Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH MAY VIỆT NAM

hàng dẹt may đã vượt lên trên hàng thuỷ sản, tiếp đến vượt dầu thô vào năm
1997 và đang chiếm vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực xuất khẩu. Như vậy so với
các ngành khác thì ngành dệt may vấn là ngành xuất khẩu chủ yếu có tốc độ
tăng trưởng cao.
Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam
1994 1995 1996 1997 1998
Hàng dệt may 550
13,6%
800
14,7%
1150
15,8%
1349
14,7%
1531
16,4%
Dầu thô 866
21,4%
1024
18,8%
1346
18,6%
1413
15,4%
1232
13,2%
Gạo 425
10,5%
549
10,1%
855
11,8%
870
9,5%
1024
10,9%
Thuỷ sản 551
13,6%
620
11,4%
661
9,1%
781
8,5%
818
8,7%
Cà phê 95
2,3%
495
9,1%
337
4,6%
491
5,3%
594
6,3%
Tổng cộng
(gồm cả các mặt
hàng khác)
4051 5449 7256 9185 9361

Nguồn :Tác giả lập từ The economics intelligence unit country profile 2000.
(chú thích ) dòng trên : Kim ngạch xuất khẩu , đơn vị triệu USD;
dòng dưới :Tỷ lệ trong tổng kim ngạch xuất khẩu
Xét theo cơ cấu sở hữu ngành dệt may gồm 3 bộ phân: Sở hữu nhà nước,
ngoài nhà nước, vốn đầu tư nước ngoài. Giá trị sản lượng của các hình thức
sở hữu trong ngành dệt may Việt Nam. Năm 1995 giá trị sản lượng của khu
5
vực nhà nước đạt 4532 tỷ đồng, khu vực ngoài nhà nước đạt 2986 tỷ đồng
tương đương khoảng 2/3 khu vực nhà nước, còn khu vực có vốn đầu từ
nước ngoài đạt 1606 tỷ đồng tức khoảng 1/3 khu vực nhà nước. Đến năm
1999 trong khi tổng giá trị sản lượng của khu vực nhà nước đạt 5973 tỷ đồng
thì khu vực ngoài nhà nước và đẩu tư nước ngoài đạt tương ứng 4323 tỷ
đồng và 4103 tỷ đồng, thu hệp chênh lệch so với khu vực nhà nước.
Các hình thức sở hữu trong tổng giá trị sản lượng. Năm 1995 tổng giá trị
sản lượng của khu vực nhà nước vượt sang so với hai khu vực còn lại chiếm
gần 50%. Nhưng tỷ lệ đó có xu hướng giảm dần và đến năm 1999 giảm
xuống còn hơn 40%. Trong khi đó, tỷ lệ của khu vực ngoài quốc doanh có
xu hướng tương đối ổn định, còn khu vực có vốn nước ngoài ngày càng tăng
cao.
Khác với ngành dệt và nhuộm trong ngành may khu vực ngoài nhà nước
chiếm tỷ lệ lớn nhất. Khu vực nhà nước chiếm khoảng 1/3 tổng giá trị sản
lượng và tỷ lệ của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài có xu hướng tăng nhẹ.
Trong ngành may, yếu tố khiến khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
chiếm tỷ lệ lớn nhât trong tổng giá trị sản lượng xuất phát từ đặc tính của
ngành may là vốn đầu tư ban đầu tương đối thấp nên các doanh nghiệp dể
dàng tham gia vào thị trường ngay cả khi vốn rất ít.
1.2 Các phương thức xuất khẩu của ngành may Việt Nam
1.2.1 Gia công xuất khẩu (CMT)
Xuất khẩu bằng phương thức gia công quốc tế là quan hệ kinh tế giữa
2 chủ thể kinh tế ở 2 quốc gia khác nhau. Nội dung mối quan hệ này được
tóm tắt trong bảng dưới đây. Nếu xem xét trên khía cạnh quyền sở hữu
nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm thì phương thức này có thể
được thực hiện theo hình thức nhận nguyên phụ liệu và giao thành phẩm,
6
nhưng cũng có thể được thực hiện theo hình thức mua nguyên phụ liệu và
bán thành phẩm. Trong phương thức sản xuất và phân phối này, các đối tác
tham gia có thể là hai bên hoặc nhiều bên.
Phương thức gia công xuất khẩu đã có từ lâu đời, được hình thành dựa
trên cơ sở khai thác lợi thế của các bên tham gia. Trong lịch sử phát triển
công việc, phương thức này đã từng được phát triển mạnh ở Hàn Quốc,
Malaysia, Đài Loan, Singapore … Trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa,
phương thức này đã được các quốc gia và khu vực này coi là điều kiện sống
còn cho sự phát triển của một số ngành công nghiệp. Ngày nay, phương thức
gia công xuất khẩu lại được dịch chuyển qua các nước nghèo hơn nhưng có
nguồn nhân lực dồi dào và rẻ như Việt Nam, Bangladet, Nepan …
Chủ thể nước ngoài Chủ thể trong nước
-Đặt yêu cầu về loại mặt hàng, sản
lượng, yêu cầu chất lượng, chi phí
gia công, thời gian giao hàng và các
điều kiện khác.
- Cân đối khả năng sản xuất ( máy
móc thiết bị và lực lượng lao động)
theo yêu cầu đặt hàng của đối tác
nước ngoài.
- Cung cấp nguyên phụ liệu chủ yếu - Tự bảo đảm một số loại phụ liệu
- Hướng dẫn kỹ thuật sản xuất - Tổ chức quá trình sản xuất
- Kiểm định chất lượng và nhận hàng - Giao hàng
- Trả tiền gia công - Nhận tiền gia công
Nguồn: Nhóm nghiên cứu ĐH KTQD xây dựng
Việt Nam đang trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa
hiện đại hóa đất nước. Trong chiến lược CNH-HĐH hiện nay, công nghiệp
dệt may được coi là ngành mũi nhọn. Định hướng phát triển công nghiệp dệt
may được phát hiện trên cơ sở đánh giá lợi thế của Việt Nam và vị trí của
ngành trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội của đất nước. Việt
Nam có những lợi thế rất cơ bản để phát triển công nghiệp dệt may thành
7
một ngành mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế. Đó là nguồn nhân lực dồi dào, giá
nhân công rẻ; bản chất của công nghệ may không phức tạp và không đòi hỏi
lượng vốn đầu tư lớn; xu hướng dịch chuyển các ngành công nghiệp hao phí
nhiều lao động, trong đó có công nghiệp dệt may, từ các nước công nghiệp
phát triển sang các nước đang phát triển; truyền thống của ngành tại Việt
Nam, vị trí địa lý kinh tế và sự ổn định về chính trị xã hội …
Bên cạnh những thuận lợi hết sức cơ bản đó, trong việc phát triển
công nghiệp dệt may, Việt Nam cũng có những yếu thế, khó khăn nhất định.
Trong đó chủ yếu là:
- Khả năng thiết kế thời trang còn hạn chế. Về cơ bản đến nay, thương
hiệu hàng dệt may Việt Nam chưa tạo lập được chỗ đứng vững trên thị
trường quốc tế.
- Kinh nghiệm Marketting quốc tế chưa tích lũy được nhiều, khả năng
cạnh tranh trên thị trường thế giới còn thấp.
- Trình độ trang bị kỹ thuật còn thấp kém so với một số nước trong khu
vực.
- Phần lớn trong doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn kinh doanh …
Sơ đồ sản xuất và phân phối hàng may mặc
Hiện tại, trong quá trình thực hiện phương thức gia công xuất khẩu,
khách hàng nước ngòai không chỉ cung cấp cho các doanh nghiệp may
Thiết kế
sản phẩm
Lựa chọn
nhà cung
cấp
Mua
nguyên
phụ liệu
Cắt may
hoàn thiện
Xuất
khẩu
8
những thứ cần thiết trực tiếp cho sản xuất như nguyên vật liệu bao gồm
nguyên liệu, phụ liệu, bản thiết kế, mẫu thiết kế, thuyết minh sản phẩm …
mà còn thực hiện chuyển giao cả kỹ thuật sản xuất và quản lý cho bên Việt
Nam. Khách hàng hướng dẫn từ công đoạn lắp ráp dây chuyền sản xuất, các
kỹ thuật may, hòan thiện và kiểm tra sản phẩm, bên Việt Nam chỉ thực hiện
công đoạn thứ tự trong quá trình sản xuất ra sản phẩm may mặc. Nhờ việc
hướng dẫn kỹ thuật này mà trình độ sản xuất của các doanh nghiệp may Việt
Nam được nâng cao rõ rệt. Nhiều nhà nghiên cứu khi nhận xét về vấn đề này
đã cho rằng gia công xuất khẩu là con đường chuyển giao kỹ thuật chủ yếu
của các doanh nghiệp may Việt Nam.
1.2.2Xuất khẩu trực tiếp (FOB)
Trái với hình thức xuất khẩu theo phương thức gia công quốc tế, trong
hình thức xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp may Việt Nam tự mua
nguyên phụ liệu và bán các sản phẩm cho các khách hàng nước ngoài. Hiện
tại, trong sản xuất lưu thông hàng dệt may đang tồn tại 3 hình thức xuất khẩu
FOB được gọi là FOB kiểu I, FOB kiểu II, FOB kiểu III.
FOB kiểu I: Khách hàng nước ngoài chỉ định nhà sản xuất vải, quy
cách, màu vải, từ đó nhà máy mua vải sản xuất và xuất khẩu theo đơn hàng.
Điểm khác biệt của doanh nghiệp may thực hiện xuất khẩu FOB kiểu I và
doanh nghiệp may thực hiện theo hình thức gia công ủy thác là phía Việt
Nam phải chịu trách nhiệm trong việc thanh toán tiền mua vải. Khi tiến hành
thanh toán tiền mua vải, các doanh nghiệp may Việt Nam có thể thu được
lợi nhuận lưu thông. Trên thực tế,chênh lệch về lợi nhuận giữa hình thức này
và hình thức gia công xuất khẩu là không đáng kể.
FOB kiểu II: Khách hàng đưa ra mẫu hàng hóa cho doanh nghiệp may
Việt Nam báo giá và nhận đơn hàng. Trong phương thức này, doanh nghiệp
9
tự chuẩn bị vải bằng cách tìm mua trong nội bộ công ty hoặc tìm trên thị
trường. Do tự chuẩn bị vải nên các doanh nghiệp này có thể chủ động đưa
phần lợi nhuận của khâu mua vải vào báo giá sản phẩm của công ty mình, do
đó lợi nhuận được nâng lên.
FOB kiểu III: Trong hình thức này, doanh nghiệp may Việt Nam tự
thiết kế mẫu mã hàng hóa, tìm mua nguyên vật liệu và xuất khẩu với nhãn
hiệu riêng của mình. Theo hình thức này, doanh nghiệp may Việt Nam phải
đảm trách tòan bộ quá trình sản xuất từ khâu lập kế hoạch, thiết kế sản
phẩm, tìm mua nguyên vật liệu, cắt may hòan thiện sản phẩm và phân phối.
Phạm vi hoạt động của họ lớn hơn nhiều, bao trùm toàn bộ quá trình như đã
trình bày, mức độ rủi ro của thị trường và doanh nghiệp may phải gánh chịu
cũng lớn hơn và do đó lợi nhuận mà họ nhận được cũng cao hơn. Có thể nói
rằng trong ba hình thức xuất khẩu trực tiếp thì FOB kiểu III là loại có nhiều
rủi ro nhất nhưng cũng có khả năng mang lại nhiều lợi nhuận nhất.
Việc phát triển công nghiệp may phải phát huy được những lợi thế cơ
bản vốn có, nhưng cũng phải tính đến những khó khăn và yếu kém của
ngành may như đã đề cập ở trên để giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh.
Trong quan hệ thương mại quốc tế của các doanh nghiệp may, việc xuất
khẩu trực tiếp dưới hình thức mua nguyên vật liệu sản xuất sản phẩm (FOB)
về lý thuyết có lợi hơn là xuất khẩu dưới hình thức gia công (CMT) do bên
Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhuận lưu thông liên quan đến các khâu thiết
kế, chuẩn bị nguyên phụ liệu, phân phối. Song với những khó khăn và yếu
thế nếu trên, các doanh nghiệp may Việt Nam vẫn cần thiết phải duy trì một
mức độ nhất định về xuất khẩu bằng hình thức gia công. Về lâu dài, xuất
khẩu trực tiếp phải trở thành phương thức xuất khẩu chủ yếu của các doanh
nghiệp may Việt Nam nhưng gia công là bước đi quan trọng để tạo lập uy tín
của sản phẩm dệt may Việt Nam trên thị trường thế giới. Thông qua gia
10
công, các doanh nghiệp may có thể học hỏi kinh nghiệm Marketting quốc tế,
tổ chức quản lý sản xuất, tiếp thu công nghệ mới, từng bước đổi mới công
nghệ, tích lũy nguồn tài chính, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện
xuất khẩu trực tiếp một cách có hiệu quả. Như vậy trong những năm tới,
phương thức gia công vẫn phải được tiếp tục thực hiện với các doanh nghiệp
may Việt Nam và thực hiện gia công xuất khẩu phải được xem như là một
bước chuẩn bị cho việc chuyển sang hình thức xuất khẩu trực tiếp.

CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG PHƯƠNG THỨC
XUẤT KHẨU CỦA NGÀNH MAY VIỆT NAM
2.1 Thực trạng về sức cạnh tranh ngành may Việt Nam
Về sản phẩm:
11
Trong thời gian qua, ngành may Việt Nam đã đạt được một số kết quả
đáng khích lệ, sản phẩm của ngành bao gồm nhiều chủng loại khác nhau từ
sơ mi nam nữ, áo jacket, áo khoác nam nữ, quần jean, bộ quần áo nam nữ…
Nhiều sản phẩm mới ra đời, đặc biệt đã xuất hiện một số hàng chất lượng
cao có tiêu chuẩn quốc tế như sơ mi cao cấp, áo jacket quần jean … Những
sản phẩm này đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên nhiều thị trường
khó tính như Paris, London, Berlin, Tokyo, New York…
Mặc dù vậy, với điều kiện kỹ thuật và công nghệ hạn chế nên phần nhiều các
sản phẩm của ngành thuộc nhóm sản phẩm trung bình, chất lượng còn ở mức
khiêm tốn ( mặc dù cũng có một số sản phẩm có chất lượng cao). Nhìn
chung là các doanh nghiệp may chưa đáp ứng được những yêu cầu đối với
hàng may như mốt, mẫu mã, đường nét, chất liệu, màu sắc… của thị trường
xuất khẩu. Sản phẩm của ngành có nhiều đặc điểm riêng biệt ( như yếu tố
thời trang ) khiến thị hiếu khách hàng thay đổi nhanh phụ thuộc vào mốt và
thời vụ, công nghệ sản xuất thời trang lại thường khá đơn giản nên mẫu mốt
dễ bị bắt chước … Vì vậy dù công tác mẫu mốt đã có những bước phát triển
đáng kể nhưng chủ yếu ngành vẫn sử dụng mẫu mốt của ngành đặt hàng gia
công. Cũng bởi lý do này mà công tác sản xuất thường phụ thuộc vào khách
hàng.
Một số chủng loại hàng may xuất khẩu vào thị trường Mỹ năm 2002
TT Tên hàng TT Tên hàng
1 Hàng may cho trẻ sơ sinh 12 Bộ quần áo
2 Quần nam nữ trẻ em 13 Áo jacket
3 Áo nịt nam nữ trẻ em 14 Váy ngắn, váy dài
4 Áo khoác nam nữ trẻ em 15 Đồ ngủ
5 Áo veston nam bé trai 16 Đồ lót
6 Áo veston nữ bé gái 17 Áo gối
7 Sơ mi nam nữ cho trẻ em 18 Chăn
12
8 Sơ mi nam nữ cho người lớn 19 Túi xách
9 Áo veston nam 20 Hàng may chất liệu len
10 Bộ quần áo 21 Hàng may lụa và sợi thực vật
11 Áo blu nam nữ cho người lớn 22 Hàng may bông và không bông
Nguồn: Tài liệu hội thảo “Để đạt được mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may
năm 2003 và 2005 với hiệu quả cao”
Nói tóm lại, xét về sản phẩm, tuy chất lượng và cơ cấu sản phẩm của
ngành đa đạng và phong phú hơn trước nhưng so với nhu cầu và thị hiếu của
khách hàng thì còn nhiều khoảng trống chưa đáp ứng, nhất là đối với thị
trường các nước tư bản phát triển. Hàng may xuất khẩu của ngành nói chung
chưa có nhãn mác thương mại riêng, đây cũng là lý do làm giảm khả năng
cạnh tranh của sản phẩm may trên thị trường xuất khẩu.

Về giá bán sản phẩm
Ngành may có đặc điểm là có hàm lượng lao động cao, yêu cầu công
nghệ không quá hiện đại và phụ thuộc nhiều vào kỹ năng của người lao
động. Đặc điểm này làm cho ngành được đánh giá là có tính phù hợp cao
trong giai đoạn phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay. Việt Nam có nguồn lao
động dồi dào, cần cù, sáng tạo và đặc biệt là giá lao động thấp hơn các nước
trong khu vực đã tạo nên lợi thế so sánh của sản phẩm may Việt Nam. Số
liệu của bảng dưới đây cho thấy, tiền công lao động trong ngành dệt may của
Việt Nam thấp hơn rất nhiều các nước khác trong đó có các nước trong khu
vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan, Philipin, Indonesia
13
Tiền công lao động trong ngành dệt may của một số nước
(Đơn vị tính:
USD/giờ)
TT Nước Tiền công TT Nước Tiền công
1 Nhật 16,31 9 Malaysia 0,95
2 Pháp 12,63 10 Thái Lan 0,87
3 Mỹ 10,33 11 Philippin 0,67
4 Anh 10,16 12 Ấn Độ 0,54
5 Đài Loan 5 13 Trung Quốc 0,34
6 Hàn Quốc 3,6 14 Indonesia 0,23
7 Hồng Kông 3,39 15 Việt Nam 0,18
8 Singapore 3,16
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam
Tuy nhiên giá lao động rẻ chỉ là lợi thế nhất thời, không ổn định trong
cạnh tranh. Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh, các quá trình sản
xuất được tự động hóa thì giá công nhân rẻ không còn là thế mạnh như
trước. Mặt khác, phần lượng lượng nguyên liệu và đôi khi cả phụ liệu đầu
vào của các doanh nghiệp may là nhập khẩu theo dạng tạm nhập tái xuất do
khách hàng đặt gia công cung cấp. Cũng có nhiều khách hàng mua vải và
phụ liệu của các doanh nghiệp Việt Nam để đưa đến các doanh nghiệp may
gia công, nhưng giá cả của các nguyên vật liệu sản xuất trong nước thường
đắt hơn giá nhập khẩu, mẫu mã lại nghèo nàn, kém hấp dẫn, chất lượng các
lô hàng thường không đồng đều, thủ tục mua bán phức tạp, tiến độ giao hàng
sai hợp đồng thường xuyên xảy ra… Chính vì vậy các doanh nghiệp may
thường nhập khẩu các nguyên liệu từ nước ngòai, đẩy giá sản xuất và giá
bán hàng may lên rất cao. Cho nên dù có lợi thế về giá nhân công như đã nói
trên nhưng mức giá của các doanh nghiệp may Việt Nam thường cao hơn giá
sản phẩm cùng loại của các nước ASEAN. Ví dụ mức giá của tổng công ty
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét