Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
Khóa luận sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng, phơng pháp logic kết
hợp với phơng pháp lịch sử, phơng pháp phân tích, tổng hợp đánh giá để từ đó
khái quát rút ra vấn đề cần thiết cho mục đích nghiên cứu. Phơng pháp thống kê
sử dụng các bảng thống kê trong và ngoài ngành ngân hàng trong thời gian qua.
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
khoá luận gồm có 3 phần:
Chơng I : Lý luận chung về lãi suất và tự do hoá lãi suất
Chơng II: Thực trạng tự do hoá lãi suất ở Việt Nam
Chơng III: Giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện tiến trình tự do hoá lãi suất ở
Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
5
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
Chơng I
Lý luận chung về lãi suất và tự do hoá lãi suất
I. Tìm hiểu về lãi suất
1. Khái niệm chung về lãi suất
Thông thờng khi sử dụng các khoản tín dụng, ngời vay phải trả thêm một
phần giá trị ngoài giá trị vay ban đầu, phần giá trị tăng thêm đó là lợi tức tín
dụng. Nh vậy, lợi tức tín dụng là số tiền mà ngời đi vay phải trả cho ngời cho
vay trong một thời gian nhất định, nói cách khác, lợi tức tín dụng là giá cả của
quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định mà ngời sử dụng phải trả
cho ngời sở hữu nó.
Tỷ lệ phần trăm của số tiền tăng thêm mà ngời đi vay phải trả cho ngời
cho vay so với phần giá trị vay ban đầu là tỷ suất lợi tức tín dụng hay lãi suất.
T duy kinh tế hiện đại có nhiều cách định nghĩa về lãi suất. Đồng thời
cũng có rất nhiều khái niệm đợc đa ra để giải thích về vấn đề này. Nhng nhìn
chung, điều không thể tránh là lãi suất luôn hàm chứa một mâu thuẫn: ngời đi
vay muốn có lãi suất thấp nhất trong khi ngời cho vay muốn lãi suất cao nhất. Vì
vậy, nh mọi loại hàng hoá khác, lãi suất chủ yếu đợc xác định bởi cung-cầu về
vốn. Tất nhiên không có sự bắt buộc nào đối với ngời có số tiền dôi d phải kiếm
lãi trên số tiền dôi d đó. Nhng khi tiền tiết kiệm không đợc đầu t sẽ không sinh
lời vì nó sẽ không đợc ai sử dụng, và vì thế lãi suất còn đợc gọi là chi phí cơ hội
của việc giữ tiền, hay nói cách khác chi phí cơ hội của việc giữ tiền là khoản lợi
tức mất đi khi ngời ta giữ tiền chứ không phải là các trái khoán.
2. Lý thuyết về lãi suất trong nền kinh tế thị trờng
2. 1. Lý thuyết cho vay không lấy lãi
Đây là lý thuyết đầu tiên về lãi suất do Pơ-ru-đông (1809-1865) đề xớng.
6
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
Cơ sở của nó là trong các hình thái kinh tế xã hội trớc Chủ nghĩa xã hội, lãi suất
đợc coi là phơng tiện bóc lột đặc biệt. Từ thời cổ Hi Lạp, ngời ta đã thấy lãi suất
là nguồn gốc của tất cả những tai họa. Chế độ nô lệ và phong kiến là mảnh đất
màu mỡ nhất cho tín dụng nặng lãi tồn tại và phát triển. Song đây cũng chính là
động lực kìm hãm và phá hoại sức sản xuất của xã hội, bởi lẽ do những ngời đi
vay phải chịu mức tiền lãi vay quá nặng. Sang đến thời T bản chủ nghĩa, một số
ngời sản xuất hàng hoá nhỏ hoặc công nhân vay tiêu dùng phá sản hoặc sạt
nghiệp do mức tiền thu đợc nhỏ hơn nhiều so với lãi suất phải trả. Theo Pơ-ru-
đông thì lợi tức thu đợc là do sự bóc lột lao động của công nhân mà có: Sự tồn
tại của lợi tức là cơ sở của sự bóc lột
1
. Các nhà t bản đem lợi tức cộng thêm
vào chi phí, điều đó làm cho công nhân không thể mua hết sản phẩm. Do đó,
nếu gạt bỏ đợc lợi tức thì sẽ xoá đợc nạn bóc lột. Muốn xoá bỏ đợc lợi tức thì
cần phải cho vay không lấy lãi.
Nh vậy, lý thuyết cho vay không lấy lãi đã đứng trên lập trờng nhân đạo,
ủng hộ những ngời công nhân, ngời sản xuất nhỏ- những ngời đi vay.
Tuy nhiên, u điểm đó không phải là cơ bản, mà từ nội dung học thuyết
này đã bộc lộ những hạn chế sau:
+ Học thuyết này không chỉ ra đúng đắn nguồn gốc của lợi tức và nguyên
nhân của sự bóc lột.
+ Không thấy tính chất khách quan và lịch sử của các phạm trù kinh tế.
Ngời ta đã coi các phạm trù kinh tế không có mối liên hệ với quan hệ sản xuất.
Phạm trù lợi tức cho vay cũng nh các phạm trù kinh tế khác có sự kết hợp giữa
các đặc tính tốt và xấu.
Do những hạn chế đó, nên ngời ta có thể đánh giá lý thuyết cho vay
không lấy lãi là học thuyết không tởng, dựa vào phơng pháp siêu hình.
Tuy nhiên học thuyết này có thể vận dụng trong chính sách lãi suất của
Nhà nớc hoặc tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế để phát triển một số ngành
nghề hoặc một số nớc thành viên nh: cho vay u tiên không lấy lãi, hoặc cho vay
với lãi suất thấp. v. v
1
Đại học kinh tế Quốc dân, Lịch sử các học thuyết kinh tế, tr. 4
7
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
2. 2. Lý thuyết của K. Marx (Các Mác) về nguồn gốc và bản chất của lợi tức
cho vay trong nền kinh tế hàng hoá T bản chủ nghĩa.
Trong bộ T bản, Các Mác đã chỉ ra rằng nguồn gốc của làm giàu của các
nhà T bản Công nghiệp, Thơng nghiệp và ngân hàng đều do giá trị thặng d
mang lại bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. Nguồn gốc của lợi tức cho vay
cũng xuất phát từ giá trị thặng d.
T bản cho vay là một bộ phận của T bản Công nghiệp tách ra. Do trong
quá trình chu chuyển của t bản có nhiều lúc một số nhà t bản có vốn tiền tệ tạm
thời nhàn rỗi, trong khi một số nhà t bản khác lại thiếu vốn tiền tệ. Từ đó phát
sinh quan hệ đi vay và cho vay, đồng thời xuất hiện t bản cho vay. Nh vậy, t bản
cho vay tách ra từ một bộ phận của t bản công nghiệp, nhng có đặc điểm khác
hẳn t bản công nghiệp.
Theo Các Mác thì t bản tài sản tách rời t bản chức năng, tức là quyền sở
hữu tách rời quyền sử dụng t bản và đã là t bản, nên sau một thời gian cho nhà t
bản đi vay sử dụng, t bản cho vay đợc hoàn trả cho ngời sở hữu nó, kèm theo
một giá trị tăng thêm. Số trội thêm đó gọi là lợi tức.
Sự vận động của t bản cho vay không thể tách rời sự vận động thực tế của
t bản. Hình thái vận động đầy đủ của t bản cho vay là:
T T H (SLĐ + TLSX) SX H T T
T T và T T chỉ là điểm bắt đầu và kết thúc hay là sự chuẩn
bị và kết quả của tuần hoàn thực tế của t bản công nghiệp.
Công thức trên cho ta thấy: tiền đa ra cho vay để kiếm lời thì là t bản ngay
từ khi bỏ ra cho vay. Nhng khi tiền chuyển từ ngời cho vay sang ngời đi vay cha
tạo ra lợi nhuận đợc. Tiền đi vay phải thực sự đi vào hoạt động mới thu đợc lợi
nhuận. ở đây cùng một số tiền với t cách là t bản 2 lần đối với 2 ngời (ngời đi
vay và ngời cho vay). Song không vì thế mà lợi nhuận tăng gấp đôi. Số tiền đó
chỉ thực sự hoạt động có một lần nhng nó lại là t bản đối với cả 2 ngời và lợi tức
chính là một phần lợi nhuận phân chia đó. Việc tách ra một phần lợi nhuận để
trả lợi tức là hoàn toàn hợp lý đối với ngời đi vay, vì anh ta sử dụng t bản của ng-
ời khác. Chính nhờ giá trị sử dụng của t bản này mà anh ta có đợc lợi nhuận. Giá
8
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
trị sử dụng của t bản cho vay không phải của anh ta, nên anh ta phải trả tiền cho
việc sử dụng giá trị sử dụng đó. Nh vậy về thực chất, lợi tức chỉ là một phần của
giá trị thặng d mà nhà t bản đi vay phải trả cho nhà t bản cho vay. Lợi tức là giá
cả hàng hoá t bản cho vay. Trên thực tế đó là lợi nhuận bình quân mà các nhà t
bản công nghiệp đi vay phải chi cho nhà t bản cho vay.
Lợi tức biểu hiện quan hệ bóc lột T bản chủ nghĩa đợc mở rộng trong lĩnh
vực phân phối. Không chỉ có tập đoàn T bản công nghiệp, Thơng nghịêp bóc lột
công nhân làm thuê, mà cả t bản không hoạt động, chỉ bỏ tiền ra cho vay, cũng
tham gia bóc lột công nhân làm thuê.
Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân, vì vậy, giới hạn tối đa của
lợi tức là lợi nhuận bình quân, nó không có giới hạn nhng luôn lớn hơn không.
Tỷ suất lợi tức hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung-cầu về t bản cho vay và
thờng xuyên biến động theo chu kỳ sản xuất công nghịêp.
Trong chủ nghĩa t bản coi lợi tức là giá cả của t bản cho vay, nó không
hoạt động dới hình thức t bản thông thờng mà là dới hình thức giá cả của t bản
tiền tệ. Theo Mác: Nếu nh lợi tức là giá cả của t bản tiền tệ thì đó là hình thức
giá cả phi lý.
2
Tính chất phi lý là ở chỗ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị. Vì vậy,
sau khi phân tích công thức chung của t bản và hình thái vận động đầy đủ của t
bản cho vay, Mác đã kết luận: Đặc tr ng của lợi tức tín dụng là phần giá trị
thặng d tạo ra do kết quả của bóc lột lao động làm thuê và bị bọn t bản- chủ
ngân hàng chiếm đoạt .
3
2.3. Lý thuyết của trờng phái Keynes
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, J. M. Keynes đã chủ
trơng Nhà nớc phải tham gia vào việc điều tiết lãi suất và tăng chi tiêu khi cần
thiết vào các chơng trình mà khu vực kinh tế t nhân không thể đảm nhiệm để
kích thích sự tăng trởng một cách liên tục.
J. M. Keynes cho rằng việc hạ lãi suất tín dụng luôn luôn là đòn bẩy cho
2
Marx.K (1963), T bản quyển 3 tập 2, tr.48
3
3Marx.K (1963), T bản quyển 3 tập 2, tr.54
9
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
sự phát triển Và theo quan điểm của Keynes thì lãi suất phụ thuộc chủ yếu vào 2
yếu tố:
Số lợng tiền tệ: Nếu số lợng tiền tệ tăng và các yếu tố khác không
thay đổi thì lãi suất sẽ hạ. Lãi suất sẽ tăng lên khi số lợng tiền tệ giảm. Số lợng
tiền tệ bị chi phối bởi chính sách tiền tệ của ngân hàng Trung ơng. Ngân hàng
Trung ơng sẽ ấn định mức lãi suất lên xuống bằng cách tăng hay giảm số lợng
tiền tệ.
Sự ham thích hiện kim (tiền mặt): Keynes cho rằng sự ham thích
hiện kim do 3 lý do: một là lý do giao dịch, ngời ta giữ tiền mặt để chi tiêu mọi
thứ và trả tiền ngay; hai là lý do đề phòng, ngời ta cần dự trữ một số tiền mặt lớn
đề phòng những biến động đột xuất ngoài dự tính; ba là lý do đầu cơ, đầu cơ ở
đây có nghĩa là mua chứng khoán với giá rẻ và bán chứng khoán với giá đắt, vì
vậy nó có liên quan mật thiết đến lãi suất.
Keynes chủ trơng thông qua cơ chế của ngân hàng Trung ơng và hệ thống
ngân hàng thơng mại để điều chỉnh lãi suất xuống thấp. Ông nói: Thay vì gia
tăng huy động vốn bằng biện pháp ký thác, ngân hàng Trung ơng có thể tăng
khối lợng tiền tệ để cung ứng cho đầu t trong những thời kỳ mà mức cầu tiền tệ
tăng cao, bằng cách ngân hàng Trung ơng sẽ phát hành thêm giấy bạc, gia tăng
thêm bút tệ của ngân hàng thơng mại bằng việc giảm dự trữ bắt buộc. Tổng khối
lợng tiền tệ gia tăng sẽ làm giảm sức ép của mức cầu tiền tệ chi tiêu đầu t và làm
giảm lãi suất tín dụng. Lãi suất sẽ hạ xuống làm gia tăng doanh lợi và nâng cao
độ an toàn của đầu t. Hiệu suất biên tế của t bản sẽ tăng lên, kích thích các
doanh nghiệp đầu t mở rộng trung hạn và dài hạn, tạo sức bật cho nền kinh tế
tăng trởng; giải pháp duy nhất khả dĩ thi hành nằm trong sự gia tăng số lợng tiền
tệ. Mức lãi suất thấp, sai biệt giữa lãi suất và hiệu lực biên tế t bản nhiều khả dĩ
kích thích đầu t, do đó gia tăng mức lợi tức quốc gia; ngân hàng Trung ơng cho
lu hành một khối lợng tiền tệ sung mãn để có thể làm suy yếu sự ham thích tiền
mặt.
T tởng của Keynes đã ảnh hởng đến nền kinh tế châu Âu và Bắc Mỹ cho
đến thập niên 80 của thế kỷ này. Sau đó là thời kỳ suy thoái của học thuyết
10
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
Keynes, vì ngời ta thấy rằng lợng tiền cung ứng d thừa sẽ dẫn đến tình trạng lạm
phát và suy thoái kinh tế và khi đó lãi suất thấp không còn ý nghĩa trong việc
huy động tiết kiệm và kích thích đầu t nữa.
3. Đặc điểm của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trờng
Đặc diểm của lãi suất tín dụng chịu sự chi phối bởi những đặc trng của
nền kinh tế thị trờng, những đặc điểm đó là: tính tự do, cạnh tranh, linh hoạt và
lãi suất thực tế.
Tự do: tính tự do của lãi suất tín dụng thể hiện trong việc thoả thuận giữa
khách hàng vay vốn và tổ chức tín dụng, giữa ngời đi vay và ngời cho vay.
Những ngân hàng chính, tổ chức tín dụng độc lập có thể ấn định mức lãi suất cơ
sở của mình song lại có sự thống nhất trong toàn bộ nền kinh tế. Chẳng hạn, khi
lãi suất tái chiết khấu Ngân hàng Trung ơng thay đổi, nó sẽ kéo theo các loại lãi
suất khác cũng thay đổi.
Cạnh tranh: lãi suất huy động vốn hình thành trên cơ sở cạnh tranh giữa
các ngân hàng thơng mại, các tổ chức tín dụng, các định chế tài chính phải có
lãi suất hấp dẫn để thu hút khách hàng trên nguyên tắc kinh doanh có hiệu quả
và giữ đợc vị trí cạnh tranh với các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác.
Linh hoạt: lãi suất tín dụng hình thành một cách linh hoạt, nhạy bén thích
ứng với mọi hoàn cảnh, mọi đối tợng. Sự thay đổi thờng xuyên của lãi suất tín
dụng phù hợp với sự biến động của cung-cầu về vốn, tỷ lệ lạm phát, thu chi ngân
sách Nhà nớc, yếu tố tâm lý của ngời đi vay và của ngời cho vay trên thị trờng
tiền tệ, tín dụng.
Lãi suất thực tế: lợi nhuận là mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối
cùng của các ngân hàng thơng mại, tổ chức tín dụng và nói chung là của những
ngời có vốn tiền tệ trong quá trình đầu t kinh doanh. Tiền lãi không chỉ bù đắp
đủ chi phí cho ngân hàng và ngời có vốn cho vay, mà phải đem lại lợi ích kinh
tế đáng kể để duy trì và phát triển hoạt động của họ.
4. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế thị trờng
Lãi suất tín dụng là biến số thờng xuyên biến động trong nền kinh tế thị
trờng. Căn cứ vào sự biến động của lãi suất tín dụng, ngời ta có thể dự báo các
11
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
yếu tố khác của nền kinh tế nh: tính sinh lời của các cơ hội đầu t, mức lạm phát
dự tính, mức thiếu hụt ngân sách Nhà nớc. Ngời ta cũng có thể dựa vào mức lãi
suất tín dụng trong một thời kỳ để dự báo tình hình kinh tế trong tơng lai. Vai
trò chủ yếu của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế đợc thể hiện nh sau:
+ Lãi suất tín dụng là công cụ kích thích vật chất để thu hút các khoản tiết
kiệm từ nền kinh tế, tạo nguồn vốn cho vay đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
+ Lãi suất tín dụng ảnh hởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Lãi suất phải trả cho khoản vay là một trong những khoản chi phí của
doanh nghiệp, do vậy lãi suất thấp sẽ kích thích doanh nghiệp vay vốn đầu t phát
triển sản xuất kinh doanh. Lãi suất là yếu tố buộc doanh nghiệp phải hoạch toán
kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả.
+ Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Biến động của lãi
suất tác động đến đầu t, tiêu dùng, qua đó tác động đến mục tiêu của kinh tế vĩ
mô, cụ thể nh sau: lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu t, tiêu dùng, làm tổng cầu
tăng, sản lợng tăng và thất nghiệp giảm. ngợc lại, lãi suất cao sẽ hạn chế đầu t,
làm tổng cầu giảm, sản lợng giảm, thất nghiệp tăng.
+ Lãi suất tín dụng đợc coi là công cụ đo lờng, kiểm tra tình trạng sức
khoẻ của nền kinh tế. Trong giai đoạn nền kinh tế đang phát triển, lãi suất có
xu hớng tăng, do cung-cầu quỹ cho vay đều tăng, nhng tốc độ tăng của cầu quỹ
cho vay lớn hơn tốc độ tăng của cung quỹ cho vay. Ngợc lại trong giai đoạn nền
kinh tế suy thoái, lãi suất có xu hớng giảm xuống.
+ Lãi suất tín dụng là công cụ phân phối vốn có hiệu quả nhằm khai thác
và sử dụng triệt để các nguồn lực của nền kinh tế.
Nếu xét dới góc độ vĩ mô và vi mô, ta có thể thấy vai trò của lãi suất đợc
thể hiện nh sau:
ở tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ, là
công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nớc. Lãi suất ảnh hởng tới cung-cầu tiền tệ, phân
bổ nguồn lực tài chính, ảnh hởng tới tỉ giá cũng nh tăng trởng kinh tế.
Trớc hết, lãi suất là công cụ để nhà nớc phân phối các nguồn vốn đầu t
thông qua cửa sổ chiết khấu, tức là những hạn chế tín dụng về quy mô và đối t-
12
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
ợng. Mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kì có tác động trực tiếp tới quy mô, tỉ
trọng và cơ cấu vốn đầu t của nền kinh tế, qua đó lãi suất góp phần điều chỉnh cơ
cấu cho nền kinh tế, ảnh hởng tốc độ tăng trởng, sản lợng cũng nh tỉ lệ lạm
phát
Trong nền kinh tế mở, lãi suất còn đợc sử dụng nh là một công cụ điều tiết
đối với luồng vốn vào và ra trong một nớc. Khi lãi suất trong nớc giảm sẽ làm
cho luồng vốn đầu t nớc ngoài vào trong nớc giảm và ngợc lại, do đó làm ảnh h-
ởng tới tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá. Điều này không những ảnh hởng
tới đầu t phát triển kinh tế mà còn ảnh hởng đến cán cân thanh toán quốc tế và
các quan hệ thơng mại quốc tế của một nớc với nớc ngoài.
Hơn nữa, lãi suất có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trờng, cả thị
trờng hàng hoá và thị trờng tiền tệ.
Đối với thị trờng hàng hoá, khi giá một hàng hoá tăng, nhà nớc muốn
giảm giá cả hàng hoá đó, hoặc là nếu nhà nớc có đủ hàng hoá dự trữ thì có thể
tung ra thị trờng nhằm ổn định giá cả, hoặc là có chính sách u tiên về lãi suất
cho vay với các nhà sản xuất mặt hàng đó. Nh vậy, lãi suất giúp ổn định giá cả
trên thị trờng hàng hoá.
Đối với thị trờng tài chính, là nơi mua bán vốn, lãi suất đợc coi là giá cả,
thì điều tiết lãi suất chính là điều tiết cung-cầu về vốn trên thị trờng. Ta hãy xét
một ví dụ, giả sử thị trờng cổ phiếu, nhu cầu cổ phiếu tăng lên làm cho thị trờng
giá cổ phiểu tăng, nhng nếu lãi suất ngân hàng và thị trờng tăng, ngời ta sẽ phải
so sánh lợi tức từ việc nắm giữ cổ phiếu và lãi suất, do đó làm cho số ngời mua
cổ phiếu giảm và thị trờng giá cổ phiếu giảm xuống.
Nh vậy, lãi suất là một công cụ hữu hiệu trong việc cung-cầu tiền tệ, kiềm
chế lạm phát, ổn định tiền tệ và giá trị đối nội, đối ngoại của đồng tiền, đặc biệt
trong nền kinh tế thị trờng.
ở tầm vi mô, lãi suất là giá cả của tín dụng, do đó nó tác động đến các
quyết định về đầu t hay tiêu dùng, mua sắm tài sản hay mua trái phiếu, hoặc gửi
tiết kiệm của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội. Lãi suất góp phần
hớng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực có hiệu quả với tỷ suất lợi nhuận
13
Tự do hoá lãi suất: Thực trạng và giải pháp trong tiến trình hội nhập
cao nhất.
Mặt khác, trong điều kiện kinh tế thị trờng, luôn luôn có những ngời tạm
thời thừa vốn và những ngời tạm thời thiếu vốn, quan hệ tín dụng là một quan hệ
phổ biến, hầu nh không một doanh nghiệp nào lại không phải tham gia vào quan
hệ này. Vì vậy lãi suất đợc coi là một khoản chi phí doanh nghiệp, và cộng với
những chi phí sản xuất khác thành tổng chi phí của doanh nghiệp, nên lãi suất
ảnh hởng trực tiếp tới tổng lợi nhuận. Do đó lãi suất là cơ sở hoạch toán kinh tế
trong các đơn vị.
Tiền lãi là một khoản mà các doanh nghiệp phải trả cho ngời cho vay
trên tổng số vốn mà họ vay ở các đơn vị khác, nên lãi suất thúc đẩy hoạt động
kinh tế của doanh nghiệp. Khi đã đi vay tức là phải trả nợ, các doanh nghiệp
luôn phải cố gắng hoạt động kinh doanh có hiệu quả để nhanh chóng thu hồi
vốn, bởi vì thời gian vay càng dài, các doanh nghiệp càng tốn nhiều chi phí trả
lãi.
II. Tìm hiểu về cơ chế điều hành lãi suất tín dụng
1. Khái niệm về cơ chế điều hành lãi suất tín dụng
Cơ chế điều hành lãi suất đợc hiểu là tổng thể những chủ trơng, chính
sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ơng, nhằm kiểm soát và điều tiết
lãi suất trên thị trờng tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
Cơ chế điều hành lãi suất luôn gắn chặt không tách rời với cơ chế lãi suất
từng thời kỳ. Cơ chế lãi suất chỉ là cách nói thông thờng, thực tế ngời ta quan
tâm hơn đến cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ơng đối với thị tr-
ờng tiền tệ tín dụng.
2. Mục tiêu của cơ chế điều hành lãi suất
Hơn các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô khác, cơ chế lãi suất mà theo đó cơ
cấu lãi suất định hình và tác động tới môi trờng hoạt động và phát triển của hệ
thống tài chính mỗi quốc gia với 3 mục tiêu chính:
Một là, khuyến khích việc tiết kiệm và sự phát triển của các trung gian tài
chính, phát triển chiều sâu thị trờng tài chính.
Hai là, hớng các nguồn lực tài chính vào các lĩnh vực hoạt động có tỷ suất
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét