Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho
người sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời.
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng :
Sự vận động của tín dụng có những tác động nhất định đối với các hoạt
động kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của tín dụng phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức
và vận dụng của con người vào thực tiễn quản lý kinh tế. Trong nền kinh tế
thị trường, tín dụng có các vai trò như sau:
- Tín dụng là công cụ tích tụ, tập trung và tài trợ vốn cho các ngành
kinh tế, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, là cầu nối giữa tiết
kiệm và đầu tư, giữa giao lưu vốn trong nước và ngoài nước. Tín dụng tham
gia thu hút vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng nằm rải rác phân tán trong dân
chúng, trong các tổ chức kinh tế và vốn nước ngoài để tập trung hình thành
nguồn vốn cho vay. Để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, các doanh
nghiệp và các tổ chức kinh tế có thể huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau
nhưng nguồn vốn tài trợ của tín dụng là đặc biệt quan trọng. Nhờ nguồn vốn
của tín dụng, các doanh nghiệp không những đảm bảo quá trình sản xuất diễn
ra bình thường mà còn mở rộng được sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ
thuật mới, đảm bảo thắng lợi trong công cuộc cạnh tranh hiện nay. Quá trình
tích tụ và tập trung vốn tín dụng tạo ra động lực to lớn thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển, giúp các doanh nghiệp đầu tư vào các ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao, kích thích khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp chuyển hướng sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó,
trong điều kiện nguồn thu ngân sách Nhà Nước có hạn, bằng công cụ tín dụng
Nhà Nước có thể huy động mọi nguồn vốn để tập trung đầu tư xây dựng cơ sở
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hạ tầng cho nền kinh tế như đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay, điện
nước… những công trình đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài.
- Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, các
ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.Hiện
nay, sự phát triển của các ngành kinh tế trong cơ chế thị trường là không đồng
đều, các doanh nghiệp thường tập trung dồn vào những ngành có điều kiện
thuận lợi, có lợi nhuận cao, ít rủi ro. Bên cạnh đó, chiến lược phát triển kinh
tế đòi hỏi phải có sự cân đối hài hòa giữa các ngành kinh tế, đòi hỏi phải có
những ngành kinh tế mũi nhọn để tạo động lực phát triển và lôi cuốn các
ngành kinh tế khác. Mâu thuẫn đó đòi hỏi Nhà Nước phải sử dụng công cụ tín
dụng để tài trợ cho những ngành kinh tế yếu kém, đồng thời khuyến khích
phát triển nguồn lực cho những ngành kinh tế mũi nhọn.
- Tín dụng là công cụ góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả và kiềm
chế lạm phát. Thông qua tín dụng, bằng các biện pháp huy động vốn và cho
vay, thực hiện nghiệp vụ điều hòa vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, tín dụng đã
góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hóa và tiền vốn tăng lên. Các hoạt
động tín dụng phát triển còn tạo điều kiện mở rộng công tác thanh toán không
dùng tiền mặt. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển như hiện nay,
hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ với công nghệ tiên tiến thì đại bộ
phận chu chuyển tiền tệ trong xã hội được thực hiện bằng phương thức thanh
toán không dùng tiền mặt thông qua hệ thống ngân hàng. Điều này cho phép
tiết giảm sử dụng tiền mặt, tiết kiệm được chi phí lưu thông xã hội và thúc
đẩy tốc độ luân chuyển vốn.
- Tín dụng là một trong những phương tiện nối liền kinh tế quốc gia với
nền kinh tế của cộng đồng thế giới, góp phần phát triển quan hệ kinh tế đối
ngoại trên thị trường tài chính tiền tệ quốc tế. Tham gia vào mối quan hệ tín
dụng gồm có Chính phủ các nước với nhau, các Chính phủ với các tổ chức
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tiền tệ thế giới và các tổ chức kinh tế với nhau. Đặc biệt trong bối cảnh nền
kinh tế thế giới đang trong tiến trình hội nhập cao, mỗi quốc gia đã trở thành
một bộ phận của thị trường thế giới, các nước đều thực hiện chính sách kinh
tế mở thì tín dụng ngày càng trở nên cần thiết. Tín dụng quốc tế đã tạo điều
kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước thực hiện nhanh hơn,
góp phần giúp các nước chậm phát triển trong một thời gian ngắn có thể có
được một nền sản xuất với kỹ thuật công nghệ cao mà các nước phát triển
trước đây phải mất hàng trăm năm mới có được.
1.1.3. Nguyên tắc tín dụng ngân hàng :
- Nguyên tắc 1: Vốn vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đầy đủ, đúng hạn
như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Đây là nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động cho vay của ngân
hàng. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà
ngân hàng sử dụng cho vay là vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, vì vậy
sau khi cho vay trong một thời hạn nhất định, khách hàng vay tiền phải hoàn
trả lại ngân hàng để ngân hàng hoàn trả lại cho khách hàng gửi tiền. Bên cạnh
đó, bản chất của quan hệ tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền
sử dụng vốn vay nên sau một thời gian nhất định vốn vay phải được hoàn trả
cả gốc lẫn lãi.
- Nguyên tắc 2: Tiền vay phải được sử dụng đúng mục đích.
Khi khách hàng vay tiền thì phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì là do hai
bên ngân hàng và khách hàng thỏa thuận và ghi trong hợp đồng tín dụng.
Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích thỏa thuận nhằm đảm bảo hiệu quả
sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay sau này. Do vậy, về phía ngân
hàng cần chú ý tìm hiểu rõ mục đích vay vốn của khách hàng, đồng thời phải
kiểm tra và giám sát xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng như mục đích
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đã cam kết trong hợp đồng tín dụng hay không. Điều này rất quan trọng vì
việc sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả
năng thu hồi nợ sau này của ngân hàng.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo
khả năng hoàn trả nợ cho ngân hàng. Từ đó nâng cao được uy tín của khách
hàng đối với ngân hàng và củng cố được quan hệ vay vốn giữa khách hàng và
ngân hàng sau này.
1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng :
Tín dụng ngân hàng được phân loại theo từng nhóm dựa trên một số
tiêu thức nhất định như: thời hạn cho vay, mục đích cho vay, mức độ tín
nhiệm với khách hàng, phương pháp hoàn trả, xuất xứ của tín dụng.
1.1.4.1. Căn cứ thời hạn tín dụng:
Theo quy định của NHNNVN thì các loại cho vay theo thời hạn tín
dụng bao gồm:
- Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12
tháng, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh
nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn trên 12 tháng đến 5
năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định,
cải tiến hoặc đổi mới các thiết bị công nghệ, máy móc, mở rộng sản xuất kinh
doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn
nhanh.
- Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 5 năm
và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Loại tín dụng này được sử dụng
để thực hiện quá trình tái sản xuất theo chiều rộng hoặc chiều sâu, kết quả làm
tăng mức sản xuất và của cải xã hội.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.4.2. Căn cứ vào mục đích tín dụng:
- Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: loại cho
vay này cung cấp cho các doanh nghiệp thương mại và công nghiệp nguồn
vốn để bổ sung vốn lưu động.
- Cho vay sản xuất nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí
sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, lao động…
- Cho vay tiêu dùng cá nhân: là loại cho vay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng,
các chi phí của đời sống thường nhật chủ yếu qua thẻ tín dụng.
- Cho vay mua bán bất động sản: là loại cho vay liên quan đến mua sắm
và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai…
- Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân
hàng, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ tín dụng và các định
chế tài chính khác.
- Cho thuê: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại là cho
thuê vận hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản
và động sản, trong đó chủ yếu là máy móc, thiết bị.
1.1.4.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
- Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay mà uy tín của người đi
vay được đặt lên hàng đầu, người đi vay không cần có tài sản thế chấp, cầm
cố hay có sự bảo lãnh của người thứ ba. Theo hình thức này, ngân hàng chỉ
dựa vào mức độ uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho
vay hay không.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay mà người đi vay phải có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đây là loại hình tín
dụng áp dụng với những khách hàng không có độ uy tín cao với ngân hàng
nên vay vốn cần có sự đảm bảo.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.1.4.4. Căn cứ vào phương thức cho vay:
- Cho vay theo món vay: nghĩa là mỗi lần vay vốn thì khách hàng và
NHTM thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Nếu
trong một quý khách hàng có bao nhiêu món vay thì khách hàng phải làm bấy
nhiêu hồ sơ xin vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định
và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một thời hạn nhất định hoặc
theo chu kỳ sản xuất kinh doanh. Loại cho vay này thường áp dụng với những
khách hàng vay có nhu cần vay vốn thường xuyên.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức kinh
doanh thỏa thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán
của khách hàng, phù hợp với các quy định của Chính phủ và NHNNVN về
hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
1.1.4.5. Căn cứ vào phương thức hoàn trả nợ vay:
- Cho vay có thời hạn: là loại cho vay thanh toán một lần theo như thời
hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, bao gồm ba hình thức:
Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ: là loại cho vay mà khách hàng
vay phải thanh toán một lần khi đáo hạn.
Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ (còn gọi là cho vay trả góp): là
loại cho vay mà khách hàng vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi theo
định kỳ.
Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, việc
trả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay hoặc áp
dụng theo kỹ thuật thấu chi.
- Cho vay không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay này thì ngân
hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả góp bất cứ lúc nào,
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thỏa
thuận trong hợp đồng.
1.2. Rủi ro tín dụng và nội dung quản trị rủi ro tín dụng
trong hoạt động cho vay của ngân hàng :
1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng :
Rủi ro (credit risk) là loại rủi ro phát sinh do khách hàng nợ không còn
khả năng chi trả. RRTD phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu hồi
được đầy đủ cả tiền gốc và tiền lãi của các khoản vay, hoặc là việc thanh toán
nợ gốc và lãi vay không đúng kỳ hạn. RRTD không chỉ giới hạn ở hoạt động
cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của
ngân hàng như: bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở
thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ…
1.2.2. Tác động của rủi ro tín dụng:
- Đối với nền kinh tế: Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động
của các doanh nghiệp, các ngành và các cá nhân, vì vậy khi một ngân hàng
gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng
khác sẽ hoang mang, lo sợ và ồ ạt kéo đến các ngân hàng để rút tiền. Điều này
sẽ làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng rơi vào trạng thái khủng hoảng. Ngân
hàng phá sản sẽ gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp, không có tiền trả lương dẫn đến đời sống công nhân
gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn
đến toàn bộ nền kinh tế, nó sẽ làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng
cao, sức mua giảm, tình trạng thất nghiệp gia tăng mạnh, xã hội rơi vào trạng
thái mất ổn định.
Bên cạnh đó, hiện nay nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào
nền kinh tế khu vực và thế giới, vì vậy RRTD cũng ảnh hưởng đến nền kinh
tế thế giới. Ví dụ thực tế là cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và gần
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đây là cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển
toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các quốc gia phát triển
rất nhanh nên RRTD tại một nước sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế các
nước có liên quan.
- Đối với ngân hàng: Khi gặp RRTD, ngân hàng không thu được vốn
tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản
tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc
thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân
hàng kinh doanh không hiệu quả. Khi gặp phải rủi ro tín dụng, ngân hàng
thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, làm mất lòng tin người gửi
tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Trong tình trạng đó, ngân hàng sẽ
không đủ tiền trả lương cho nhân viên vì thế những người có năng lực sẽ
thuyên chuyển công tác, ngân hàng sẽ gặp khó khăn chồng chất.
RRTD ở mỗi ngân hàng xảy ra ở những mức độ khác nhau. Mức độ
nhẹ nhất là khi ngân hàng không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất là khi
ngân hàng không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân
hàng bị thua lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài và ngân hàng không
khắc phục được thì sẽ dẫn đến phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền
kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, các nhà
quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp
nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay.
Khi xảy ra rủi ro tín dụng thì có thể sẽ kéo theo hàng loạt rủi ro khác.
Ví dụ, khi xảy ra RRTD thì ngân hàng sẽ thiếu tiền chi trả cho khách hàng
dẫn đến cả rủi ro về thanh khoản, lợi nhuận ngân hàng giảm thấp và tùy theo
mức độ nặng hay nhẹ mà ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nhiều hay ít. Mặt khác,
khi khả năng thanh khoản của ngân hàng có biểu hiện không tốt sẽ ảnh hưởng
đến tâm lý khách hàng, có thể dẫn đến hiện tượng rút tiền hàng loạt. Hậu quả
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
là xuất hiện tình trạng không có sự ăn khớp giữa lượng vốn huy động với
lượng vốn cho vay và đây chính là một trong những nguyên nhân làm xuất
hiện rủi ro lãi suất. Như vậy, có thể thấy rằng RRTD là loại rủi ro phổ biến và
có ảnh hưởng lớn nhất, gây ra tổn thất nhiều nhất cho hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá RRTD :
Hiện nay, để đo lường RRTD các ngân hàng thường sử dụng bốn chỉ
tiêu sau đây:
- Tỷ số giữa giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay.
- Tỷ số giữa các khoản nợ xóa ròng so với tổng cho vay (khoản nợ xóa
ròng là khoản cho vay được ngân hàng tuyên bố là không còn giá trị và được
xóa khỏi danh sách).
- Tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng
cho vay hay với tổng vốn chủ sở hữu.
- Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng cho vay và cho thuê
hay với tổng vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay biểu hiện chất lượng tín
dụng. Theo quy định của NHNN hiện nay, các ngân hàng mà có chỉ tiêu này
trên 7% thì xem là ngân hàng yếu kém. Nếu ngân hàng luôn duy trì chỉ số này
ở mức dưới 5% thì ngân hàng đó sẽ được đánh giá là ngân hàng có nghiệp vụ
tín dụng tốt và chất lượng cho vay cao.
Khi hai chỉ tiêu đầu tăng thì RRTD của ngân hàng tăng lên, lúc đó ngân
hàng sẽ ở bên bờ vực phá sản. Hai chỉ tiêu cuối nói lên sự chuẩn bị trước của
ngân hàng cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự
phòng tổn thất tín dụng hàng năm từ thu nhập hiện tại.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.4. Dấu hiệu nhận biết RRTD :
Nhận diện RRTD là khâu rất quan trọng quyết định đến hiệu quả kinh
doanh của ngân hàng, qua đó các chuyên viên xử lý rủi ro sẽ đề xuất những
giải pháp tối ưu để ngăn ngừa và xử lý các tín dụng có rủi ro. Sau khi khoản
vay phát sinh và được phân loại, các cán bộ tín dụng luôn phải theo dõi, giám
sát khoản vay để nhận diện rủi ro thông qua các dấu hiệu cảnh báo sau:
1.2.4.1. Nhóm các dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng:
Đối với mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng thì có nhóm các
dấu hiệu cụ thể sau đây:
- Khi ngân hàng yêu cầu gửi các báo cáo tài chính thì phía khách hàng
chậm trễ, lấy lý do trì hoãn mà không có sự giải thích thuyết phục.
- Khách hàng có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi
phạm pháp luật trong quá trình quan hệ tín dụng.
- Có những yêu cầu về gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần mà
không nêu rõ lý do hoặc lý do thiếu căn cứ thuyết phục.
- Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn.
- Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt
động đầu tư dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn với giá cao và với mọi điều kiện.
- Khách hàng trông chờ vào nguồn thu bất thường để trả nợ mà không
phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động mà họ đã đề
xuất trong phương án vay vốn, ví dụ bán máy nhà xưởng hay máy móc thiết
bị.
- Có thái độ trì hoãn hoặc gây trở ngại đối với ngân hàng trong quá
trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất về tình hình sử dụng vốn vay, tình
hình tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh mà không có sự giải thích minh
bạch, thuyết phục.
Sinh viên thực hiện: Hoàng Hồng Hạnh Lớp: QTKD Thương Mại 46B
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét