Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 5 Trần Thò Đoan Trang
ϖ Không gian hư ảo gồm có: không gian hư ảo nơi trần thế, không gian tiên
cảnh, không gian thiên đường, không gian đòa ngục.
Điều này phản ánh quan niệm của nhà văn chòu ảnh hưởng sâu sắc của
những dòng tư tưởng phi Nho giáo và những ý thức hệ tư tưởng trong nhân dân.
Bên cạnh không gian nghệ thuật còn có thời gian nghệ thuật. Từ khái niệm
về thời gian nghệ thuật, người viết tìm thấy sự thể nghiệm của nhà văn qua cách
tạo lập hai phần thời gian nghệ thuật: thời gian thực tại và thời gian hư ảo:
ϖ Thời gian thực tại:
- Thời gian thực tại trong Truyền Kì Mạn Lục luôn gắn với biến cố lòch
sử, số phận nhân vật.
- Thời gian còn mang tính chất tuyến tính.
- Thời gian này tương ứng với nhu cầu tường thuật.
ϖ Thời gian hư ảo:
- Thời gian luân hồi luôn gắn liền với số kiếp sự tái sinh và có sự
chuyển hóa giữa quá khứ-hiện tại-tương lại.
- Thời gian tiên cảnh
ϖ Sự chuyển hóa giữa thời gian hư ảo và thời gian tiên cảnh; sự chuyển hóa
giữa không gian hư ảo và không gian tiên cảnh.
ϖ Mối quan hệ giữa không gian thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn
Lục.
Tóm lại, tài năng cùng với sự nhiệt thành của người nghệ só, Nguyễn Dữ đã
đem đến cho chúng ta không gian nghệ thuật và thời gian trong Truyền Kì Mạn
Lục đậm tính nhân văn. Chính đề tài đã giúp người viết nhận ra được điều đó. Nếu
không có hoài bão, không có tình yêu thương nhân dân sâu nặng, nhà văn không
thể viết nên nhưng trang viết truyền thần như thế. Thông qua không gian nghệ
thuật và thời gian nghệ thuật trong tác phẩm, Nguyễn Dữ đã bày tỏ quan niệm tư
tưởng của mình trước hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam vào thế kỉ XVI và góp
phần khẳng đònh một cách thuyết phục giá trò nghệ thuật của “thiên cổ kì bút”
không hề kém xa các tác phẩm văn chương của thời đại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 6 Trần Thò Đoan Trang
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 7 Trần Thò Đoan Trang
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Từ thế kỉ X văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam cùng với thơ ca đã từng bước
khẳng đònh vò trí của mình trong nền văn học dân tộc. Nói như Nguyễn Đăng Na-
nhà nghiên cứu phê bình: “Văn xuôi tự sự Việt Nam không chỉ là một bộ phận cấu
thành của nền văn học dân tộc mà còn là ánh xạ phản chiếu trình độ tư duy nghệ
thuật của nền văn học đã sản sinh ra nó. Văn xuôi tự sự trung đại cũng vậy, vừa
phản ánh tư duy nghệ thuật của người Việt Nam vừa gắn liền quá trình phát triển
của văn học dân tộc” [16;3].
Trong tiến trình đó, thế kỉ XVI được xem là thời kì khởi sắc của văn xuôi tự
sự bằng chữ Hán. Với sự ra đời của thiên cổ kì bútø Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn
Dữ. Với tác phẩm này như Nguyễn Đăng Na nhận xét: “Đến với Truyền Kì Mạn
Lục, Nguyễn Dữ đã phóng thành công con tàu văn xuôi tự sự vào q đạo nghệ thuật:
văn học lấy con người làm đối tượng và trung tâm phản ánh” [15;13].
Xuất phát từ vò trí quan trọng đó, người viết đã chọn phần “Không gian và
thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục” để khảo sát.
Vì vậy:
- Việc khảo sát Truyền Kì Mạn Lục nhằm khẳng đònh lại những thành công
của nền văn xuôi tự sự Việt Nam trong thế kỉ XVI nói chung.
- Nhằm đánh giá đúng những đóng góp về mặt nghệ thuật mà Nguyễn Dữ đã
làm được trong tác phẩm Truyền Kì Mạn Lục nói riêng.
- Mặt khác, đây là tác phẩm tiêu biểu cho nền văn xuôi tự sự Việt Nam thế
kỉ XVI, một số truyện ngắn trong Truyền Kì Mạn Lục được lựa chọn giảng dạy
trong nhà trường phổ thông. Cho nên, việc tìm hiểu đề tài này sẽ góp phần làm
phong phú kiến thức cho chúng tôi trong việc giảng dạy sau này.
Cuối cùng, chính tên đề tài đã thực sự thu hút người viết. Bởi người viết nghó
rằng: tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao phải là một tác phẩm được nhìn dưới
góc độ mới lạ, hấp dẫn và toàn diện.
Người viết hi vọng với đề tài này,người viết sẽ khẳng đònh được rõ hơn
những thành công và những đóng góp về mặt nghệ thuật của Truyền Kì Mạn Lục
trong tiến trình văn học dân tộc Việt Nam.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Nghiên cứu tác phẩm văn chương từ đặc điểm nghệ thuật không phải mới
xuất hiện gần đây mà đã có lòch sử hình thành từ xưa. Nhưng đến thế kỉ XX mới
được các nhà nghiên cứu văn học chú ý phát triển và khẳng đònh.
Văn chương tự sự trung đại nói chung và Truyền Kì Mạn Lục nói riêng rất ít
được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bởi lẽ, việc nghiên cứu nguyên tác các tác
phẩm văn chương Trung Đại gặp nhiều khó khăn.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 8 Trần Thò Đoan Trang
Vì vậy, việc nghiên cứu không gian, thời gian trong văn chương Trung Đại
cho đến nay vẫn còn là mảnh đất còn bỏ ngỏ đang chờ người gieo hạt ươm mầm.
Thế nên, đề tài này rất ít được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Tuy nhiên, trong quá trình làm đề tài, người viết đã cố gắng sưu tầm khảo
sát những tài liệu của các nhà nghiên cứu trước đã đề cập đến vấn đề này.
2.1 . Không gian, thời gian nghệ thuật trong văn chương tự sự Trung Đại.
Vấn đề này được các nhà nghiên cứu đề cập đến tuy không nhiều nhưng
những vò học giả ấy đã làm cho chúng ta biết: không gian, thời gian trong văn
chương Trung Đại là như thế nào:
- Giáo sư Lê Trí Viễn trong Đặc trưng văn học Trung Đại có nhận xét:
“Thời Trung Đại, truyện rút ngắn thời gian, không gian chỉ có trong ước mơ, huyền
hoặc của người Trung Đại chẳng có bao lăm giá trò. . .” [28;79]
Nếu như giáo sư Lê Trí Viễn cho chúng ta biết thời gian mang tính chất hư
ảo thì trong cách nhận xét của giáo trình Đại Học Huế lại khác:
- Giáo trình Thi pháp học của Đại Học Huế cho rằng: “Thời gian trong văn
học cổ là thời gian tuần hoàn, có tính chất chu kì, dựa trên sự vận hành của thời tiết,
mùa màng” [11;26]. Còn “Không gian thì được chia thành nhiều tầng lớp thứ bậc:
trần thế, thiên đường, đòa ngục. . .” [11;32] thực chất ra, hai vấn đề trên tuy khác
nhau nhưng lại bổ sung cho nhau trong một chỉnh thể của không gian, thời gian
nghệ thuật Trung Đại.
- Trần Khánh Thành trong Thi pháp thơ Huy Cận cũng có những ý kiến
đúng đắn về không gian, thời gian của văn chương Trung Đại. Ông nói: “Thời gian
trong tác phẩm là sự tuần hoàn của vũ trụ trong không gian bốn mùa lưu chuyển”
[25;10]. Như vậy, tác giả này đã thấy được mối quan hệ biện chứng giữa không
gian và thời gian trong một chỉnh thể nghệ thuật.
- Nguyễn Thò Dư Khánh với Phân tích văn học từ góc độ thi pháp đã đưa
ra nhận xét tinh tế hơn về không gian, thời gian trong tiểu thuyết Trung Đại. Bà
cho rằng: “Tiểu thuyết Trung Đại khác các thể loại khác, một phần nhờ vào sự thay
đổi các trục tọa độ trong không gian và thời gian của hình tượng văn học trong tiểu
thuyết” [14;37]. Tác giả còn nhấn mạnh: “Không gian, thời gian trong tiểu thuyết
chỉ có tính ước lệ và được tác giả sắp xếp theo trình tự vai trò người đọc gần như thụ
động, họ được ví như người ngồi ở phòng xem một cuốn phim đã hoàn thành”
[14;43].
- Giáo sư Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề thi pháp học hiện đại cũng đã
dề cập đến vấn đề này: “Qui luật cảm thụ toàn vẹn đã chi phối thời gian, không
gian trong văn học Trung Đại” [18;367]. Ông còn nhận đònh: chính yếu tố thời gian
lòch sử đã có ảnh hưởng sâu sắc đến thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Trung
Đại.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 9 Trần Thò Đoan Trang
Quả thật, những ý kiến đánh giá này đã góp phần làm nên diện mạo không
gian và thời gian nghệ thuật trong văn chương Trung Đại và tạo đà phát triển trong
việc nghiên cứu không gian, thời gian trong tác phẩm Truyền Kì Mạn Lục sau này.
2.2 Không gian, thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục.
Tiếp tục kế thừa phát huy những ý chí của các vò nghiên cứu trong không
gian, thời gian trong văn chương Trung Đại, các học giả cũng đã đề cập đến đề tài
này nhưng ở phương diện ít hơn nhiều.
Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời Trung Đại tập 1 đã nhận
đònh:”Không gian, thời gian trong Truyền Kì Mạn Lục phát triển lôgic với phương
thức chuyển tải nội dung. Người đọc sẽ cùng các nhân vật của truyện phiêu lưu
trong thế giới huyền ảo ở bốn cõi không gian vừa phi quảng tính vừa cố đònh và
hình thành trong thời gian phi tuyến tính với độ đàn hồi ảo hóa có thể “co” tám
thập kỉ vào một năm hoặc đang từ hiện tại “nhảy” vào quá khứ của kiếp trước và
bước sang tương lai của kiếp sau”[15;24]. Đây chính là ý kiến quan trọng để chúng
ta tiếp xúc với không gian, thời gian nghệ thuật Truyền Kì Mạn Lục rất trực tiếp
mà không tìm thấy ở đâu xa.
Giáo sư Trần Đình Sử trong Mấy vấn đề về thi pháp học hiện đại cũng có cái nhìn
khá sâu vào thời gian trong Truyền Kì Mạn Lục:”Từ Truyền Kì Mạn Lục trở đi hệ
tính thời gian lòch sử đã hoàn toàn mang tính cách của người Việt Nam”[18;372].
Ông còn nhận xét thêm:”Việc sử dụng yếu tố thời gian lòch sử phổ biến trong
truyện chứng tỏ tính chất”văn sử bất phân” trong quan niệm văn học Trung
Đại”[18;374].
Để chứng minh cho ý kiến đó, ông đã đi vào phân tích Chuyện Người con gái
Nam Xương nhằm chứng minh cho chúng ta thấy quan niệm về thời gian nghệ thuật
trong tác phẩm Truyền Kì Mạn Lục .
Trên đây là những ý kiến khách quan, cụ thể trong việc nghiên cứu không
gian, thời gian trong văn chương Trung Đại nói chung và Truyền Kì Mạn Lục nói
riêng.
Tuy nhiên, với lượng kiến thức còn hạn hẹp, đề tài này còn xa lạ với người
viết. Vì thế khi bắt tay vào làm, dù cố gắng cũng không tránh thiếu sót. Người viết
mong rằng: sẽ có những đề tài kế tiếp, để góp phần làm phong phú thêm phần lòch
sử vấn đề.
III. MỤC ĐÍCH VẤN ĐỀ.
Với đề tài này, người viết đặt ra những mục đích chủ yếu sau:
Khảo sát những vấn đề có tiùnh chất lí luận về không gian, thời gian nghệ thuật, vận
dụng các vấn đề đó để tìm hiểu những đặc điểm của không gian, thời gian trong
Truyền Kì Mạn Lục.
Góp phần tìm hiểu những đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm .
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 10 Trần Thò Đoan Trang
Thông qua việc khảo sát những hình thức không gian, thời gian trong tác phẩm sẽ
thấy được những tư tưởng, quan niệm của nhà văn. Từ đó có thể khảo sát khẳng
đònh thuyết phục hơn những giá trò nghệ thuật và nội dung của tác phẩm.
IV.PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Đề tài”Không gian, thời gian trong Truyền Kì Mạn Lục “ đòi hỏi người viết
phải xoáy sâu vào:
Không gian , thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục .
Bên cạnh đó, người viết đã liên hệ so sánh với”Tiễn đăng tân thoại”- một tác phẩm
văn xuôi tự sự của Cù Hựu, Trung Quốc, cùng thời với Nguyễn Dữ để phân tích rõ
những nét khác biệt của Truyền Kì Mạn Lục so với tác phẩm của Trung Quốc
V.PHƯƠNG HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Khi tiếp nhận đề tài này, người viết tiến hành đọc sách lí luận chung có liên
quan đến không gian, thời gian nghệ thuật và phần văn bản Truyền Kì Mạn Lục.
Sau đó dùng phương pháp phân tích, so sánh, thống kê một cách có hệ thống nhằm
dùng thực tiễn để chứng minh cụ thể sinh động cho phần lí luận chung.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 11 Trần Thò Đoan Trang
CHƯƠNG 1:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 12 Trần Thò Đoan Trang
SƠ LƯC VỀ TÁC GIẢ-TÁC PHẨM.
ϖ
I. TÁC GIẢ.
Nguyễn Dữ là ẩn só của thế kỉ XVI và Truyền Kì Mạn Lục là đứa con tinh
thần của ông. Vấn đề này không ai nghi ngờ. Nhưng về cuộc đời Nguyễn Dữ có rất
nhiều nghi vấn.
Có hai khuynh hướng đưa ra cho năm sinh, năm mất của ông:
- Hướng thứ nhất: Nguyễn Dữ là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hướng này dựa
vào lời của Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp kí: Nguyễn Dữ là học trò của
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1581), bạn học với Phùng Khắc Khoan (1528-1581).
- Hướng thứ hai: dựa vào lời bạt của Hà Thiện Hán ghi trong Truyền Kì Mạn Lục
(1547) hoặc dựa vào lời ghi chép của Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục: Nguyễn
Dữ là người xã Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc. Cha ông là Nguyễn Tường Phiêu, đỗ
tiến só khoa Bính Thìn(1496) niên hiệu Hồng Đức và kết hợp với gia phả họ
Nguyễn để đối chiếu.
Về tên của Nguyễn Dữ cũng có nhiều cách ghi khác nhau: Tân biên Truyền
Kì Mạn Lục ghi Nguyễn Tự, Trúc Khê Ngô Văn Triện lại ghi Nguyễn Dữ.
Do điều kiện lòch sử nên chưa có cách hiểu thống nhất của các nhà nghiên
cứu. Ta chọn cho mình cách hiểu khách quan như sau:
Nguyễn Dữ hay còn gọi là Nguyễn Tự, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường
Tân (Hải Dương) nay là thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện (Hải
Dương). Ông là con trưởng của tiến só Nguyễn Tường Phiêu khoa Bính Thìn, niên
hiệu Hồng Đức 27 (1496) làm quan đến chức thượng thư đời Lê.
Căn cứ vào những tài liệu ghi của Hà Thiện Hán:”Lúc nhỏ ông rất chăm lối
học cử nghiệp, đọc rộng, hiểu nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp
nhà. Sau khi đậu Hương tiến nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, được bổ làm quan tri
huyện Thanh Tuyền. Mới một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu, đến
mấy năm không đặt chân đến thành thò. Thế rồi ông viết ra tập lục này”.
Lê Quý đôn trong Kiến văn tiểu lục cũng viết: Sau khi Ngụy Mạc cướp ngôi
vua, ông thề không ra làm quan, ở thôn quê dạy học không bao giờ để chân đến thò
thành.
Ôn Đình Hầu Vũ Khâm Lân, người biên soạn Bạch Vân Am cư só phả kí và
Ân Quang Hầu, người biên tập Thơ văn chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm thì
viết:”Nguyễn Dữ không ra làm quan mà ẩn cư ở rừng Thanh Hóa và viết ra Truyền
Kì Mạn Lục. Sách được thầy học Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính trở thành”thiên cổ
kì bút”.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 13 Trần Thò Đoan Trang
Tóm lại, căn cứ vào những tài liệu, ta biết Nguyễn Dữ thuộc dòng dõi khoa
hoạn, từng dùi mài kinh sử, ôm ấp lí tưởng đã đi thi và có thể xuất só. Song là một
nhà nho”Cửa Khổng sân Trình” sống vào buổi suy loạn, ông thấy được”đại thế bất
an” bất mãn với kẻ đương quyền. Vì thế, ông chọn cho mình con đường”lánh đục
về trong” để nuôi mẹ già cho tròn đạo hiếu.
Tuy vậy, Truyền Kì Mạn Lục ta vẫn thấy được tấm lòng ưu tư hoài bão”đêm
ngày cuồn cuộn” kí thác tâm sự của nhà nho trước thời thế biến động ba đào.
II. TÁC PHẨM.
2.1. Thể loại:
Trong dòng chảy của văn chương Trung Đại, thể loại Truyền Kì ra đời làm
nên diện mạo sinh động đa dạng trong lòch sử văn học nước nhà. Truyền Kì Mạn
Lục của Nguyễn Dữ đã đánh dấu sự thành công của Truyền Kì.
Tác phẩm có tính chất là tác phẩm nghệ thuật, có sự tham gia hư cấu sáng
tạo của nhà văn phản ánh thời kì lòch sử đầy biến động ba đào. Như giáo sư Đinh
Gia Khánh đã nhận xét: “Rõ ràng Nguyễn Dữ đã mượn truyện quái để nói việc thực.
Căn cứ vào tính chất truyện để thấy Nguyễn Dữ không chép qua mà truyền lại. Và
Truyền Kì Mạn Lục có tính chất là sáng tác văn học chứ không phải sao
chép”[13;506].
Và quả thật, Nguyễn Dữ đã có sự thành công trong thể loại này. Truyền Kì
Mạn Lục xứng đáng là thiên cổ kì bút, thể hiện được tính chất hư cấu sáng tạo của
người nghệ só nhưng vẫn phản ánh được hiện thực đương thời và bộc lộ được quan
điểm của người cầm bút.
2.2. Kết cấu Truyền Kì Mạn Lục .
Truyền Kì Mạn Lục gồm có 20 truyện: gồm 4 quyển, mỗi quyển chia thành
5 truyện:
Quyển 1:
1. Câu chuyện ở đền Hạng Vương.
2. Chuyện người nghóa phụ ở Khoái Châu.
3. Chuyện cây gạo.
4. Chuyện gã trà đồng giáng sinh.
5. Chuyện kì ngộ ở trại Tây.
Quyển 2:
6. Chuyện đối tụng ở Long Cung.
7. Chuyện nghiệp oan của Đào Thò.
8. Chuyện chức phán sự đền Tản Viên.
9. Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên.
10. Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi Thiên Tào.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không gian và thời gian nghệ thuật trong Truyền Kì Mạn Lục
SV thực hiện 14 Trần Thò Đoan Trang
Quyển 3:
11. Chuyện yêu quái ở Xương Giang.
12. Chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na.
13. Chuyện cái chùa hoang ở Đông Trào.
14. Chuyện nàng Túy Tiêu.
15. Chuyện bữa tiệc đêm Đà Giang.
Quyển 4:
16. Chuyện người con gái Nam Xương.
17. Chuyện Lí tướng quân.
18. Chuyện Lệ Nương.
19. Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa.
20. Chuyện tướng Dạ Xoa.
Hầu như các chuyện đều viết bằng văn xuôi xen lẫn một ít văn biền ngẫu và
thơ ca. Cuối mỗi câu chuyện đều có lời bình của tác giả một cách ý thức về nội
dung, ý nghó của câu chuyện (trừ câu chuyện số 19).
Có một số ý kiến cho rằng Nguyễn Dữ mô phỏng theo cách viết của Cù Hựu
trong Tiễn đăng tân thoại. Vì họ nhìn qua hình thức của truyện và một số mô típ mà
nhà văn sử dụng. Nhưng nhà phê bình Phạm Tú Châu và vò học giả Đài Loan Trần
Ích Nguyên đã phản đối lại những ý kiến này.
Với 20 truyện, bằng ngòi bút tài hoa, Nguyễn Dữ đã đưa tác phẩm đến vò trí
cao trong tiến trình văn chương Trung Đại Việt Nam. Nguyễn Dữ rất tinh tế chú
trọng sắp xếp cốt truyện sao cho hợp lí, cải tạo chúng thành một truyện mới phong
phú đa dạng với hai khuynh hướng rõ ràng:
- Truyện có tính chất luận đề.
- Truyện có kết cấu phức tạp mang giá trò nghệ thuật cao.
Tóm lại, dù cho Truyền kì xưa kia được xem là “ngoại thư” nhưng với
Truyền Kì Mạn Lục , được xem là đỉnh cao của Truyền Kì Việt Nam. Nó vẫn là
“áng văn hay của bậc đại gia” và sẽ là tác phẩm mở đường cho các truyền kì khác
ra đời sau này như Tân Truyền Kì Mạn Lục của Đoàn Thò Điểm .
2.3 . Giá trò nội dung:
Trải qua bao thăng trầm của lòch sử, luân chuyển của thời gian nhưng những
gì Nguyễn Dữ thể hiện vẫn còn nguyên giá trò.
ϖ Trước hết, Truyền Kì Mạn Lục dù viết dưới dạng chữ Hán nhưng vẫn thể
hiện được lòng tự hào dân tộc sâu sắc.
Xuyên suốt 20 truyện, các nhân vật, sự kiện đều xảy ra ở nước Nam. Thời
gian để xảy ra sự kiện từ Nghệ An trở vào. Tác giả thể hiện niềm tự hào của mình
bằng cách ca ngợi các danh nhân văn hóa Trung Quốc qua các câu chuyện sau:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét