hàng
các cá nhân tiêu dùng, xu hướng tiêu dùng, các trào lưu trong xã hội …
Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt vấn đề có tính chất chiến lược như
lựa chọn thị trường mục tiêu, lựa chọn chiến lược Marketing, các quyết định
Nguyễn Thị Bích Thủy Lớp: Thương mại 46A
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét