Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Xác định tỷ lệ lysine me thích hợp trong thức ăn hỗn hợp cho lợn 5 máu ngoại giai đoạn 18 – 50 kg nuôi tại thái nguyên.pdf


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM
Bảng Nội dung Trang
Bảng 3.1a Sinh trƣởng tích luỹ của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 18%
44
Bảng 3.1b Sinh trƣởng tích luỹ của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 17%
45
Bảng 3.2a Sinh trƣởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 18%
47
Bảng 3.2b Sinh trƣởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 17%
47
Bảng 3.3a Sinh trƣởng tƣơng đối của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 18%
49
Bảng 3.3b Sinh trƣởng tƣơng đối của lợn thí nghiệm có tỷ lệ
lysine/NLTĐ khác nhau trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 17%
49
Bảng 3.4a Tiêu thụ thức ăn/ngày của lợn thí nghiệm khi cho ăn
thức ăn có tỷ lệ protein 18%
52
Bảng 3.4b Tiêu thụ thức ăn/ngày của lợn thí nghiệm khi cho ăn
thức ăn có tỷ lệ protein 17%
53
Bảng 3.5a Tiêu tốn thức ăn và năng lƣợng trao đối/kg tăng khối
lƣợng của lợn thí nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ
54

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
protein 18%
Bảng 3.5b Tiêu tốn thức ăn và năng lƣợng trao đối/kg tăng khối
lƣợng của lợn thí nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ
protein 17%
55
Bảng 3.6a Tiêu tốn protein và lysine/kg tăng khối lƣợng của lợn
thí nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 18%
57
Bảng 3.6b Tiêu tốn protein và lysine/kg tăng khối lƣợng của lợn
thí nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 17%
58
Bảng 3.7a
Chi phí thức ăn/kg tăng khối lƣợng của lợn thí nghiệm
khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 18%
61
Bảng 3.7b
Chi phí thức ăn/kg tăng khối lƣợng của lợn thí nghiệm
khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 17%
61
Bảng 3.8a
Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm khi
cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 18%
63
Bảng 3.8b
Kết quả mổ khảo sát năng suất thịt lợn thí nghiệm khi
cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 17%
64
Bảng 3.9a
Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí
nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 18%
68
Bảng 3.9b
Kết quả phân tích thành phần hoá học của thịt lợn thí
nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ protein 17%
68


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ Nội dung Trang
Sơ đồ 1.1 Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 3 giống ngoại 5
Sơ đồ 1.2 Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 4, 5 giống ngoại 6
Sơ đồ 1.3 Sử dụng axit amin trong cơ thể 15
Sơ đồ 1.4 Trao đổi lysine trong cơ thể 17
Sơ đồ 2.1 Bố trí thí nghiệm 38

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị Nội dung Trang
Đồ thị 3.1 a,b Tƣơng quan giữa tỷ lệ lysine/NLTĐ với sinh trƣởng
tích luỹ của lợn thí nghiệm trên nền thức ăn có tỷ lệ
protein 18% và 17%
51
Đồ thị 3.2 a,b Tƣơng quan giữa tỷ lệ lysine/NLTĐ và tỷ lệ thịt nạc
của thịt lợn thí nghiệm khi cho ăn thức ăn có tỷ lệ
protein 18% và 17%
67



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống có từ lâu đời ở nƣớc ta. Trong
thời gian qua, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ngành trồng trọt, đặc biệt là
sự tăng trƣởng nhanh về sản xuất lƣơng thực thực phẩm, nghề chăn nuôi lợn ở
nƣớc ta đã phát triển khá tốt, số lƣợng tổng đàn và chất lƣợng đàn đều tăng
khá. Chăn nuôi lợn ở nƣớc ta đã tăng trƣởng khá về tổng đàn, chất lƣợng đàn
cũng nhƣ quy mô sản xuất, kim ngạch xuất khẩu. Năm 2001 cả nƣớc có 21,8
triệu con nhƣng đến năm 2005 có 27,43 triệu con. Sản lƣợng thịt lợn hơi năm
2001 là 1,51 triệu tấn, năm 2005 là 2,29 triệu tấn tăng 10,12%/năm. Cơ cấu
giống lợn hiện nay đã đƣợc cải thiện tích cực, hầu hết các giống lợn có năng
suất và chất lƣợng cao trên thế giới đã đƣợc nhập vào nƣớc ta nhƣ Landrace,
Yorkshire, Pietrain, Duroc. Số lƣợng đàn lợn nái ngoại tăng khoảng 372 ngàn
con năm 2005. Từ năm 2001 đến 2005, bình quân mỗi năm xuất khẩu đƣợc từ
18-20 ngàn tấn/năm nhƣng khối lƣợng xuất khẩu chƣa nhiều và không ổn
định [2]. Tuy nhiên, so với yêu cầu và khả năng thì kết quả này còn quá
khiêm tốn. Sản lƣợng thịt xuất khẩu chiếm khoảng 1-3% tổng sản lƣợng thịt
lợn sản xuất trong nƣớc. Sản phẩm thịt lợn xuất khẩu của ta từ trƣớc đến nay
chủ yếu là thịt lợn sữa và thịt lợn choai, một số lƣợng nhỏ thịt lợn mảnh. Bên
cạnh giống và thị trƣờng thì sản xuất và cung ứng thức ăn có vai trò quan
trọng đáp ứng cho từng giống và phƣơng thức sản xuất đặc thù, vì chất lƣợng
thịt phụ thuộc nhiều vào thức ăn chăn nuôi (cùng một loại con giống, nhƣng
chất lƣợng thức ăn khác nhau sẽ cho sản phẩm khác nhau). Thức ăn thƣờng
chiếm 60 – 70% giá thành sản xuất 1 kg thịt hơi. Nhƣng nguồn nguyên liệu để
chế biến thức ăn gia súc ở trong nƣớc còn thiếu, hàng năm vẫn phải nhập
ngoại với giá cao. Đặc biệt trong thời gian gần đây giá thức ăn chăn nuôi leo
thang trong khi giá thịt lợn lại giảm. Thêm vào đó là dịch bệnh nhƣ bệnh lợn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
tai xanh, hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản, bệnh liên cầu khuẩn ở lợn đã
làm cho chăn nuôi lợn gặp không ít khó khăn. Để nâng cao sức cạnh tranh và
mở rộng thị trƣờng cho sản phẩm thịt lợn trong nƣớc và xuất khẩu thì có
nhiều vấn đề đang đặt ra đòi hỏi chúng ta cần nhanh chóng giải quyết.
Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại có
năng suất cao và tỷ lệ nạc cao, lai tạo giữa các giống kết hợp với những thành
công trong nghiên cứu thức ăn nhằm đảm bảo nhu cầu thịt nạc của ngƣời tiêu
dùng. Chúng ta biết rằng, thức ăn là một trong những yếu tố chính tác động
đến năng suất, phẩm chất của thịt lợn mà tác động này lại do protein, mức độ
và các tỷ lệ axit amin có trong thức ăn quyết định. Bên cạnh đó, các chất dinh
dƣỡng trong khẩu phần còn có nhiều mối quan hệ mật thiết với nhau, chỉ khi
đáp ứng không những đầy đủ mà còn cân đối phù hợp thì mới có thể khai thác
tối đa tiềm năng di truyền của vật nuôi. Một trong những mối quan hệ đó là
quan hệ giữa hàm lƣợng lysine và năng lƣợng trao đổi. Theo kết quả nghiên
cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc, tỷ lệ giữa lysine và năng lƣợng
trao đổi, ở mỗi giai đoạn sinh trƣởng của lợn không hoàn toàn giống nhau.
Hầu hết các kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ lysine/ME giảm dần theo
tuổi. Theo NRC (1988), trong điều kiện cho ăn tự do, mức năng lƣợng trao
đổi ổn định (3265 Kcal/kg TĂ) ở các giai đoạn 10 - 20; 20 - 50; 50 - 80; 80 -
120 kg thì tỷ lệ lysine trong khẩu phần tƣơng ứng là: 1,15; 0,95; 0,75 và
0,6%. Những kết quả nghiên cứu của Kaji và Cs (1987) [45] cho biết: nhu cầu
lysine cần cho 1 kg tăng khối lƣợng ở lợn con và lợn đang sinh trƣởng là 20g
và 17,3g lysine tiêu hoá và nhu cầu này không có sự khác biệt giữa các giai
đoạn sinh trƣởng. Kết quả này đƣợc các nhà dinh dƣỡng gia súc Nhật Bản sử
dụng làm căn cứ để tính toán nhu cầu lysine cho lợn con và lợn sinh trƣởng.
Mỗi nƣớc, trong những điều kiện nghiên cứu và thực tiễn cụ thể đều đƣa ra
những khuyến cáo không hoàn toàn giống nhau. Để góp phần làm sáng tỏ hơn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
mối quan hệ giữa tỷ lệ lysine với ME trong khẩu phần ăn của lợn ngoại giai
đoạn sinh trƣởng, trong điều kiện chăn nuôi tại Thái Nguyên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: "Xác định tỷ lệ Lysine/ME thích hợp trong thức ăn
hỗn hợp cho lợn 5 máu ngoại giai đoạn từ 18-50 kg nuôi tại Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu ảnh hƣởng của các khẩu phần thức ăn hỗn hợp có tỷ lệ
lysine/ME khác nhau đến sinh trƣởng, năng suất và thành phần hoá học của
thịt từ đó xác định tỷ lệ lysine/ME phù hợp cho lợn ngoại giai đoạn 18 - 50 kg

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số vấn đề liên quan đến giống lợn
Trƣớc đây, trong chăn nuôi quảng canh ngƣời ta thƣờng nuôi lợn
hƣớng mỡ, tận dụng thức ăn thừa, phế phụ phẩm nông nghiệp. Khi nhu cầu về
thịt nạc tăng thì các nhà chăn nuôi chú ý đến việc lai tạo với các giống lợn
ngoại cao sản, nuôi thuần các giống lợn ngoại siêu nạc.
Những năm gần đây, nhiều giống lợn ngoại có năng suất cao đã đƣợc
nhập nội vào Việt Nam. Đi đôi với việc sử dụng có hiệu quả các chƣơng trình
giống tối ƣu, việc nâng cao chất lƣợng lợn giống đã và đang đƣợc tiến hành
một cách tích cực. Đàn lợn cụ kỵ nhập nội này đã đƣợc nuôi thích nghi và sử
dụng trong nhiều năm qua và nay đƣợc làm tƣơi máu nhằm nâng cao năng
suất cho đàn lợn này. Lai tạo là biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng
suất và phẩm chất sản phẩm thông qua ƣu thế lai. Hiện nay, ở nhiều nƣớc có
chăn nuôi lợn phát triển 70 – 90% lợn nuôi thịt là lợn lai.
Tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều chƣơng trình lai tạo ra lợn nuôi thịt 4
- 5 giống do công ty PIC thực hiện. Với 3 dòng thuần đàn cụ kỵ là dòng L11
(giống Yorkshire chuyên hóa theo tăng khối lƣợng, tỷ lệ nạc). Dòng L06
(giống Landrace chuyên hóa theo khả năng sinh sản) và dòng L64 (giống
Pietran chuyên hóa theo tỷ lệ nạc cao) và 2 dòng tổng hợp là L19 và L95.
Để tạo ra lợn lai nuôi thịt có 4 và 5 giống, ngƣời ta thƣờng cho lợn đực
giống dòng 402 lai với lợn nái CA và C22.
Lợn đực 402 đƣợc tạo ra từ việc cho lai tạo giữa lợn đực dòng L64 và
lợn nái dòng L11.
Lợn nái C22 và CA thuộc cấp giống bố mẹ đƣợc tạo ra bằng cách cho
lai giữa lợn đực L19 với lợn nái C1050 và C1230.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
12
Khi cho lai giữa lợn đực dòng 402 với lợn nái CA sẽ tạo ra con lai
hybrid 5 giống để nuôi thịt. Lợn lai hybrid nuôi thịt 4 hoặc 5 giống có năng
suất cao, phẩm chất tốt (tỷ lệ nạc cao), phù hợp với phƣơng thức nuôi công
nghiệp hiện nay, đƣợc thị trƣờng ƣa chuộng.
* Đối với giống lợn ngoại, hiện nay đang phổ biến 3 công thức lai sau:
- Lợn lai 3 máu gồm các giống: Yorkshire – Landrace - Duroc, loại này phổ
biến ở các tỉnh phía Bắc (Đồng bằng Sông Hồng, Đông Bắc, Bắc Trung Bộ).
+ Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 3 giống ngoại
ông bà:









Sơ đồ 1.1: Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 3 giống ngoại
- Lợn lai 4 máu gồm các giống: Yorkshire – Landrace – Duroc –
Pietrain, loại này phổ biến ở các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Đông Nam Bộ và
Đồng bằng sông Cửu Long.
- Lợn lai 5 máu gồm các dòng: L95 - L11 - L06 - L19 - L64. Trại giống
cụ kỵ Tam Điệp, Ninh Bình của Viện Chăn nuôi, loại này phổ biến ở một số
tỉnh Đồng bằng sông Hồng (Ninh Bình, Thái Bình, Hƣng Yên, ).
+ Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 4, 5 giống ngoại

Yr, Lr
Lr, Yr

Dr
LrYr,
YrLr
YrLrDr
LrYrDr


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13















Sơ đồ 1.2: Công thức lai tạo lợn thƣơng phẩm lai 4, 5 giống ngoại
1.1.2. Dinh dưỡng axit amin ở lợn
Mặc dù protein có chứa 20 loại axit amin chính, nhƣng không phải tất cả
số đó đều là thành phần thiết yếu của khẩu phần. Một số axit amin có thể tổng
hợp đƣợc từ nguồn gốc cacbon và các nhóm amin chuyển hoá từ các axit amin
khác dƣ thừa so với nhu cầu. Những axit amin đƣợc tổng hợp theo kiểu này gọi
là axit amin không thiết yếu. Mặc dù cả hai loại axit amin này đều cần thiết cho
hoạt động sinh lý và trao đổi, các khẩu phần thông dụng của lợn đều chứa đủ
lƣợng các axit amin không thiết yếu hay các nhóm axit amin để tổng hợp nên
chúng. Điều này cũng đúng cả với các khẩu phần có lƣợng protein thấp và phải
bổ sung bằng các axit amin kết tinh (Brudboil và Souther, 1994 [6]. Nhƣ vậy,
phần quan trọng trong dinh dƣỡng cho lợn là các axit amin thiết yếu.
GP
1230
GPT
1050
CA
c
C22
z
5 máu
4 máu
L19
E,M

L19
Duroc
L06
Lr
L11
Yr
L64
Pie

L95
Meishan
L64
Pietran


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
14
Một vài axit amin không rõ ràng thuộc loại thiết yếu hay không thiết
yếu. Ví dụ nhƣ: arginine thƣờng đƣợc coi là một axit amin thiết yếu. Cơ thể
lợn có thể tự tổng hợp đƣợc arginine và sự tổng hợp arginine từ glutamin có
thể thấy ở tế bào thành ruột non trong khoảng 1 giờ trƣớc lúc đẻ (Wu và
Knable, 1995) [6]. Tuy nhiên, sự tổng hợp này không đáp ứng đủ nhu cầu
dinh dƣỡng trong giai đoạn phát triển đầu tiên của lợn (Souther) [6]. Vì vậy,
trong khẩu phần của lợn vỗ béo cần cung cấp arginine.
Hạt ngũ cốc nhƣ ngô, lúa mỳ, cám là thành phần chủ yếu của khẩu
phần ăn của lợn, và cung cấp từ 30 – 60% tổng nhu cầu axit amin. Nhƣng
cũng cần phải có nguồn protein khác nhƣ khô đỗ tƣơng để bảo đảm cung cấp
đủ và cân bằng các axit amin thiết yếu. Cũng có thể cung cấp axit amin tinh
thể để tăng cƣờng lƣợng ăn vào các axit amin đặc trƣng trong thức ăn. Lƣợng
protein cần thiết để cung cấp đủ với lƣợng axit amin thiết yếu ăn vào sẽ phụ
thuộc vào loại thức ăn sẽ đƣợc sử dụng. Loại thức ăn chứa những protein
chứa các axit amin với lƣợng thích ứng nhu cầu của lợn hay thức ăn hỗn hợp
trong đó sự thiếu hụt axit amin ở loại thức ăn này sẽ đƣợc bổ sung ở loại thức
ăn khác, sẽ đáp ứng đủ nhu cầu về axit amin thiết yếu mặc dù mức protein
khẩu phần thấp hơn so với loại thức ăn có một loại axit amin ít thích hợp.
Điều này rất quan trọng đối với mục đích giảm tối thiểu lƣợng nitrogen đào
thải. Một phƣơng pháp khác làm giảm lƣợng protein khẩu phần, nhờ đó làm
giảm lƣợng nitrogen đào thải, là việc bổ sung một lƣợng chính xác các axit
amin tinh thể. Nhu cầu axit amin của lợn choai – lợn vỗ béo trong khẩu phần
sẽ tăng khi năng lƣợng trong khẩu phần tăng
Khi khẩu phần thức ăn mất cân bằng các chất dinh dƣỡng thì sẽ gây
hoạt động căng thẳng của hệ tiêu hóa, từ đó giảm sự tiêu hoá, hấp thu các chất
dinh dƣỡng. Khẩu phần thiếu protein sẽ làm tăng hoạt động của cơ quan tiêu
hóa, làm thải nhiều nitơ theo dịch tiêu hóa để tạo nên nhũ chấp có tỷ lệ thành

Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực của khách sạn ĐiệnLực Hà Nội .doc

Khi mới bắt đầu hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ là cơ sở cung cấp
dịch vụ lưu trú đơn thuần, về sau mới phát triển và mở rộng thêm dịch vụ ăn
uống cho nên doanh thu từ kinh doanh khách sạn chưa thực sự hiệu quả. Về sau
nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng
cao đáng kể, con người có nhiều cơ hội chăm lo, thoả mãn đời sống tinh thần của
mình hơn, những người tìm đến du lịch để thoả mãn nhu cầu tinh thần của mình
ngày càng nhiều hơn. Mặt khác, do hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, quan hệ
hợp tác giữa các quốc gia cả về kinh tế, văn hoá cũng tạo điều kiện cho kinh
doanh du lịch khách sạn ngày càng phát triển vượt trội.
Sự phát triển của du lịch đã làm tăng tính đa dạng trong hoạt động kinh
doanh khách sạn. Dịch vụ khách sạn cung cấp nhiều hơn, mở rộng hơn cả về số
lượng và chất lượng. Ngoài hai hoạt động chính là kinh doanh lưu trú và kinh
doanh ăn uống, kinh doanh khách sạn còn bổ sung các dịch vụ vui chơi giải trí,
làm việc, tổ chức hội thảo, chữa bệnh, cũng như tạo điều kiện cho khách hàng có
thể tiếp cận thông tin thông qua dịch vụ internet trong khách sạn.
Hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, chịu ảnh hưởng của nền kinh tế thế
giới, theo xu thế toàn cầu ngành du lịch Việt Nam cũng đang trên đà phát triển
mạnh mẽ, kéo theo đó là sự phát triển của ngành kinh doanh khách sạn. Hàng
loạt các khách sạn lớn, nhỏ đã được thành lập nhằm phục vụ cho khách du lịch,
bên cạnh đó còn phục vụ cho việc tổ chức hội thảo, chăm sóc khách hàng, ngoài
các dịch vụ lưu trú, ăn uống.
Việt Nam được công nhận là điểm đến an toàn, có nhiều danh lam thắng
cảnh, cộng với sự hợp tác kinh tế giữa các quốc gia với Việt Nam ngày càng lớn
cho nên lượng khách du lịch đến với Việt Nam tăng lên hàng năm. Dựa trên
thuận lợi đó, Hà Nội hơn nữa là lại là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội
5
của cả nước nên có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh doanh du
lịch khách sạn. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực này đã được
thành lập tạo nên một môi trường cạnh tranh khá mạnh, tất cả đều nhằm mục
đích thoả mãn nhu cầu con người. Cạnh tranh mạnh, các doanh nghiệp ra sức tạo
ra các sản phẩm tốt nhất thoả mãn khách hàng, đẩy mạnh kinh doanh khách sạn
của thành phố ngày càng phát triển. Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên
chính thức của tổ chức kinh tế thế giới WTO cho nên cơ hội phát triển của du
lịch Việt Nam cũng tăng lên gấp bội.
1.1.2. Đặc điểm của kinh doanh khách sạn
1.1.2.1. Kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm
du lịch
Do sự phát triển của kinh doanh du lịch, kinh doanh khách sạn cũng từ đó
phát triển không ngừng, chính vì vậy kinh doanh khách sạn chỉ có thể thành công
ở những nơi có tài nguyên du lịch, bởi tài nguyên du lịch chính là nhân tố quyết
định động cơ, thúc đẩy nhu cầu đi du lịch của con người. Nơi nào không có tiềm
năng du lịch thì nơi đó không thu hút được khách du lịch trong khi khách du lịch
là khách hàng quan trọng nhất của khách sạn, hoạt động kinh doanh du lịch cũng
như kinh doanh khách sạn không thể tồn tại và phát triển được.
Không chỉ có vậy mức độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch cũng như khả
năng tiếp nhận của tài nguyên du lịch ở mỗi điểm du lịch cũng có ảnh hưởng
nhất định đến quy mô của khách sạn. Địa điểm du lịch nào có tài nguyên càng
hấp dẫn, càng có giá trị về mặt thiên nhiên, văn hoá, lịch sử, xã hội, kinh tế thì
khả năng thu hút khách du lịch lớn, kéo theo đó quy mô của các khách sạn trong
vùng cũng phải lớn. Mặt khác, đặc điểm về tài nguyên du lịch, kinh tế văn hoá,
xã hội của địa điểm du lịch cũng có những ảnh hưởng nhất định đến các sản
6
phẩm dịch vụ mà khách sạn cung cấp. Không những thế giá trị và sức hấp dẫn
của tài nguyên du lịch cũng có tác dụng quyết định đến thứ hạng của khách sạn.
Một mặt tài nguyên du lịch có tác dụng ảnh hưởng tới hoạt động kinh
doanh khách sạn, mặt khác đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật, kiến trúc khách
sạn tại các điểm du lịch cũng có ảnh hưởng trở lại đối với giá trị tài nguyên du
lịch. Do vậy, để kinh doanh khách sạn có hiệu quả cần phải cân nhắc thật kỹ
lưỡng về quy mô, kiến trúc, cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn phải phù hợp
với giá trị tài nguyên tại địa điểm kinh doanh du lịch đó.
1.1.2.2. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng vốn đầu tư lớn
Khách hàng chủ yếu của khách sạn là khách du lịch, những người có nhiều
khả năng về tài chính, họ đã được thoả mãn về mặt vật chất sẵn sàng chi trả cho
các dịch vụ của khách sạn để được thoả mãn về mặt tinh thần chính vì thế mà đòi
hỏi của họ về sản phẩm khách sạn phải có chất lượng cao. Chính đặc điểm sản
phẩm khách sạn phải có chất lượng cao nên kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung
lượng vốn đầu tư lớn.
Đối với kinh doanh khách sạn đòi hỏi về vốn đầu tư ban đầu là rất lớn. Cơ
sở vật chất kỹ thuật phải được trang bị hiện đại và sang trọng, trong thời đại kinh
tế phát triển ngày càng mạnh như hiện nay thì vốn đầu tư cho cơ sở vật chất càng
lớn. Chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật của khách sạn tăng lên cùng với sự
tăng lên của thứ hạng khách sạn, thứ hạng khách sạn càng cao bao nhiêu thì đòi
hỏi về cơ sở vật chất càng hiện đại bấy nhiêu. Sự sang trọng của cơ sở vật chất
kỹ thuật của khách sạn cũng làm nên ấn tượng ban đầu và cả quá trình sử dụng
sản phẩm khách sạn của khách du lịch. Sự sang trọng càng cao, ấn tượng càng
tốt và mức độ hài lòng càng cao, chính điều này là nguyên nhân thúc đẩy chi phí
đầu tư ban đầu của khách sạn lên cao.
7
1.1.2.3. Kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương
đối lớn
Nếu như trước đây dịch vụ mà khách sạn cung cấp chỉ bao gồm dịch vụ
lưu trú, ăn uống là chủ yếu nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của con người thì
ngày nay các dịch vụ của khách sạn không bị bó hẹp trong hai dịch vụ đó mà
ngày càng có them nhiều dịch vụ bổ sung khác. Dịch vụ ngày càng phong phú:
dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ bổ sung như dịch vụ giải trí, chữa bệnh tổ chức
hội họp. Điều này đòi hỏi phải có số lượng nhân viên lớn mới có khả năng thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Mặc khác sản phẩm khách sạn lại chủ yếu mang tính chất phục vụ và sự
phục vụ này phải trực tiếp có sự tham gia của cả nhân viên khách sạn và khách
hàng, hay nói cách khác sự phục vụ này không thể cơ giới hóa được. Lao động
trong kinh doanh khách sạn có tính chuyên môn hóa cao ( thường được đào tạo
chuyên nghiệp về một lĩnh vực phục vụ trong khách sạn ). Bên cạnh đó thời gian
lao động lại bị phụ thuộc vào thời gian tiêu dùng của khách, phục vụ khách hàng
vào tất cả các giờ trong ngày. Chính vì thế cần phải cần phải sử dụng một số
lượng lớn lao động làm việc trực tiếp trong khách sạn. Vì phải sử dụng một số
lượng lớn lao động trực tiếp cho nên chi phí lao động trong kinh doanh khách
sạn là khá lớn, mà lại khó làm giảm chi phí này vì dễ ảnh hưởng đến chất lượng
dịch vụ. Để giải quyết tốt nhất vấn đề chi phí nhân lực là cần phải có một đội
ngũ nhân viên phục vụ chuyên nghiệp, vừa giảm được số lượng nhân viên vừa
đảm bảo được chất lượng dịch vụ khách sạn.
8
1.1.2.4. kinh doanh khách sạn mang tính quy luật
Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác kinh doanh khách sạn cũng chịu
sự chi phối của cấc quy luật như : quy luật tự nhiên, quy luật tâm lý con người,
quy luật kinh tế xã hội…
Chẳng hạn, nếu trong một quốc gia có sự biến động về chính trị, đất nước
đó đang bị chiến tranh đe dọa thì chắc chắn sự biến động này sẽ ảnh hưởng đến
số lượng khách đến với đất nước đó. Trong tháp nhu cầu của Maslow trong đó
nhu cầu an toàn là một trong năm nhu cầu của con người. Nhu cầu này cũng rất
quan trọng, người ta chỉ đi du lịch khi người ta có đủ khả năng chi trả và thực sự
cảm thấy an toàn, không ai lại đi du lịch đến một nơi mà có thể gây thiệt hại cho
họ về tính mạng và tài sản. Như Việt Nam được biết đên như một điểm đến an
toàn cho nên đây là một cơ hội cho sự thu hút khách du lịch đến với Việt Nam.
Điều này cũng xảy ra tương tự đối với các quy luật tự nhiên. Nếu thời tiết
thuận lợi con người sẽ đi du lịch nhiều hơn. Những biến động của thời tiết khí
hậu trong năm luôn tạo ra những thay đổi theo những quy luật nhất định về giá
trị và sức hấp dẫn của tài nguyên du lịch tại khu vực chịu ảnh hưởng của sự thay
đổi đó. Đây chính là nguyên nhân gây ra tính mùa vụ trong kinh doanh du lịch và
tác động cả tới kinh doanh khách sạn. Tính mùa vụ được thẻ hiện rõ nhất ở loại
hình du lịch nghỉ dưỡng.
Các quy luật này đều có những tác động tích cực cũng như tiêu cực đến
hoạt động kinh doanh khách sạn. Các nhà kinh doanh khách sạn cần phải nhận
biết, nghiên cứu sự biến động của các quy luật để phát huy các tác động có lợi
đồng thời hạn chế các tác động có hại nhằm mang đến hiệu quả cao cho hoạt
động kinh doanh của khách sạn.
9
1.1.3. Ý nghĩa của kinh doanh khách sạn
Kinh doanh khách sạn ngày càng chứng tỏ vai trò của nó trong nền kinh tế
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nó không chỉ mang ý nghĩa về mặt
kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc.
1.1.3.1. Ý nghĩa kinh tế
Từ khi nhu cầu du lịch của con người ngày càng tăng cao thì ngành kinh
doanh du lịch ngày càng phát triển. Từ đấy mà kinh doanh khách sạn cũng có
nhiều cơ hội phát triển. Kinh doanh khách sạn là một trong những hoạt động
chính, thực hiện những nhiệm vụ quan trọng của ngành du lịch. Kinh doanh du
lịch và kinh doanh khách sạn có mối quan hệ tương tác với nhau, hỗ trợ, tạo điều
kiện cho nhau cùng phát triển.
Kinh doanh khách sạn sử dụng sản phẩm của các ngành kinh tế khác như
công nghiệp nặng, công nghệ thông tin, ngành thủ công mỹ nghệ…phát triển
kinh doanh khách sạn cũng chính là tạo điều kiện thúc đẩy các ngành kinh tế
khác cùng phát triển, tăng thu nhập quốc dân và thúc đẩy nền kinh tế của quốc
gia đó đi lên, đồng thời cũng khuyến khích phát triển cơ sở hạ tầng cho các điểm
du lịch.
Kinh doanh du lịch khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư lớn về cơ sở vật chất kỹ
thuật, đòi hỏi phải thu hút được nguồn vốn lớn từ đầu tư của nước ngoài. Hiện
nay kinh tế mở cửa, giao lưu kinh tế ngày càng mạnh mẽ hơn, vì vậy mà kinh
doanh khách sạn phát triển còn góp phần tăng cường thu hút vốn đầu tư trong và
ngoài nước, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân.
Kinh doanh khách sạn làm tăng thu nhập quốc dân cho các vùng và các
quốc gia, đồng thời còn làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Không những giải quyết
10
được việc làm cho người lao động kinh doanh khách sạn trực tiếp mà còn giải
quyết được số lượng lớn về việc làm gián tiếp trong các ngành có liên quan.
Như vậy kinh doanh khách sạn có ý nghĩa kinh tế lớn đối với nền kinh tế
của bất kỳ quốc gia nào có hoạt động kinh doanh du lịch khách sạn. Đối với Việt
Nam thì ngày càng có ý nghĩa vì Việt Nam còn nghèo và lượng lao động dư thừa
nhiều.
1.1.3.2. Ý nghĩa xã hội
Con người đi du lịch là nhằm thỏa mãn nhu cầu bề mặt tinh thần của mình.
Kinh doanh khách sạn cũng đóng góp quan trọng vào việc thỏa mãn nhu cầu đó,
làm giữ gìn và phục hồi khả năng lao động và sức sản xuất của người lao động.
Không những thế còn nâng cao được mức sống cả về vật chất và tinh thần cho
nhân dân.
Kinh doanh khách sạn còn tạo điều kiện cho sự giao lưu, hợp tác giữa con
người không chỉ bó hẹp trong một vùng, một quốc gia mà rộng ra trên phạm vi
cả châu lục và toàn thế giới.
Không chỉ tạo thuận lợi cho sự giao lưu cá nhân con người mà kinh doanh
khách sạn còn tạo điều kiện cho sự giao thoa về văn hóa, chính trị, xã hội giữa
các quốc gia với nhau.
Như vậy kinh doanh khách sạn rất có ý nghĩa trên cả hai phương diện kinh
tế, xã hội. Nó cùng với kinh doanh du lịch đang dần trở thành nền kinh tế mũi
nhọn của nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam.
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong kinh doanh
khách sạn
1.2.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn
11
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hình thành và phát triển thì vấn đề
nhân lực phải được thỏa mãn hàng đầu. Nhân lực giúp vận hành các hoạt động
của doanh nghiệp thông qua các nghiệp vụ quản lý, lao động trực tiếp, lao động
gián tiếp….Một doanh nghiệp bất kỳ nào khi tham gia vào nền kinh tế thế giới
muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì nguồn nhân lực phải có chuyên môn
cao và được sử dụng có hiệu quả cả về số lượng và chất lượng. Nhân lực làm nên
chất lượng sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, tham gia vào quá trình sản xuất
sản phẩm nhằm tạo ra lợi nhuận lẫn uy tín cho doanh nghiệp. Như vậy nguồn
nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp, đảm bảo cho các hoạt động của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi và đạt
những thành công nhất định.
Nhân lực trong kinh doanh khách sạn cũng có những vai trò quan trọng,
bên cạnh đó còn có những vai trò đặc trưng của ngành kinh doanh dịch vụ. Bởi
lẽ ngành kinh doanh khách sạn là ngành kinh doanh dịch vụ, là ngành có những
đặc trưng khác biệt so với các ngành kinh tế khác. Sản phẩm mà khách sạn c ung
cấp chủ yếu là sản phẩm dịch vụ, những dịch vụ đó được cung cấp cho khách
hàng thông qua sự phục vụ của các nhân viên. Sự phục vụ đó không thể cơ giới
hóa được, mà phải có sự tham gia trực tiếp của cả nhân viên khách sạn và khách
hàng. Thông qua quá trình phục vụ của nhân viên mà khách hàng cảm nhận được
chất lượng sản phẩm về mặt hữu hình và vô hình ( yếu tố chủ yếu ) của nó.
Chính sự phục vụ trực tiếp của nhân viên khách sạn đối với khách hàng tạo nên
giá trị cảm nhận của khách hàng, chính vì vậy mà sự phục vụ của nhân viên
khách sạn là rất quan trọng. Do đó nguồn nhân lực trong khách sạn là nhân tố
quan trọng hàng đầu quyết định đến hiệu quả kinh doanh của khách sạn.
12
Mặt khác các nhan viên điều hành, quản lý, các nhân viên marketing cũng
là một phần quan trọng trong nguồn nhân lực khách sạn. Những nhân viên này
nghiên cứu, phát hiện nhu cầu khách hàng và điều hành quản lý nhân viên phục
vụ trực tiếp đảm bảo chất lượng phục vụ của khách sạn.
Như vậy nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng trong bất cứ một
lĩnh vực náo cùa đời sống xã hội. Nó đóng vai trò quyết định đến sự thành bại
của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như
kinh doanh khách sạn nói riêng. Để có thể tồn tại và phát triển thì bất cứ một
doanh nghiệp nào cũng phải đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực với chất lượng
cao và thực sự chuyên nghiệp.
1.2.3. Đặc điểm nhân lực trong kinh doanh khách sạn
1.2.3.1. Lao động trong khách sạn chủ yếu là lao động dịch vụ
Theo Giáo trình Quản trị kinh doanh khách sạn : “ Sản phẩm của khách
sạn là tất cả những dịch vụ hàng hóa mà khách sạn cung cấp nhằm đáp ứng nhu
cầu khách hàng kể từ khi họ liên hệ với khách sạn lần đầu để đăng ký buồng cho
tới khi tiêu dùng xong và rời khỏi khách sạn”.
Nếu trong các lĩnh vực kinh doanh khách hệ thống sản phẩm của các
doanh nghiệp chỉ là các sản phảm hàng hóa thì trong lĩnh vực kinh doanh khách
sạn sản phẩm khách sạn ngoài sản phẩm hàng hóa còn có một phần sản phẩm
quan trọng khác đó là sản phẩm dịch vụ. Mặc dù các sản phẩm của khách sạn tồn
tại dưới cả hai hình thức hàng hóa và dịch vụ nhưng hầu như các sản phẩm là
hàng hóa đều được thực hiện dưới hình thức dịch vụ khi đem bán cho khách
hàng. Chính vì vậy mà sản phẩm của kinh doanh khách sạn là sản phẩm dịch vụ.
Lao động trong kinh doanh khách sạn thực hiện nhiệm vụ trực tiếp phục
vụ khách hàng, đưa sản phẩm dịch vụ của khách sạn đến với khách hàng và thỏa
13
mãn tối đa nhu cầu của họ. Bởi lẽ đó lao động trong kinh doanh khách sạn chủ
yếu là lao động dịch vụ. Yêu cầu lao động trong kinh doanh khách sạn cũng có
những đặc trưng khác biệt so với các ngành kinh doanh khác, vì sản phẩm dịch
vụ của khách sạn mang tính vô hình. Nó không tồn tại dưới dạng vật chất, cả
người cung cấp và người sử dụng đều không thể kiểm tra được chất lượng của nó
trước khi tiêu dùng. Các sản phẩm dịch vụ của khách sạn vì thế cũng không thể
vận chuyển được, nó chỉ được thực hiện trong kênh phân phối theo hướng: khách
hàng phải đến khách sạn để tiêu dùng dịch vụ tại đây.
Như vậy lao động trong kinh doanh khách sạn chủ yếu là lao động dịch
vụ, chính vì điểm khác biệt này so với lao động trong các lĩnh vực khác mà đòi
hỏi lao động trong kinh doanh khách sạn phải có trình độ chuyên môn cao, nắm
bắt và hiểu được tâm lý khách hàng, từ đó mới thỏa mãn tốt nhu cầu khách hàng
mang lại hiệu quả kinh doanh cho khách sạn.
1.2.3.2. Tính chuyên môn hóa cao dẫn đến khó thay thế lao động
Sản phẩm khách sạn có tính tổng hợp cao. Tính tổng hợp này xuất phát từ
nhu cầu đa dạng của khách du lịch, nhu cầu của khách du lịch càng phong phú
thì tính tổng hợp càng cao. Vì vậy trong cơ cấu của sản phẩm khách sạn hiện nay
hệ thống sản phẩm của khách sạn hết sực đa dạng vì nhu cầu của con người ngày
càng tăng lên và cần được thỏa mãn. Bên cạnh dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn
uống là hai dịch vụ không thể thiếu trong kinh doanh khách sạn thì các dịch vụ
bổ sung và các dịch vụ giải trí đang ngày càng có xu hướng tăng lên.
Sản phẩm khách sạn ngày một đa dạng hơn kéo theo đó cần phải tiên hành
chuyên môn hóa nguồn nhân lực trong kinh doanh khách san. Bởi lé một nhân
viên không thể đảm nhân tất cả các công việc mà vẫn đem lại hiệu quả vì thể
14

Tin học căn bản chương 3

5
PROGRAMMING
=
ALGORITHMS
+
DATA STRUCTURE
6

PHẢI TỔ CHỨC DỮ LIỆU THEO CÁCH
TỐT NHẤT :
Dữ liệu trong tin học phải được phân loại,
xác đònh một cách rạch ròi theo những quy
đònh chặt chẽ, chính xác để máy có thể
phân biệt, nhận biết, lưu trữ và xử lý

PHẢI TÌM ĐƯC THUẬT TOÁN TỐT
NHẤT, TỐI ƯU NHẤT

7

4 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ MỘT
CHƯƠNG TRÌNH :
 Tính tin cậy
 Tính uyển chuyển
 Tính trong sáng
 Tính hữu hiệu
8
LẬP TRÌNH CẤU TRÚC
L Cấu trúc về mặt dữ liệu
C Từ những lệnh đơn giản đã có hoặc những lệnh đã
có cấu trúc, có thể xây dựng những lệnh có cấu trúc
phức tạp hơn
p Cấu trúc về mặt chương trình :
Một chương trình lớn có thể chia thành nhiều
modun chương trình con độc lập

Mỗi chương trình con lại có thể phân chia thành
các chương trình con khác.
PASCAL là một trong các ngôn ngữ tiêu biểu về
có cấu trúc
9
3.2 Thuật toán

Giải thuật
10
KHÁI NIÊM THUẬT TOÁN
Lµ kh¸i niƯm c¬ së cđa To¸n häc vµ
Tin häc
Tht to¸n (Algorithm) lµ mét hƯ
thèng chỈt chÏ vµ râ rµng c¸c quy t¾c
nh»m x¸c ®Þnh mét d·y c¸c thao t¸c trªn
nh ngữ ®èi t­ỵng, sao cho sau mét sè h u ữ
h¹n b­íc thùc hiƯn c¸c thao t¸c ta ®¹t ®­
ỵc mơc tiªu ®Þnh tr­íc.
11
Ng­êi hc m¸y thùc hiƯn
mét tht to¸n ®­ỵc gäi lµ mét
bé xư lý.
Nh­ vËy mét bé xư lý cđa
mét tht to¸n T nµo ®ã lµ mét
c¬ chÕ cã kh n ng thùc hiƯn ả ă
c¸c thao t¸c trªn c¸c ®èi t­ỵng
theo mét trình tù do T quy ®Þnh.
12
Cïng mét bµi to¸n cã thĨ cã
nhiỊu tht to¸n kh¸c nhau.
Tht to¸n ®¬n giản, dƠ
hiĨu, cã ®é chÝnh x¸c cao, ®­ỵc
bảo ®ảm vỊ mỈt to¸n häc, dƠ
triĨn khai trªn m¸y, thêi gian
thao t¸c ng¾n, ®­ỵc gäi lµ tht
to¸n tèi ­u.
13
Nghiªn cøu tht to¸n lµ mét trong
những vÊn ®Ị quan träng nhÊt cđa Tin häc.
Lý thut vỊ tht to¸n phải giải
qut c¸c vÊn ®Ị sau :
-Những bµi to¸n nµo giải ®­ỵc b»ng
tht to¸n; bµi to¸n nµo kh«ng giải ®­ỵc
b»ng tht to¸n
-Tìm tht to¸n tèt nhÊt, tèi ­u cđa
mét bµi to¸n
-TriĨn khai tht to¸n trªn m¸y tÝnh
14
Vài ví dụ
Tht to¸n giải ph­¬ng trình bËc hai :
A X
2
+ BX + C = 0 (A ≠ 0)
  -B­íc 1 : TÝnh DELTA = B*B-4*A*C
-B­íc 2 : So s¸nh DELTA víi sè 0
-B­íc 3 : RÏ lµm 3 tr­êng hỵp :
DELTA
DELTA
-Tr­êng hỵp DELTA < 0 :
th«ng b¸o ph­¬ng trình v« nghiƯm ; kÕt thóc tht to¸n.
-Tr­êng hỵp DELTA = 0 : tÝnh nghiƯm kÐp :
X1 = X2
th«ng b¸o nghiƯm kÐp; kÕt thóc tht to¸n.
-Tr­êng hỵp DELTA > 0 :tÝnh hai nghiƯm ph©n biƯt:
X1, X2
  th«ng b¸o nghiƯm ; kÕt thóc tht to¸n.

Kế toán tiêu thụ hàng hóa và xác định kết quả tiêu thụ

+ Chi phí nhân viên bán hàng: Bao gồm toàn bộ lơng chính, lơng phụ và các
khoản phụ cấp có tính chất lơng. Các khoản tính cho quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ
của nhân viên bán hàng, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, bốc dỡ hàng hoá tiêu
thụ.
+ Chi phí vật liệu bao bì: Bao gồm các chi phí vật liệu liên quan đến bán hàng
nh vật liệu bao gói, vật liệu dùng cho sửa chữa quầy hàng
+ Chi phí công cụ đồ dùng: Là các loại chi phí cho dụng cụ cân đo đong đếm,
bàn ghế, máy tính cầm tay phục vụ cho bán hàng.
+ Chi phí bảo hành sản phẩm: Là chi phí chi cho sản phẩm trong thời gian đợc
bảo hành theo hợp đồng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là các chi phí mua ngoài sửa chữa TSCĐ, tiền
thuê kho bãi, cửa hàng, vận chuyển bốc hàng tiêu thụ, tiền hoa hồng cho đại lý
bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác nhập khẩu.
+ Chi phí bằng tiền khác: Là chi phí khác phát sinh trong khi bán hàng ngoài
các chi phí kể trên, nh chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu
sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo chào hàng, chi phí hội nghị khách hàng
1.1.2.7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp: Là những khoản chi phí phát sinh có liên quan
chung đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra đợc cho
bất kỳ một hoạt động nào.
Chi phí bộ phận quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều loại nh:
+ Chi phí nhân viên quản lý: Bao gồm các khoản tiền lơng , các khoản phụ cấp,
BHXH, BHYT, KPCĐ của ban giám đốc, nhân viên quản lý ở các phòng ban của
doanh nghiệp.
+ Chi phí vật liệu quản lý: Bao gồm các vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý
nh: Giấy, mực, bút
+ Chi phí đồ dùng văn phòng: Phản ánh giá trị dụng cụ, đồ dùng văn phòng
dùng cho công tác quản lý.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho
doanh nghiệp nh: Nhà cửa làm việc của các phòng, ban, máy móc thiết bị dùng
cho quản lý
+ Chi phí dự phòng : Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, tính vào
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh chi phí về dịch vụ mua ngoài, thuê
ngoài nh: Tiền điện, nớc, điện thoại, thuê nhà
+ Chi phí bằng tiền khác: Phản ánh các chi phí khác thuộc quản lý chung của
doanh nghiệp nh hội nghị, tiếp khách, công tác phí.
5
Việc phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp tuỳ thuộc vào
lợi nhuận về tiêu thụ trong kỳ, căn cứ vào mức độ ( quy mô) phát sinh chi phí và
doanh thu bán hàng vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp bảo đảm nguyên tắc
phù hợp giữa chi phí và doanh thu.
1.1.2.8. Lợi nhuận thuần trớc thuế
Lợi nhuận thuần trớc thuế là số chênh lệch giữa lợi nhuận gộp về tiêu thụ với
chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Lợi nhuận thuần trớc thuế đợc xác định bằng công thức sau:
Lợi nhuận
thuần trớc thuế
= Lợi nhuận gộp
về tiêu thụ
- Chi phí bán
hàng
- Chi phí quản lý
doanh nghiệp
Kết quả tiêu thụ đợc thể hiện qua chỉ tiêu lãi (lỗ) về tiêu thụ. Nếu thu nhập lớn
hơn chi phí thì lãi, ngợc lại, nếu thu nhập nhỏ hơn chi phí thì lỗ. Viẹc xác định kết
quả tiêu thụ đợc tiến hành vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm tuỳ thuộc vào đặc
điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng đơn vị.
1.1.3. Y nghĩa, nhiệm vụ kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu
thụ trong các doanh nghiệp kinh doanh thơng mại.
1.1.3.1. Y nghĩa kế toán tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ
Tiêu thụ hàng hoá có vai trò to lớn trong việc cân đối giữa cung và cầu, thông
qua việc tiêu thụ có thể dự đoán đợc nhu cầu của xã hội nói chung và của từng khu
vực nói riêng, là điều kiện để phát triển cân đối trong từng nghành từng vùng và
trên toàn xã hội. Qua tiêu thụ, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá mới đợc thực
hiện. Cùng với việc tiêu thụ hàng hoá, xác định đúng kết quả tiêu thụ là cơ sở đánh
giá cuối cùng của hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định tại Doanh
nghiệp, xác định nghĩa vụ mà Doanh nghiệp phải thực hiện với nhà nớc, lập các
quỹ công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động tốt trong kỳ kinh
doanh tiếp theo, đồng thời nó cũng là số liệu cung cấp thông tin cho các đối tợng
quan tâm nh các nhà đầu t, các ngân hàng, các nhà cho vay Đặc biệt trong điều
kiện hiện nay trớc sự cạnh tranh gay gắt thì việc xác định đúng kết quả tiêu thụ có
ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý, cung cấp thông tin không những cho nhà quản
lý Doanh nghiệp để lựa chọn phơng án kinh doanh có hiệu quả mà còn cung cấp
thông tin cho các cấp chủ quản, cơ quan quản lý tài chính, cơ quan thuế phục vụ
cho việc giám sát sự chấp hành chế độ, chính sách kinh tế tài chính, chính sách
thuế
1.1.3.2 Nhiệm vụ của kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ.
Trong doanh nghiệp thơng mại, hàng hoá là tài sản chủ yếu và biến động nhất,
vốn hàng hoá chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số vốn lu động cũng nh toàn bộ
vốn kinh doanh của Doanh nghiệp cho nên kế toán hàng hoá là khâu quan trọng
đồng thời nghiệp vụ tiêu thụ và xác đinh kết quả tiêu thụ quyết định sự sống còn
đối với mỗi doanh nghiệp. Do tính chất quan trọng của tiêu thụ và xác định kết
6
quả tiêu thụ nh vậy đòi hỏi kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu thụ phải thực
hiện những nhiệm vụ sau:
- Phản ánh và giám đốc tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về tiêu thụ và
xác định kết quả tiêu thụ nh mức bán ra, doanh thu bán hàng quan trọng là lãi
thuần của hoạt động bán hàng.
- Phản ánh đầy đủ, kịp thời chi tiết sự biến động của hàng hoá ở tất cả các trạng
thái: Hàng đi đờng, hàng trong kho, trong quầy, hàng gia công chế biến, hàng gửi
đại lý nhằm đảm bảo an toàn cho hàng hoá.
- Phản ánh chính xác kịp thời doanh thu bán hàng để xác định kết quả, đảm bảo
thu đủ và kịp thời tiền bán hàng để tránh bị chiếm dụng vốn.
- Phản ánh và giám đốc tình hình thực hiện kết quả tiêu thụ, cung cấp số liệu,
lập quyết toán đầy đủ, kịp thời để đánh giá đúng hiệu quả tiêu thụ cũng nh thực
hiện nghĩa vụ với nhà nớc.
- Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên kế toán tiêu thụ và xác định kết quả tiêu
thụ cần chú ý các điểm sau:
+ Xác định đúng thời điểm tiêu thụ để kịp thời lập báo cáo bán hàng và phản
ánh doanh thu. Báo cáo thờng xuyên kịp thời tình hình bán hàng và thanh toán với
khách hàng chi tiết theo từng loại hợp đồng kinh tế nhằm giám sát chặt chẽ
hàng hoá bán ra, đôn đốc việc nộp tiền bán hàng vào quỹ.
+ Tổ chức hệ thống chứng từ ban đầu và trình tự lu chuyển chứng từ hợp lý.
Các chứng từ ban đầu phải đầy đủ, hợp pháp, luân chuyển khoa học, hợp lý, tránh
trùng lặp bỏ sót.
+ Xác định đúng và tập hợp đầy đủ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp phát sinh trong kỳ. Phân bổ chính xác số chi phí đó cho hàng tiêu thụ.
1.1.4 Các phơng thức tiêu thụ hàng hoá.
1.1.4.1 Phơng thức bán buôn:
Bán buôn hàng hoá là bán cho các đơn vị, cá nhân mà số lợng đó cha đi vào
lĩnh vực tiêu dùng, hàng hoá đó vẫn nằm trong lĩnh lu thông. Bán buôn gồm hai
phơng thức sau:
* Bán buôn qua kho
Là bán buôn hàng hoá mà số hàng hoá đó đợc xuất ra từ kho bảo quản của
Doanh nghiệp.
Bán buôn qua kho bằng cách giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này bên mua
cử đại diện đến kho của doanh nghiệp để nhận hàng, Doanh nghiệp xuất kho hàng
hoá, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua. Sau khi bên mua ký nhận đủ hàng,
bên mua đã thanh tóan tiền hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá mới đợc xác
nhận là tiêu thụ.
7
Bán buôn qua kho bằng cách chuyển hàng: Theo hình thức này căn cứ vào hợp
đồng kinh tế đã ký kết với bên mua, Doanh nghiệp xuất hàng giao cho bên mua ở
một địa điểm thoả thuận trớc giữa hai bên. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc sở hữu
của Doanh nghiệp . Số hàng này đợc xác nhận là tiêu thụ khi Doanh nghiệp thơng
mại đã nhận đợc tiền của bên mua hoặc bên mua chấp nhận thanh toán.
* Bán buôn vận chuyển thẳng:
Là kiểu bán buôn mà Doanhnghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng không nhập
về kho mà chuyển thẳng cho khách hàng.
Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán: Theo hình thức này ở
Doanh nghiệp vừa phát sinh nghiệp vụ bán hàng, vừa phát sinh nghiệp vụ mua
hàng. Doanh nghiệp có thể chuyển thẳng hàng đến kho của ngời mua hoặc giao
hàng tay ba tại kho của ngời bán.
Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Theo hình thức này
Doanh nghiệp chỉ đóng vai trò trung gian môi giới trong quan hệ mua bán giữa
ngời mua và ngời bán. Doanh nghiệp uỷ quyền cho ngời mua trực tiếp đến nhận
hàng và thanh toán tiền hàng cho ngời bán theo đúng hợp đồng đã ký kết với bên
bán. Tuỳ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết mà Doanh nghiệp đợc hởng một khoản
tiền lệ phí do bên mua hoặc bên bán trả. Trong trơng hợp trên Doanh nghiệp
không phát sinh nghiệp vụ mua bán mà chỉ là ngời tổ chức cung cấp hàng cho bên
mua.
1.1.4.2Phơng thức bán lẻ:
Là bán hàng hoá trực tiếp cho ngời tiêu dùng để sử dụng vào mục đích tiêu
dùng. Bán lẻ hàng hoá có các phơng thức sau:
* Phơng thức bán hàng thu tiền tập trung
Là phơng thức bán hàng tách rời việc thu tiền và giao hàng cho khách nhằm
chuyên môn hoá quá trình bán hàng. Mỗi quầy có một nhân viên thu ngân, chuyên
thu tiền viết hoá đơn, tính kê mua hàng cho khách hàng để khách đến nhận hàng ở
quầy hàng do nhân viên bán hàng giao. Cuối ca, cuối ngày bán hàng kiểm kê hàng
tồn để xác định số lợng bán ra trong ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu
ngân kiểm tiền, nộp tiền hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền.
* Bán lẻ thu tiền trực tiếp:
Theo phơng thức bán lẻ này, ngời bán trực tiếp bán hàng và thu tiền của khách.
Cuối ca, cuối ngày bán hàng kiểm tra hàng tồn quầy để xác định lợng hàng tiêu
thụ, lập báo cáo bán hàng đồng thời nộp tiền cho thủ quỹ và lập giấy nộp tiền.
1.1.4.3 Giao hàng đại lý
Theo phơng thức này bên giao đại lý giao hàng cho bên nhận hàng đại lý, bên
nhận làm đại lý sẽ đợc hởng thù lao đại lý dới hình thức hoá hồng đợc tính theo tỷ
lệ % trên tổng số doanh thu. Nếu ngời nhận đại lý bán hàng theo giá quy định của
bên giao thì không phải chịu thuế GTGT còn Nếu bán hàng để hởng chênh lệch
8
giá thì phải chịu thuế GTGT trên phần giá trị gia tăng đó và bên giao chỉ chịu gía
trị gia tăng theo phần doanh thu của mình. Giữa hai bên phải thực hiện hợp đồng
kinh tế về giá trị hàng hoá nhận làm đại lý, quy định tỷ lệ hoa hồng đợc hởng, quy
định về thời gian thanh toán
1.1.4.4. Bán hàng trả góp:
Bán hàng trả góp là phơng thức bán hàng thu tiền nhiều lần, ngời mua phải trả
ngay một số tiền lần đầu tiên tại thời điểm mua, số tiền còn nợ chấp nhận trả dần
và phải chịu lãi suất nhất định về số tiền do trả chậm.Số tiền trả vào các kỳ sau th-
ờng là bằng nhau trong đó bao gồm tiền gốc và lãi phải trả. Về doanh thu thì đợc
tính theo doanh thu bán hàng trả ngay một lần, số chênh lệch giữa doanh thu bán
hàng, thuế GTGT phải nộp với số tiền chấp nhận thanh toán thì hạch toán vào thu
nhập hoạt động tài chính.
Với phơng thức này khi giao hàng cho ngời mua thì đợc xác định ngay là tiêu
thụ.
1.1.4.5. Bán hàng xuất khẩu:
*Phơng thức xuất khẩu trực tiếp
Theo phơng thức này, việc bán hàng đợc thực hiện bằng cách giao thẳng cho
khách hàng mà không qua một đơn vị trung gian nào. Doanh nghiệp tự tổ chức vận
chuyển hàng, khi đã xếp lên phơng tiện vận chuyển xuất khẩu đợc chủ phơng tiện
ký vào vận đơn và hoàn thành thủ tục hải quan sân bay, bến cảng, cửa hàng thì đợc
coi là thời điểm tiêu thụ. Thủ tục gồm phiếu xuất kho và báo cáo bán hàng thu
ngoại tệ.
* Phơng thức xuất khẩu uỷ thác
Theo phơng thức này Doanh nghiệp ký hợp đồng vận tải với đơn vị xuất nhập
khẩu chuyên môn. Thời điểm hàng đợc coi là tiêu thụ và đợc tính doanh thu khi
hoàn thành thủ tục cho đơn vị vận tải.
1.2. Kế toán chi tiết Hàng hoá
1.2.1 Chứng từ kế toán sử dụng hạch toán hàng hoá bao gồm:
Hoá đơn giá trị gia tăng.
Hoá đơn bán hàng.
Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho
Bảng kê hoá đơn bán lẻ hàng hoá dịch vụ.
Bảng chứng từ khác liên quan đến nghiệp vụ bán hàng.
Sổ, thẻ kho
1.2.2. Phơng pháp kế toán chi tiết hàng hoá
Có 3 phơng pháp kế toán chi tiết:
9
* Phơng pháp thẻ song song
- ở kho: Sử dụng thẻ kho để theo dõi từng danh điểm hàng hoá về mặt khối lợng
nhập, xuất, tồn.
- ỏ phòng kế toán: Mở thẻ kho hoặc mở sổ chi tiết để theo dõi từng danh điểm
kể cả mặt khối lợng và giá trị nhập, xuất, tồn kho.
Hàng ngày sau khi làm thủ tục nhập, xuất thì thủ kho phải căn cứ vào các phiếu
nhập, xuất để ghi vào thẻ kho của từng danh điểm và tính khối lợng tồn kho của
từng danh điểm.
Hàng ngày hoặc định kỳ thủ kho phải chuyển chứng từ cho kế toán hàng hoá để
ghi vào các thẻ hoặc sổ chi tiết ở phòng kế toán cả về số lợng và giá trị.
Sơ đồ1: Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phơng pháp thẻ song song
: Ghi hàng ngày
: Ghi đối chiếu
: Ghi cuối tháng
* Phơng pháp sổ đối chiếu luân chuyển
- ở kho: thủ kho vẫn giữ thẻ kho để ghi chép tình hình nhập xuất tồn về mặt
khối lợng.
- ở phòng kế toán: Không dùng sổ chi tiết và thẻ kho mà sử dụng sổ đối chiếu
luân chuyển để ghi chép tình hình nhập xuất tồn từng danh điểm nhng chỉ ghi 1
lần cuối tháng.
Sơ đồ 2: Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phơng pháp đối chiếu luân chuyển
10
Phiếu nhập kho, phiếu
xuất kho
Thẻ kho Thẻ kế toán chi
tiết
Số kế toán tổng hợp về
hàng hoá
Bảng tổng hợp
nhập, xuất, tồn
Phiếu nhập
kho
Thẻ kho
Phiếu xuất
kho
Bảng kê nhập vật liệu
Sổ đối chiếu luân
chuyển
Bảng kê xuất vật liệu
Bảng
tổng
hợp
nhập
xuất
tồn
Sổ kế
toán
tổng
hợp
về vật
t,
hàng
hoá
: Ghi hàng ngày
: Ghi đối chiếu
: Ghi cuối tháng
* Phơng pháp sổ số d.
- ở kho: Ngoài việc ghi chép thẻ kho giống nh hai phơng pháp trên, cuối
tháng sau khi tính lợng d của từng danh điểm còn phải ghi vào sổ số d.
- Tại phòng kế toán: không phải giữ thêm một loại sổ nào nữa nhng định kỳ
phải xuống kiểm tra ghi chép của thủ kho và sau đó nhận các chứng từ
nhập xuất kho. Khi nhận chứng từ phải viết giấy nhận chứng từ
Sơ đò 3: Sơ đồ hạch toán chi tiết theo phơng pháp sổ số d
:
ghi hàng ngày
: Ghi đối chiếu
: Ghi cuối tháng
1.3. Kế toán tổng hợp tiêu thụ hàng hoá và xác định kết quả tiêu thụ
1.3.1. Tài khoản sử dụng.
* Tài khoản 156- Hàng hoá : Dùng để phản ánh thực tế giá trị hàng hoá tại
kho, tại quầy, chi tiết theo từng kho, từng quầy, loại, nhóm hàng hoá.
Bên nợ: Phản ánh làm tăng giá trị thực tế hàng hoá tại kho, quầy ( giá mua và
chi phí thu mua)
11
Phiếu
nhập kho
Thẻ kho
Phiếu
xuất kho
Sổ số d
Phiếu giao nhận
ctừ nhập kho
Bảng luỹ kế
nhập,xuất, tồn
Phiếu giao nhận
Ctừ xuất kho
Sổ
kế
toán
tổng
hợp
Bên có: Giá trị mua hàng của hàng hoá xuất kho, quầy.
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ.
D nợ: Trị giá thực tế hàng hoá tồn kho, tồn quầy.
TK 156 còn đợc chi tiết thành:
+ TK 1561- Giá mua hàng.
+ TK 1562 Chi phí thu mua hàng hoá.
* TK 157- Hàng gửi bán : Phản ánh giá trị mua hàng của hàng gửi bán, ký
gửi, đại lý cha chấp nhận. Tài khoản này đợc mở rộng chi tiết theo từng mặt hàng,
từng lần gửi đi, từ khi gửi đi đến khi đựoc chấp nhận thanh toán.
* TK 151- Hàng mua đang đi đ ờng : Dùng để phản ánh trị giá hàng mua
đang đi đờng và đợc mở chi tiết theo từng chủng loại hàng và từng hợp đồng kinh
tế.
* TK 511- Doanh thu bán hàng có kết cấu nh sau:
Chỉ phản ánh vào TK 511- Doanh thu, số doanh thu của khối lợng sản phẩm
đã bán, dịch vụ đã đợc cung cấp đợc xác định là tiêu thụ trong kỳ và số tiền lãi,
tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đợc chia.
Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ: Doanh thu bán
hàng là toàn bộ tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ ( cha có thuế VAT) bao gồm
phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán( nếu có) mà cơ sở kinh doanh đợc hởng.
Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp và đối với hàng
hoá, dịch vụ không thuộc đối tợng chịu thuế GTGT thì doanh thu bán hàng là toàn
bộ số tiền bán hàng, tiền cung ứng dịch vụ bao gồm cả phụ phí và phí thu thêm
ngoài giá bán ( nếu có) mà doanh nghiệp đợc hởng ( tổng giá thanh toán- bao gồm
cả thuế GTGT) .
Doanh nghiệp phải mở chi tiết để theo dõi chi tiết các khoản doanh thu
- Doanh thu bán hàng hoá
- Doanh thu cung cấp dịch vụ
- Doanh thu tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đợc chia.
Bên nợ:
- Số thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu phải nộp tính trên doanh thu hàng
hoá thực tế của sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã cung cấp cho khách hàng
và đã đợc xác nhận là tiêu thụ.
- Thuế GTGT phải nộp ngân sách nhà nớc ở doanh nghiệp áp dụng phơng pháp
trực tiếp.
- Trị giá hàng bán trả lại
- Khoản giảm gía hàng bán
12
- Chiết khấu thơng mại
- Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911- Xác định kết quả kinh doanh
Bên có:
- Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp
thực hiện trong kỳ kế toán.
- Tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận đợc chia trong kỳ kế toán.
- Tiền lãi do bán ngoại tệ và lãi về chênh lệch tỷ giá.
* TK 521- Các khoản giảm trừ doanh thu
Tài khoản này dùng để phản ánh toán bộ số tiền giảm trừ cho ngời mua hàng đ-
ợc tính giảm trừ vào doanh thu hoạt động kinh doanh.
Kết cấu:
Bên nợ:
- Trị giá của hàng bán bị trả lại, đã trả lại tiền cho ngời mua hoặc tính trừ vào
nợ phải thu của khách hàng về số sản phẩm hàng hoá đã bán ra.
- Các khoản giảm giá đã chấp nhận cho ngời mua.
- Các khoản chiết khấu thơng mại.
Bên có:
Kết chuyển toàn bộ các khoản giảm trừ doanh thu sang tài khoản doanh thu.
Tài khoản 521 không có số d cuối kỳ.
Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp hai:
- TK 5211- Chiết khấu thơng mại:Phản ánh số giảm giá cho ngời mua hàng
với khối lợng hàng lớn đợc ghi trên hoá đơn bán hàng hoặc các chứng từ liên quan
đến bán hàng.
- TK 5212- Hàng bán bị trả lại : Phản ánh trị giá bán của số sản phẩm hàng
hoá đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại
- TK 5213-Giảm giá hàng bán : Phản ánh các khoản giảm giá hàng bán so
với giá bán ghi trong hoá đơn GTGT hoặc hoá đơn bán hàng phát sinh trong kỳ.
* TK 3331 Thuế GTGT phải nộp có kết cấu nh sau:
Bên nợ:
- Số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ
- Số thuế giá trị gia tăng đợc giảm trừ vào số thuế giá trị gia tăng phải nộp.
- Số thuế giá trị gia tăng đã nộp vào ngân sách nhà nớc.
- Số thuế giá trị gia tăng của khách hàng bán bị trả lại.
Bên có:
13
- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp cho sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ đã
tiêu thụ trong kỳ ( Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu
trừ).
- Số thuế GTGT phải nộp ( đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế GTGT theo ph-
ơng pháp trực tiếp).
- Số thuế phải nộp của hàng hoá, dịch vụ dùng để trao đổi biếu tặng, sử dụng
nội bộ.
- Số thuế GTGT phải nộp cho thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập hoạt động
bất thờng.
- Số thuế GTGT phải nộp của hàng hoá nhập khẩu.
Số d bên có: Số thuế GTGT phải nộp cuối kỳ.
Số d bên nợ: Số thuế GTGT phải nộp thừa vào ngân sách nhà nớc.
TK 3331 có tài khoản cấp 3:
+ TK 33311- Thuế GTGT đầu ra
+ TK 33312- Thuế GTGT hàng nhập khẩu.
* TK 632 Giá vốn hàng bán
Tài khoản này dùng để phản ánh giá vốn của hàng hoá đã bán, đợc xác định là
tiêu thụ trong kỳ, dùng để phản ánh khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Kết cấu tài khoản 632
Bên nợ:
- Giá vốn hàng hoá tiêu thụ trong kỳ
- Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho trích lập cuối niên độ kế toán
Bên có:
- Kết chuyển giá vốn hàng hoá,lao vụ, dịch vụ đã cung cấp trong kỳ sang TK
911- xác định kết quả kinh doanh.
- Khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho hoàn nhập cuối niên độ kế toán
TK 632 không có số d cuối kỳ.
* TK 642- Chi phí quản lý kinh doanh
Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí quản lý kinh doanh bao gồm chi
phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
Chi phí bán hàng là chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hoá
bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu sản phẩm, chi phí hội nghị khách hàng,
quảng cáo sản phẩm, hoa hồng bán hàng, chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí bảo
quản, đóng gói, vận chuyển.
14

Biên soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học về phương pháp tọa độ trong không gian – lớp 12 thpt.pdf


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TNKQ : Trắc nghiệm khách quan
vtcp : Vectơ chỉ phƣơng
vtpt : Vectơ pháp tuyến























Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đất nƣớc đang đòi hỏi phải có những đổi mới,
nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo. Mục tiêu giáo dục của nƣớc ta đã
đƣợc đặt ra trong luật Giáo dục năm 2005: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con
ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (chƣơng 1, điều 2).
Để đạt mục tiêu giáo dục nhƣ trên, cùng với những thay đổi về nội dung, cần
có những đổi mới căn bản về phƣơng pháp giáo dục: “Phƣơng pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tƣ duy sáng tạo của ngƣời học;
bồi dƣỡng cho ngƣời học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê
học tập và ý chí vƣơn lên” (chƣơng 1, điều 5).
Về chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001 – 2010, ban hành kèm theo Quyết
định số 201/2001/QĐ- TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tƣớng Chính phủ,
ở mục 5.2 ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hóa phƣơng pháp giáo dục. Chuyển từ việc
truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hƣớng dẫn ngƣời học chủ động
tƣ duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho ngƣời học phƣơng pháp tự học, tự
thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tƣ duy phân tích, tổng hợp; phát triển
năng lực của mỗi cá nhân; tăng cƣờng tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh
viên trong quá trình học tập, ”
Theo chủ trƣơng đổi mới giáo dục thì cần đổi mới cả về chƣơng trình, nội
dung, sách giáo khoa, phƣơng pháp dạy học đồng thời đổi mới cả về kiểm tra,
đánh giá. Trong đó phƣơng hƣớng đổi mới kiểm tra đánh giá đó là kết hợp
phƣơng thức kiểm tra truyền thống tự luận với kiểm tra đánh giá bằng trắc
nghiệm. Kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm có nhiều ƣu điểm, tuy có một số

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4
sách tham khảo trên thị trƣờng nhƣng trong quá trình dạy học thì cần phải phù
hợp với đối tƣợng thực tế mà mình đang dạy học nên phải có sự biên soạn
theo cách nghĩ riêng của mỗi ngƣời và cũng để triển khai từng bƣớc cho toàn
bộ nội dung chƣơng trình môn Toán toàn bậc trung học phổ thông. Sự nghiên
cứu cũng nhằm rút ra những kinh nghiệm về biên soạn câu hỏi trắc nghiệm
trong quá trình dạy học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Biên soạn đƣợc một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm về “Phƣơng pháp tọa
độ trong không gian” nhằm hỗ trợ trong quá trình dạy học và kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm,
nghiên cứu chƣơng trình nội dung phƣơng pháp tọa độ trong không gian.
- Định hƣớng cách thức biên soạn câu hỏi trắc nghiệm.
- Biên soạn đƣợc một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm về phƣơng pháp tọa
độ trong không gian.
- Chọn một phần mềm kiểm tra trắc nghiệm để sử dụng cho hệ thống câu
hỏi đã biên soạn.
- Thử nghiệm sƣ phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của đề tài.
3. Giả thuyết khoa học
Có thể biên soạn đƣợc một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm về “Phƣơng pháp
tọa độ trong không gian” bám sát lí luận về TNKQ và nếu vận dụng tốt hệ
thống đó một cách thích hợp thì góp phần đổi mới phƣơng pháp dạy và học
một cách có hiệu quả.
Để kiểm nghiệm cho sự đúng đắn của giả thuyết khoa học trên thì đề tài
cần trả lời đƣợc các câu hỏi khoa học sau đây:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
- Có thể xây dựng đƣợc hệ thống câu hỏi trắc nghiệm về phƣơng pháp tọa
độ trong không gian bám sát lí luận về kiểm tra đánh giá đƣợc hay không?
- Hệ thống câu hỏi có bảo đảm tính khoa học và phù hợp với lí luận hay
không?
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận:
Nghiên cứu lí luận về kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách
quan, thông qua các kết quả nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài.
Nghiên cứu chƣơng trình nội dung sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo
viên, tài liệu tham khảo về phƣơng pháp tọa độ trong không gian.
- Thử nghiệm sƣ phạm:
Sử dụng một phần hệ thống câu hỏi đã biên soạn đƣợc trong dạy học một
số tiết, trong kiểm tra một chƣơng thuộc nội dung phƣơng pháp tọa độ trong
không gian tại một lớp thực nghiệm (có một lớp đối chứng) ở trƣờng trung
học phổ thông. Đánh giá thực nghiệm thông qua phiếu đánh giá của giáo viên,
kết quả quan sát trên lớp thực nghiệm và qua bài kiểm tra.
5. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
- Chƣơng I: Cơ sở lí luận
- Chƣơng II: Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm về “Phƣơng pháp tọa độ
trong không gian”
- Chƣơng III: Thử nghiệm sƣ phạm






Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
6
Chƣơng I
CƠ SỞ LÍ LUẬN

Quan niệm về kiểm tra đánh giá
Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu để xác định năng lực nhận thức
ngƣời học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới phƣơng
pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lƣợng đào tạo con ngƣời
theo mục tiêu giáo dục.
Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lí thông tin
về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập, về tác động và nguyên nhân
của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sƣ phạm của giáo viên và
nhà trƣờng, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn.
Kiểm tra là công cụ, phƣơng tiện và hình thức chủ yếu, quan trọng của đánh giá.
Chức năng của kiểm tra, đánh giá trong dạy học là:
- Nhận định chính xác một mặt nào đó (chức năng kiểm tra đánh giá)
- Làm sáng tỏ thực trạng, định hƣớng điều chỉnh hoạt động dạy và học
(chức năng sƣ phạm).
- Công khai hóa kết quả, thông báo cho các cấp quản lí, cho gia đình
(chức năng xã hội).
Nội dung kiểm tra đánh giá phải toàn diện, bao gồm cả kiến thức, kĩ năng và
phƣơng pháp, không phải chỉ yêu cầu tái hiện kiến thức và kĩ năng. Cần có biện
pháp hƣớng dẫn học sinh tự biết cách đánh giá, có thói quen đánh giá lẫn nhau.
Bên cạnh việc nâng cao chất lƣợng các hình thức kiểm tra truyền thống, giáo viên
cần tìm hiểu, áp dụng các phƣơng pháp kiểm tra bằng câu hỏi TNKQ.
Trong dạy học, việc đánh giá học sinh nhằm mục đích nhận định thực
trạng dạy và học để điều chỉnh hoạt động học của trò và điều chỉnh hoạt động
dạy của thầy.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
Trong việc rèn luyện phƣơng pháp tự học (để chuẩn bị cho học sinh khả
năng học tập liên tục suốt đời, đƣợc xem nhƣ một mục tiêu giáo dục) có một
nội dung quan trọng là hƣớng dẫn học sinh tự đánh giá để tự điều chỉnh cách
học. Đặc biệt trong phƣơng pháp dạy học hợp tác, giáo viên cần tạo điều kiện
để học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau.
Về nội dung đánh giá, không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức,
lặp lại các kĩ năng đã học mà phải đánh giá cả cách học, phƣơng pháp tự học, khả
năng phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong các tình huống thực tế; mức độ
thông minh, sáng tạo; chuyển biến thái độ và xu hƣớng hành vi của học sinh.
Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật đang ngày càng phổ biến trong nhà
trƣờng, giáo viên và học sinh có điều kiện áp dụng các phƣơng pháp kĩ thuật
đành giá mới nhẹ nhàng hơn, kịp thời hơn, hiệu quả hơn. Việc thay đổi khâu
đánh giá sẽ có tác động thúc đẩy sự đổi mới phƣơng pháp dạy học. Công cụ
phƣơng tiện chủ yếu của đánh giá là kiểm tra với hình thức thông dụng là
kiểm tra bằng câu hỏi trắc nghiệm: trắc nghiệm tự luận và TNKQ.
Kiểm tra đánh giá bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Lịch sử hình thành và phát triển phương pháp trắc nghiệm
Theo [27], từ xa xƣa, vào thế kỉ thứ hai trƣớc Công nguyên, ngƣời
Trung Hoa đã dùng trắc nghiệm (đo lƣờng trí tuệ) để tuyển ngƣời tài
làm kẻ hầu.
- Nhà tâm lí học ngƣời Anh là Francis Golton (1822-1911) đã dùng
trắc nghiệm tâm lí đo năng lực trí tuệ con ngƣời.
- Nhà tâm lí học ngƣời Mĩ J. MC.Catlen (1860-1944) cho ra đời
cuốn sách “Các trắc nghiệm về đo lƣờng trí tuệ” xuất bản năm
1890 tại NewYork.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8
- Năm 1905 nhà tâm lí học ngƣời Pháp Alfred Binet và bác sĩ tâm
thần T. Simon làm trắc nghiệm nghiên cứu năng lực trí tuệ của trẻ
em ở các lứa tuổi khác nhau.
- Năm 1910, G.Mimister beg xây dựng trắc nghiệm tuyển chọn nghề.
- Năm 1912, nhà tâm lí học Đức V. Steru đƣa ra hệ số thông minh
IQ (intelligene Quotient) thông qua trắc nghiệm.
Khái niệm về trắc nghiệm
Theo [16, tr.322], trắc nghiệm mà đối tƣợng là con ngƣời có thể hiểu
theo định nghĩa sau: “Trắc nghiệm là một phƣơng pháp khoa học cho phép
dùng một loạt những động tác xác định để nghiên cứu một hay nhiều đặc
điểm nhân cách phân biệt đƣợc bằng thực nghiệm với mục tiêu đi đến những
mệnh đề lƣợng hóa tối đa có thể đƣợc về mức độ biểu hiện tƣơng đối của
đặc điểm cần nghiên cứu”. Vậy có thể hiểu về trắc nghiệm nhƣ sau:
- Trắc nghiệm là một phương pháp khoa học, trắc nghiệm đƣợc phát triển
dựa trên những quy tắc có căn cứ khoa học, chẳng hạn: thử nghiệm trắc
nghiệm, phân tích, đánh giá độ tin cậy, xác định tính hiệu quả…
- Dựa trên một loạt những động tác xác định, dễ thao tác, dễ tiến hành.
- Trắc nghiệm có thể đƣợc sử dụng để nghiên cứu, xác định một hay nhiều đặc
điểm. Trƣờng hợp nghiên cứu nhiều đặc điểm, ngƣời ta nói là bộ trắc nghiệm.
- Đối tƣợng nghiên cứu của trắc nghiệm là những đặc điểm nhân cách
phân biệt đƣợc bằng thực nghiệm. Những đặc điểm này đƣợc hiểu rất rộng,
thƣờng là kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo, năng lực,…
- Mục tiêu là đi tới những mệnh đề lượng hóa tối đa có thể được, kết quả
cần đƣợc biểu thị bằng số.
Để phản ánh mức độ biểu hiện tương đối của đặc điểm cần nghiên cứu,
sự lƣợng hóa phải liên hệ với một giá trị chuẩn nào đó, chẳng hạn với giá trị
trung bình của số bài làm đúng của lớp, với tổng số điểm. Chú ý rằng một

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
giá trị thô, chẳng hạn số bài tập mà mỗi ngƣời giải đúng ít nói lên điều gì có
ý nghĩa về mức độ biểu hiện của một đặc điểm.
Trắc nghiệm khách quan là phƣơng pháp kiểm tra, trong đó đề kiểm tra,
thƣờng gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông
tin cần thiết, sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt đối với từng câu.
Phƣơng pháp trắc nghiệm thƣờng đƣợc dùng trong các trƣờng hợp sau:
- Số thí sinh dự kiểm tra rất đông.
- Muốn chấm bài nhanh.
- Muốn có kết quả tin cậy, không phụ thuộc vào ngƣời chấm bài.
- Muốn đảm bảo thực sự công bằng, khách quan, chính xác và muốn
ngăn chặn tiêu cực trong kiểm tra, đánh giá, thi.
- Muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, ngăn ngừa nạn học tủ,
học lệch, học đối phó, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi.
So sánh các phương pháp tự luận và trắc nghiệm
Tự luận cho phép có một sự tự do tƣơng đối nào đó để trả lời một câu hỏi
đƣợc đặt ra, nhƣng đồng thời lại đòi hỏi học sinh phải nhớ lại, hiểu đƣợc hơn là
nhận biết thông tin, phải biết sắp xếp và diễn đạt ý kiến của họ một cách chính
xác và sáng sủa. Bài trắc nghiệm tự luận thƣờng đƣợc chấm điểm một cách chủ
quan và các điểm cho bởi những ngƣời chấm khác nhau có thể không thống
nhất. Thông thƣờng một bài trắc nghiệm tự luận gồm ít câu hỏi hơn là một bài
trắc nghiệm khách quan do phải cần nhiều thời gian để trả lời mỗi câu hỏi.
Trắc nghiệm thƣờng có nhiều phƣơng án trả lời đƣợc cung cấp cho mỗi
câu hỏi của bài trắc nghiệm nhƣng chỉ có một phƣơng án duy nhất là đúng
hoặc đúng nhất, phù hợp nhất. Bài trắc nghiệm đƣợc chấm điểm bằng cách
đếm số lần mà ngƣời làm trắc nghiệm đã chọn đƣợc phƣơng án trả lời đúng
trong số những phƣơng án trả lời đã đƣợc cung cấp. Bài trắc nghiệm đƣợc
gọi là khách quan vì việc cho điểm là khách quan chứ không chủ quan nhƣ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
10
đối với bài trắc nghiệm tự luận. Có thể nói là kết quả chấm điểm trắc nghiệm
sẽ nhƣ nhau, không phụ thuộc vào ai chấm bài trắc nghiệm đó. Thông
thƣờng bài trắc nghiệm gồm có nhiều câu hỏi hơn bài tự luận và mỗi câu hỏi
thƣờng có thể đƣợc trả lời bằng nhiều cách đánh dấu đơn giản.
Một câu hỏi đặt ra là: Trong hai hình thức tự luận và trắc nghiệm, hình thức
nào tốt hơn? Trƣớc hết có thể khẳng định đƣợc ngay rằng dù hình thức, phƣơng
pháp kiểm tra, đánh giá tối ƣu đến đâu cũng không thể có hình thức, phƣơng
pháp nào hoàn toàn tuyệt đối; mỗi hình thức, phƣơng pháp có các ƣu điểm và
nhƣợc điểm nhất định. Thông thƣờng điểm mạnh của phƣơng pháp này lại là
điểm yếu của phƣơng pháp kia, do vậy cần kết hợp các phƣơng pháp trong quá
trình đánh giá một cách hợp lí, hiệu quả. Theo [25,tr.184], bảng 1.1 so sánh dƣới
đây cho thấy tùy theo từng vấn đề, ƣu điểm thuộc về phƣơng pháp nào:
BẢNG 1.1
Vấn đề
Ƣu điểm của phƣơng pháp
Trắc nghiệm Tự luận
Tốn ít công ra đề thi x
Đánh giá đƣợc khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn đạt
tƣ duy hình tƣợng

x
Đề thi phủ kín nội dung môn học x
Ít may rủi do trúng tủ, trật tủ x
Tốn ít công chấm thi x
Khách quan trong chấm thi x
Áp dụng đƣợc công nghệ mới trong việc nâng cao
chất lƣợng kì thi, giữ bí mật đề thi, hạn chế quay cóp
khi thi, hạn chề tiêu cực trong chấm thi và giúp phân
tích kết quả thi
x



Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Trƣớc hết một đề thi trắc nghiệm bao gồm rất nhiều câu hỏi, mà việc tạo
nên mỗi câu hỏi đỏi hỏi rất nhiều công sức và sự khéo léo, do đó để hình
thành một đề thi trắc nghiệm cần nhiều thời gian hơn so với một đề thi tự
luận chỉ với một vài câu hỏi (đề ngữ văn có thể chỉ là một câu hỏi). Đề thi
trắc nghiệm khó đánh giá khả năng diễn đạt của học sinh nhƣ đề thi tự luận
vì để làm đề thi trắc nghiệm học sinh có thể chỉ cần đánh dấu khi lựa chọn
phƣơng án trả lời hoặc chỉ điền một vài từ cần thiết. Đề thi trắc nghiệm cũng
khó đánh giá đƣợc tƣ duy trừu tƣợng của học sinh nhƣ qua các lập luận có lí
ở bài thi tự luận.
Trắc nghiệm cho phép soạn thảo các đề thi bao gồm năm bảy chục, thậm
chí hàng trăm câu hỏi , mỗi câu hỏi có thể trả lời trong thời gian một vài
phút và trong vòng một tiếng đồng hồ học sinh có thể trả lời xong một đề thi
khá dài. Một đề thi nhƣ vậy có khả năng phủ kín tất cả nội dung của một
môn học hoặc một chƣơng trình học. Ngƣợc lại một đề thi tự luận trong một
vài tiếng đồng hồ chỉ có thể liên quan đến một vài chủ đề của môn học hoặc
chƣơng trình học.Với đề thi trắc nghiệm, học sinh khó có thể học tủ, học
lệch nhƣ thi bằng đề tự luận.
Một sự khác nhau khá cơ bản giữa hình thức tự luận và trắc nghiệm là ở
tính khách quan. Đối với hình thức tự luận, kết quả chấm thi phụ thuộc
nhiều vào chủ quan của ngƣời chấm do đó rất khó công bằng, chính xác. Để
hạn chế mức độ chủ quan đó, ngƣời ta cải tiến việc chấm bài tự luận bằng
cách đặt ra các đáp án có thang điểm rất chi tiết, chấm hai vòng độc lập,
chấm thanh tra. Tuy nhiên nhiều thử nghiệm cho thấy độ lệch của việc chấm
bài tự luận thƣờng khá lớn, đặc biệt là với các môn khoa học xã hội.
Với loại đề trắc nghiệm, khi đã có sẵn đáp án, việc chấm bài là hoàn toàn
khách quan, chính xác, không phụ thuộc vào ngƣời chấm, nhất là khi bài
đƣợc chấm bằng máy (không cần phải chấm hai vòng độc lập). Đây là một

Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong dán nhãn tiết kiệm năng lượng

Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


5
V.3. Các thiết bị đo thông số điện 40
V.4. Các dụng cụ đo khác 41
V.5. Phần mềm và chu trình điều khiển 41
Chơng VI: Các thông số vật lý thử nghiệm 42
VI.1. Thông số vật lý thử nghiệm và vị trí đo đánh giá năng suất lạnh tổng 42
VI.2. Tính toán năng suất lạnh để đánh giá hiệu suất năng lợng 43
VI.3. Thiết lập quy trình công nghệ thử nghiệm 46
VI.4. Tính toán cụ thể năng suất làm lạnh cho thiết bị điều hoà không khí và tủ
lạnh 47
VI.5. Công suất hiệu dụng đầu vào (PE) 49
VI.6. Xác định hiệu suất năng lợng tối thiểu EER 50
Chơng VII: ảnh hởng của một số điều kiện thử nghiệm tự
tạo và các quy định về tự kiểm tra khi làm thử nghiệm 52
VII.1. ảnh hởng của một số điều kiện thử tự tạo 52
VII.2. Các quy định về tự kiểm tra khi làm thử nghiệm 55
Kết luận và kiến nghị 59
phụ lục
58


Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


6
tóm tắt đề tài
Nhóm nghiên cứu đã có cuộc khảo sát tình hình thực tế về sản xuất và tiêu
thụ thiết bị điều hoà không khí và tủ lạnh tại Việt Nam, khảo sát phòng thử
nghiệm hiệu suất năng lợng tại một số nớc trong khu vực kết quả thu đợc nh
sau:
Tại Việt Nam
1. Công ty Sanyo HA Asean
2. Công ty TOSHIBA Việt Nam
3. Công ty TNHH Điện Máy REE
4. Công ty TNHH Điện tử Điện lạnh Darling
5. Chi nhánh công ty TNHH LG Electronic Việt Nam
Các số liệu thực tế thu đợc qua đợt khảo sát (phần phụ lục) có thể nhận
thấy rằng nhu cầu tiêu thụ điều hoà và tủ lạnh hàng năm tại Việt Nam là rất lớn,
chỉ tính 5 công ty đợc khảo sát, sản phẩm xuất xởng tại 5 công trên cũng đã đạt
khoảng 1 triệu bộ/năm.
Việc kiểm tra các thông số kỹ thuật của thiết bị tại các công ty sản xuất
tơng đối đơn giản, chủ yếu dựa trên tiêu chí an toàn của sản phẩm, cha có một
công ty nào thiết lập chơng trình kiểm tra về năng suất lạnh và đánh giá hiệu
suất năng lợng.
Do vậy mà tính đến thời điểm hiện nay cha có một đơn vị nào trong nớc
xây dựng phòng thử nghiệm xác định chỉ tiêu hiệu suất tiêu thụ năng lợng của
các sản phẩm điện lạnh.
* Qua cuộc khảo sát tại Singapore và Thái Lan nh sau:
* Tại Singapore, nhóm nghiên cứu đã đợc Văn phòng môi trờng quốc
gia Singapore (Singapore National Enviroment Agency) giới thiệu hiện có các
phòng thử nghiệm đặt tại các hãng sản xuất mà không đợc tham quan trực tiếp
phòng thử nghiệm.
* Tại Thái Lan: Nhóm nghiên cứu đã đợc Viện Bảo tồn Năng lợng
quốc tế tại Tại Thái Lan (International Institute for Eenergy Conservation IIEC)
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


7
giới thiệu thăm quan công ty Mitshubishi Thái Lan, thăm quan phòng thử
nghiệm, thăm quan trờng ĐH Chulalompo Thái Lan và thăm phòng thử nghiệm
điều hoà qua việc quan sát từ bên ngoài.
Kết quả thu đợc qua chuyến khảo sát phòng thử nghiệm chỉ dựa vào quá
trình quan sát và thu thập các số liệu.
o Kết quả khảo sát thị trờng Singapore và Thái Lan thì việc dán nhãn
tiết kiệm năng lợng cho điều hoà và tủ lạnh đã đợc tiến hành rất sớm và đồng
bộ, cụ thể tại Thái Lan 2 thiết bị trên đã đợc đánh giá và phân loại thành 5 cấp
độ và biểu thị bằng chữ số, số 5 là mức năng lợng tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Trong chơng trình mục tiêu quốc gia về Tiết kiệm năng lợng và hiệu quả
nhiệm vụ của Bộ Công Thơng giai đoạn từ năm 2006 đến 2010 sẽ tiến hành dán
nhãn tiết kiệm năng lợng cho 5 loại sản phẩm lựa chọn gồm động cơ điện, quạt
điện, máy điều hoà nhiệt độ, tủ lạnh, bóng đèn huỳnh quang.
Phải thừa nhận là cho đến nay tại Việt Nam cha có một phòng thử nghiệm
xác định chỉ tiêu hiệu suất tiêu thụ năng lợng của các sản phẩm điện lạnh.
Việc thử nghiệm các sản phẩm điện lạnh phải xây dựng phòng thử chuẩn với
chi phí ban đầu tơng đối lớn và quy trình thử nghiệm kéo dài, ví dụ một quy
trình thử nghiệm đối với điều hoà là 7 giờ và đối với tủ lạnh là khoảng 32 giờ. Vì
vậy mà tính đến thời điểm hiện nay các nhà sản xuất trong nớc cha có một đơn
vị nào công bố chỉ tiêu mức hiệu suất năng lợng tối thiểu đối với hai thiết bị trên.
Do đó nhiệm vụ của đề tài Nghiên cứu Khảo sát điều kiện kỹ thuật thử
nghiệm trong dán nhãn tiết kiệm năng lợng thực chất là khảo sát tình hình trong
nớc, khảo sát các phòng thử nghiệm của các nớc trong khu vực để lập hoàn
chỉnh Báo cáo đầu t xây dựng Phòng thử nghiệm hiệu suất năng lợng cho
thiết bị điều hoà không khí và tủ lạnh và xây dựng thành công phòng thử nghiệm
hiệu suất năng lợng đặt dới sự quản lý của Bộ Công Thơng.
Qua các kết quả nghiên cứu nhóm nghiên cứu đã lập báo cáo đề tài với các
nội dung nh sau:
1./ Lựa chọn phơng pháp thử nghiệm để nghiên cứu
2./ Khảo sát các điều kiện vi khí hậu
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


8
3./ Khảo sát hệ thống điều khiển vi khí hậu phòng thử
4./ Lựa chọn sơ bộ thiết bị thử nghiệm và quy định cấp chính xác
5./ Thiết lập các thông số vật lý thử nghiệm
6./ Xây dựng quy trình tính toán năng suất lạnh của thiết bị
7./ Xác định mức hiệu suất năng lợng tối thiểu
9./ Khảo sát ảnh hởng của một số điều kiện thử tự tạo và các quy định tự
kiểm tra khi làm thử nghiệm
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


9
Bảng chú giải các chữ viết tắt, ký hiệu, đơn vị đo, từ ngắn và thuật ngữ

UUT: (Under unit test) Thiết bị trong điều kiện thử nghiệm
Inlet: Loại thiết bị dùng để đặt bên trong
Outlet: Loại thiết bị dùng để đặt bên ngoài
Cooling Effect Test: Thử nghiệm hiệu quả làm lạnh
Heating Effect Test: Thử nghiệm hiệu quả nung nóng
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


10
đặt vấn đề

Những năm gần đây nền kinh tế nớc ta đã tăng trởng nhanh chóng, từ
năm 2000 đến 2006 nền kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trởng GDP là 6.8%
vào năm 2000 và lên tới 8.4% vào năm 2006. Cùng với tốc độ tăng trởng này
nhu cầu về tiêu thụ điện cũng tăng lên đến 15% vào năm 2006, cao gấp gần 2 lần
so với tốc độ phát triển kinh tế, trong khi đó nguồn năng lợng tự nhiên ngày
càng cạn kiệt bởi vậy yêu cầu sử dụng năng lợng tiết kiệm và hiệu quả đang trở
nên hết sức cấp thiết.
ở một số nớc phát triển các hoạt động về sử dụng tiết kiệm năng lợng đã
đợc triển khai từ những năm 90; nhờ vào hiệu quả của các hoạt động này đem lại
mà ngày nay đã đợc rất nhiều nớc trên thế giới áp dụng.
Hiện nay, cùng với sự thúc đẩy nghiên cứu phát triển và ứng dụng những
nguồn năng lợng mới, Chính phủ đặc biệt quan tâm đến vấn đề sử dụng năng
lợng tiết kiệm và hiệu quả.
Bên cạnh việc xây dựng cơ sở pháp lý cho các hoạt động tiết kiệm năng
lợng thì việc đa ra các tiêu chuẩn và nhãn mác gắn trên các thiết bị tiêu thụ
năng lợng là biện pháp hữu hiệu để tăng số lợng sử dụng các thiết bị hiệu suất
năng lợng cao tại Việt Nam.
Với mong muốn đợc đóng góp cho sự thành công của chơng trình Mục
tiêu Quốc gia về sử dụng năng lợng tiết kiệm hiệu quả Viện Cơ khí năng lợng
và Mỏ TKV đề xuất đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm
trong dán nhãn tiết kiệm năng lợng. Cụ thể là Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ
thuật để thử nghiệm hiệu suất năng lợng của thiết bị điều hoà không khí trên cơ
sở kết quả thử nghiệm sẽ tiến hành đánh giá để dán nhãn tiết kiệm năng lợng.
Mục tiêu của đề tài tập trung khảo sát các điều kiện tác động đến cấp chính
xác của phép thử để đánh giá hiệu suất năng l
ợng của thiết bị nh sau:
ắ Các điều kiện vi khí hậu
ắ Điều kiện chuẩn các thông số vật lý
ắ Cấp chính xác của thiết bị đo
ắ Các quy định chuẩn của phép đo
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


11
ắ Các quy định về tự kiểm tra khi làm thí nghiệm
Báo cáo đề tài nghiên cứu đợc lập trên cơ sở các số liệu khảo sát thực tế
tình hình sản xuất và tiêu thụ điều hoà không khí và tủ lạnh tại Việt Nam, và một
số phòng thử nghiệm tại Thái Lan và Singapore.







Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


12
Phần I: Tổng quan
Tổng quan về tiết kiệm năng lợng và lợi ích của
việc tiết kiệm năng lợng
.1.
Khái quát về tiêu chuẩn nhn tiết kiệm năng lợng

Nhãn tiết kiệm năng lợng là nhãn đợc dán cho các sản phẩm hàng hoá
lu thông trên thị trờng khi những sản phẩm này có mức sử dụng năng lợng tiết
kiệm đạt hoặc vợt tiêu chuẩn theo quy định cụ thể của Ngành, của Quốc gia quy
định theo từng thời kỳ và từng loại sản phẩm.
Nhãn tiết kiệm năng lợng là nhãn xác định sản phẩm tiết kiệm năng
lợng đợc dán cho các sản phẩm hàng hoá lu thông trên thị trờng nhằm cung
cấp cho ngời tiêu dùng biết các thông tin để so sánh mức năng lợng tiêu thụ của
sản phẩm đợc dán so với các sản phẩm cùng loại trên thị trờng.
Bên cạnh các thông tin về tiết kiệm năng lợng, nhiều nớc đã mở rộng
phạm vi sử dụng các thông tin khác trên nhãn mác nh là các thông số về chất
lợng, các tiêu chuẩn nào đã áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lợng.
Tiêu chuẩn là tài liệu đợc thiết lập bằng cách thoả thuận và do một cơ
quan đợc thừa nhận phê duyệt nhằm cung cấp những quy tắc, hớng dẫn hoặc
đặc tính cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động để dùng chung và lặp đi lặp lại
nhằm đạt đợc mức độ trật tự tối u trong một khung cảnh nhất định
Vì vậy tiêu chuẩn và nhãn mác là biện pháp rất hiệu quả để nâng cao mức
độ tiết kiệm của các thiết bị sử dụng năng lợng, thúc đẩy sự thâm nhập của các
công nghệ tiết kiệm năng lợng vào thị trờng.
Phát triển các tiêu chuẩn và dán nhãn chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng
lợng cho một số sản phẩm sử dụng năng lợng đợc lựa chọn là một trong mời
đề án nằm trong ch
ơng trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lợng tiết kiệm
và hiệu quả. Chơng trình này vừa có tính khuyến khích thúc đẩy, vừa có tính
quản lý bắt buộc nhằm nhanh chóng tạo chuyển biến, thực hiện đồng bộ trong
toàn xã hội, đi dần từ các bớc nâng cao nhận thức, thu hút sự quan tâm, chuyển
thành nhu cầu thúc đẩy các hoạt động sử dụng năng lợng tiết kiệm và hiệu quả.
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


13
.2.
tổng quan chung về vấn đề tiết kiệm năng lợng và dán
nhn tiết kiệm năng lợng của các nớc trên thế giới
Hầu hết các nớc có nền kinh tế phát triển và đang phát triển trong khu vực
và trên thế giới đều phải đối mặt với sự thiếu hụt về năng lợng, chính phủ các
nớc đều nhận thức đợc tầm quan trọng của hoạt động sử dụng năng lợng tiết
kiệm và hiệu quả.
Các nớc đã triển khai khá đầy đủ trong một thời gian dài các hoạt động cụ
thể nhằm tiết kiệm năng lợng đồng thời xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc cho
hoạt động này. Các nớc gần Việt Nam nh Thái Lan, Philipin, Malaysia, Trung
Quốc, Hàn Quốc đều đã xây dựng hệ thống Luật tiết kiệm năng lợng và bảo tồn
năng lợng đợc trên 10 năm. Với thời gian này, các quốc gia đã tích lũy đợc
nhiều kinh nghiệm và xây dựng đợc cơ sở vật chất, nguồn nhân lực để triển khai
các nhiệm vụ hoạt động tiết kiệm năng lợng. ở các nớc việc sản xuất và tiêu
thụ năng lợng chịu sự kiểm soát của nhiều luật lệ và quy định nhằm tối u hoá
sự phát triển và sử dụng năng lợng theo định hớng u tiên phát triển cả về kinh
tế, xã hội và môi trờng.
Trong khuôn khổ luật tiết kiệm năng lợng, chính phủ các nớc thiết lập
những chính sách, quy tắc và quy định liên quan đến việc sở hữu, khai thác, phát
triển và sử dụng các nguồn năng lợng một cách hợp lý và hiệu quả. Hoạt động
tiến hành đồng bộ với các hoạt động khác là kiểm tra hiệu suất của một số thiết bị
có công suất lớn và tiến hành dán nhãn tiết kiệm năng lợng cho các thiết bị. Việc
dán nhãn trên các sản phẩm sử dụng năng lợng đã đợc tiến hành từ rất sớm và
đồng bộ tại một số nớc trong khu vực, cụ thể:
+ Tại Philipin:
Chơng trình dán nhãn tiết kiệm năng lợng đã đợc thực
hiện từ năm 2000 đối với hầu hết các thiết bị hộ gia đình.
+ Tại Indonexia
: Phòng thử nghiệm hiệu suất năng lợng thành lập vào
năm 1999, những thiết bị sử dụng năng lợng hiệu quả tuỳ theo cấp độ sẽ đợc
đánh giá bằng số ngôi sao trên sản phẩm.
+ Tại Nhật bản:
Chính phủ đã phát triển chơng trình tiết kiệm năng lợng
bằng cách đánh thuế sử dụng năng lợng, nguồn thuế thu đợc sử dụng vào việc
Đề tài: Nghiên cứu khảo sát điều kiện kỹ thuật thử nghiệm trong
dán nhãn tiết kiệm năng lợng


14
nghiên cứu các nguồn năng lợng tái sinh nh phong điện, điện mặt trời và pin
nhiên liệu. Chính phủ Nhật Bản đẩy mạnh quảng bá Văn hoá bảo tồn năng
lợng, Bộ môi trờng Nhật đã đa ra dự báo bảo tồn năng lợng sẽ trở thành
ngành công nghiệp chủ đạo của nớc này, trị giá đến 7.9 tỷ USD vào năm 2020,
gấp 10 lần so với năm 2000.
Hiện nay, tại Nhật Bản sử dụng phổ biến máy điều hoà có mức tiêu thụ
năng lợng chỉ bằng 2/3 so với loại máy thời điểm năm 1997 và máy đông lạnh
có mức tiệu thụ năng lợng giảm 23%.
+ Tại Hoa kỳ
: ENERGY STAR là một biểu tợng của quốc gia đợc chính
phủ bảo trợ về hiệu quả năng lợng vì chúng đáp ứng đợc những hớng dẫn
nghiêm ngặt về hiệu quả năng lợng của Cục Bảo vệ môi trờng Hoa Kỳ (EPA)
và Bộ Năng lợng (DOE). Bởi vậy ENERGY STAR không chỉ giúp tiết kiệm chi
phí năng lợng mà còn góp phần bảo vệ môi trờng thông qua việc giảm các khí
gây hiệu ứng nhà kính vốn gắn liền với hiện tợng khí hậu toàn cầu nóng lên.
Theo số liệu thống kê thu đợc, chỉ tính riêng năm 2004, các sản phẩm đạt tiêu
chuẩn của ENERGY STAR giúp tiết kiệm hơn 10 tỷ đô la chi phí năng lợng,
năng lợng tiết kiệm đợc đủ cung cấp cho khoảng 10 triệu hộ gia đình.
Chơng trình gắn nhãn sao năng lợng thực hiện tại Hoa kỳ và Canada, sắp
tới là Mehicô là một ví dụ về một công cụ làm biến đổi thị trờng mạnh mẽ, đáp
ứng tất cả các tiêu chuẩn và có thể liên kết với tất cả các chơng trình khác. Mỹ
đã mở rộng phạm vi sử dụng thông tin trên nhãn mác, nh là chất lợng và các
tiêu chuẩn đã áp dụng để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lợng. Bắt đầu vào
tháng 6/2001, nhiều các loại sản phẩm đòi hỏi phải tiến hành ghi các thông tin về
năng lợng trên nhãn mác và những yêu cầu tối thiểu về mức sử dụng năng lợng.
ắ Tại các nớc nhóm đề tài đi khảo sát thực tế

+ Tại Thái Lan:
Qua sự giới thiệu của Viện Bảo tồn Năng lợng quốc tế
tại Thái Lan (International Institute for Eenergy Conservation IIEC) Nhóm
nghiên cứu đã thu thập đợc các số liệu nh sau:

Ảnh hưởng không gian dịch vụ đến xu hướng trung thành của khách hàng tại các nhà hàng.pdf


MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1

1.1. Giới thiệu 1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 5

1.4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5

1.5. Kết cấu của báo cáo nghiên cứu 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7

2.1. Xu hướng trung thành của khách hàng 7

2.1.1. Khái niệm 7

2.1.2. Các mô hình của lòng trung thành 8

2.2. Không gian dịch vụ 11

2.2.1.

Khái niệm 12

2.2.2.

Các thành phần cấu thành của không gian dịch vụ 16

2.3. Đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu 19

2.3.1.

Âm nhạc 19

2.3.2.

Sự vệ sinh 21

2.3.3.

Các yếu tố thiết kế, bày trí 22

2.3.4.

Năng lực của nhân viên 23

2.3.5.

Hình thức bên ngoài của nhân viên 24

CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1. Giới thiệu 27

3.2. Qui trình nghiên cứu 27

3.3. Các thang đo 29


3.4. Thiết kế nghiên cứu 31

3.3.1.

Nghiên cứu sơ bộ 31

3.3.2.

Nghiên cứu chính thức 35

CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1. Giới thiệu 38

4.2. Kết quả nghiên cứu định
lượ
ng
38

4.2.1.

Mô tả mẫu 38

4.2.2.

Kiểm định độ tin cậy của thang đo 40

4.2.3.

Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 43

4.2.4.

Kiểm định mô hình nghiên cứu thông qua phân tích hồi qui bội 47

CHƯƠNG 5. Ý NGHĨA VÀ KẾT LUẬN 57

5.1. Giới thiệu 57

5.2. Kết quả chính và đóng góp của nghiên cứu 57

5.3. Hạn chế của đề tài và
hướng
nghiên cứu tiếp theo 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Tài liệu tiếng Việt 63

Tài liệu Tiếng Anh 63

PHỤ LỤC 67

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát 67

Phụ lục 2: Hệ số tin cậy cronbach alpha 71

1. Thang đo âm nhạc 71

2. Thang đo sự vệ sinh 71

3. Thang đo thiết kế, bày trí 72

4. Thang đo năng lực nhân viên 72

5. Thang đo hình thức bên ngoài 73


6. Thang đo xu hướng trung thành 73

Phụ lục 3: Phân tích nhân tố khám phá EFA 74

1. Thang đo không gian dịch vụ 74

2. Xu hướng trung thành 75



DANH MỤC CÁC BẢNG
BIỂU


Bảng
3.1.
Thang đo và mã hóa thang đo
30

Bảng
3.2. T
hang đo và mã hóa thang đo bổ sung sau nghiên cứu định
tính 33

Bảng
4.1.
Mô tả
mẫu 39

Bảng
4.2. Kết
quả Cronbach Alpha của các thang đo 4
3

Bảng 4.3. Kết quả KMO và Bartlett’ Test

của thang đo không gian dịch vụ 45
Bảng 4.4. Kết quả EFA của thang đo không gian dịch vụ 45
Bảng 4.5. Kết quả KMO & Bartlett’ Test

của thang đo xu hướng trung thành 46
Bảng 4.6. Kết quả EFA của thang đo xu hướng trung thành 47
Bảng 4.7. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình
49
Bảng 4.8. Chỉ tiêu đánh giá độ phù hợp của mô hình 50
Bảng 4.9. Kiểm định độ phù hợp của mô hình 50
Bảng 4.10. Các thông số thống kê của từng biến trong mô hình 52
Bảng 4.11. Bảng so sánh các hệ số Beta và t 53
0

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ



Hình
2.1.
Mô hình đề
nghị 25


Hình
3.1.
Quy trình nghiên cứu
28


Hình
4.1.
Mô hình sau khi đã kiểm
đ

nh



55












1

CHƯƠ
NG
1: TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu
Việt Nam là một nước đang phát triển, nhu cầu tiêu dùng ngày càng được
nâng cấp, văn hóa ẩm thực đã có những thay đổi với những tiêu chuẩn nhất định
trong đại bộ phận người dân. Ẩm thực hay nói đơn giản là ăn và uống vốn là
chuyện hằng ngày, rất gần gũi và cũng rất đời thường. Nhưng ở mỗi thời đại, giai
đoạn phát triển khác nhau thì ăn uống lại được quan tâm với những mức độ khác
nhau. Khi cuộc sống ngày một phát triển, nhu cầu của con người ngày một cao
hơn, ẩm thực cũng nhờ vào đó mà trở nên hoàn thiện hơn. Sự thay đổi về môi
trường kinh tế, văn hóa và xã hội đã làm thay đổi nhu cầu ăn uống của khách hàng,
do đó đòi hỏi phải nâng ẩm thực lên tầm nghệ thuật. Chẳng hạn, thực khách chi
tiền vào các nhà hàng không chỉ để thưởng thức các món ăn, thức uống với càng
nhiều sự sáng tạo của đầu bếp, mà họ còn cần một không gian thư giãn với gia
đình, người thân, bạn bè; một không gian để trao đổi công việc với đối tác; và đôi
khi để thể hiện bản thân. Vì lý do đó, phần thưởng chỉ dành cho nhà kinh doanh
nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng và đặc thù của khách hàng.
Có rất nhiều ý kiến cho rằng, thời điểm hiện nay là thời điểm hoàng kim
của kinh doanh nhà hàng, đặc biệt là ở các thành phố lớn có mức sống cao và mật
độ dân cư cao như thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), hàm chứa số lượng khách
hàng tiềm năng khổng lồ. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê từ Sở Kế hoạch và Đầu
tư thành phố, hiện nay trên địa bàn TPHCM có trên 1.000 doanh nghiệp lớn đang
hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nhà hàng khách sạn. Điều này đã tạo nên sự
cạnh tranh mạnh mẽ trong hoạt động kinh doanh ẩm thực. Với số lượng nhà hàng
khá lớn sẽ dẫn đến mức độ cạnh tranh ngành cao. Thêm vào đó, rào cản gia nhập
ngành của loại hình kinh doanh này gần như rất nhỏ cũng tạo nên áp lực lớn buộc
các tổ chức/cá nhân tham gia loại hình kinh doanh này để tồn tại lâu dài và đạt
được mục tiêu lợi nhuận cần phải có sự đầu tư cả về tài chính lẫn kiến thức nhằm
mục tiêu thu hút khách hàng ngày càng nhiều, trong đó có cả lượng khách hàng cũ
và khách hàng mới.
2

Như vậy, cũng như các loại hình kinh doanh khác, khách hàng trung thành
vẫn là yếu tố then chốt và cũng là đòn bẩy tạo nên sự thành công cho các nhà hàng
bởi rõ ràng, không có gì và không ai ngoài khách hàng cung cấp nguồn thu cho các
nhà hàng tồn tại và phát triển bền vững. Các nhà hàng phải tập trung đầu tư,
nghiên cứu để hiểu biết nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự trung thành của khách
hàng bởi lòng trung thành của khách hàng là mục tiêu được đặt lên hàng đầu trong
bối cảnh cạnh tranh khốc liệt hiện nay của ngành nhà hàng. Không người chủ
doanh nghiệp nào không nhận thức được rằng chi phí để tìm kiếm một khách hàng
mới tốn nhiều lần hơn chi phí gìn giữ một khách hàng hiện hữu. Thứ nhất, chi phí
quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và phát hiện nhu cầu của khách hàng mới rất cao, và
thứ hai, khách hàng mới cần một thời gian “chuyển tiếp” mới có thể trở thành
khách hàng mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp (Athanassopoulos và ctg., 2000).
Xu hướng trung thành của khách hàng là một khái niệm khá quen thuộc
trong lĩnh vực tiếp thị, theo cách hiểu đơn giản nhất chính là nói đến xu hướng
lặp lại hành vi mua hàng của người tiêu dùng, và trong tình huống này, đó là
xu hướng lặp lại hành vi vào một nhà hàng nhất định của mỗi người. Tại sao dù
có các nhà hàng khác mở ra người ta vẫn có xu hướng trung thành với một nhà
hàng nhất định và thậm chí có khi chọn một chỗ ngồi nhất định tại nhà hàng quen
thuộc. Thực tế cho thấy, mỗi nhà hàng đều có một phong cách riêng và phục vụ
cho một đối tượng riêng. Chủ các nhà hàng
để

thu
hút khách hàng cũng đầu tư
không nhỏ, cả tiền bạc và công sức cho các hoạt động, nhưng ít ai biết được
một cách hệ thống yếu tố cốt lõi trong việc kích thích cũng như là chất xúc tác
tạo nên xu hướng gia tăng mức độ trung thành với nhà hàng là gì.
Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng sự thỏa mãn của khách hàng là
yếu tố quan trọng giải thích cho sự trung thành của khách hàng (Jones và Suh,
2000). Lý do đơn giản rằng chỉ khi thỏa mãn với sản phẩm, dịch vụ khách hàng
mới có xu hướng sử dụng dịch vụ nhiều hơn và thường xuyên hơn. Việc sử
dụng dịch vụ cũng không chỉ dừng lại ở yếu tố cá nhân đó mà còn được giới thiệu
truyền miệng cho những người quen (Zeithaml và ctg., 1996). Mặc dù vậy, chỉ
3

có sự thỏa mãn thì chưa đủ để gây dựng nền tảng lòng trung thành của khách
hàng.
Nhiều nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực bán lẻ đã chứng minh rõ ràng
rằng môi trường của nơi mua sắm có thể làm thay đổi xúc cảm của khách hàng
(Babin và ctg., 2005). Những xúc cảm này có thể là tích cực, thúc đẩy khách hàng
tiến gần hơn đến việc trở thành khách hàng thân thuộc hoặc tiêu cực, ngăn cản
khách hàng sử dụng dich vụ của nhà cung cấp hiện tại và chuyển sang sử dụng
dịch vụ của nhà cung cấp khác. Những nghiên cứu này đã tập trung vào việc phát
triển và kiểm định lý thuyết giải thích vấn đề môi trường đã tạo ra những thay đổi
một cách có hệ thống hữu hiệu như thế nào đến các kết quả tiếp thị then chốt như
doanh số, giá trị và sự thỏa mãn (Turley và Chebat, 2002). Tương tự, mô hình
không gian dịch vụ trong nghiên cứu của Bitner (1992) khẳng định vai trò nổi bật
của tác động từ môi trường trong việc định hình kết quả dịch vụ. Hơn nữa, hàng
loạt nghiên cứu cho rằng những xúc cảm tích cực và tiêu cực, được gợi lên do
những đặc tính của môi trường, là những khái niệm cơ bản trong việc giải thích
những tương tác giữa môi trường và khách hàng (Turley và Chebat, 2002).
Như vậy, quan niệm cho rằng các khía cạnh của không gian dịch vụ có thể
có một ảnh hưởng mạnh mẽ lên xu hướng trung thành của khách hàng là một quan
niệm đã được hình thành trong nhiều bối cảnh (Harris và Ezeh, 2008). Thực tế, có
sự thống nhất chung là các bối cảnh dịch vụ đã tạo ra những xúc cảm trong khách
hàng, làm cho khách hàng hoặc tiếp tục liên kết với một nhà cung cấp cụ thể, hoặc
không còn là người khách hàng thân quen nữa. Mặc cho sự quan trọng rõ rệt của
không gian dịch vụ, vẫn còn nhiều sự thiếu thốn đến ngạc nhiên về những nghiên
cứu thực tiễn để làm rõ vai trò của không gian dịch vụ trong những bối cảnh tiêu
dùng (Tombs và McColl-Kennedy, 2003) và ảnh hưởng của nó lên quyết định mua
của khách hàng (Cronin, 2003). Nói chung, ảnh hưởng của không gian dịch vụ đã
được bàn đến một cách quá đơn giản như là một tài nguyên hữu hình của tổ chức.
Vì vậy, Hoffman và Turley (2002) đặt vấn đề về sự thiếu thốn phát triển nghiên
cứu thực tiễn trong lĩnh vực này, và khẳng định rằng “cho đến nay quá ít nghiên
4

cứu thực tiễn được tiến hành để điều tra ảnh hưởng của không gian dịch vụ vì
chúng liên quan đến trải nghiệm dịch vụ của khách hàng”.
Vì vậy, để hiểu được một cách hệ thống các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng mạnh
mẽ trong việc tạo nên xu hướng trung thành của thực khách với nhà hàng, nghiên
cứu này tập trung vào việc xác định mức độ tác động của các yếu tố không gian
dịch vụ nhà hàng lên xu hướng trung thành của khách hàng dựa trên cơ sở lý
thuyết về sự trung thành của khách hàng và các yếu tố thuộc về không gian dịch
vụ ứng dụng vào loại hình kinh doanh nhà hàng tại TPHCM.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm làm gia tăng sự hiểu biết lý thuyết về mức độ tác
động của các yếu tố trong không gian dịch vụ lên việc xác định xu hướng trung
thành của khách hàng và làm rõ những lợi ích thực tiễn của những phương thức
được xây dựng từ những tìm thấy qua nghiên cứu này thông qua các yếu tố của
không gian dịch vụ có thể có được bởi tổ chức của dịch vụ trong những nhà hàng ở
tại TPHCM nói riêng và cả nước nói chung.
Nghiên cứu này được thiết kế để đóng góp cho lý thuyết từ việc kiểm định
một khuôn khổ làm việc đa chiều nhằm mô hình hóa không gian dịch vụ bao gồm
cả các khía cạnh hữu hình lẫn các khía cạnh xã hội khác, cũng như những đóng
góp thực tiễn thông qua việc cung cấp những hiểu biết thực tế trong các không
gian dịch vụ đương đại. Nghiên cứu cũng hiện thực hóa một thang đo không gian
dịch vụ, nhằm cung cấp một đóng góp về phương pháp nghiên cứu cũng như
những hàm ý cho hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng.
Mục tiêu nghiên cứu của báo cáo này tập trung vào:
Phân tích mối liên hệ giữa các thành phần không gian dịch vụ nhà hàng
ảnh hưởng đến xu hướng trung thành của khách hàng.

5

1.3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của báo cáo này tập trung vào các nhà hàng hoạt
động
trên địa bàn TPHCM.
Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai bước: nghiên cứu sơ bộ
định tính và nghiên cứu định lượng chính thức. Nghiên cứu sơ bộ định tính
nhằm điều chỉnh thang đo lường của khái niệm không gian dịch vụ được thực
hiện thông qua phương pháp thảo luận nhóm. Nghiên cứu định lượng được thực
hiện theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện và phỏng vấn trực tiếp những khách
hàng đáp ứng tất cả những câu hỏi gạn lọc.
Trên cơ sở kết quả khảo sát, nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định
độ tin cậy Cronbach alpha và phân tích các nhân tố khám phá EFA thông qua
phần mềm SPSS 16.0 để kiểm định thang đo và phương pháp hồi qui bội để
kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu trong mô hình.
1.4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Thứ nhất, xác định mối liên hệ tác động của các thành phần không gian
dịch vụ lên xu hướng trung thành của khách hàng đối với nhà hàng;
Thứ hai, thông qua kết quả đạt được từ số liệu thu thập thực tế, nghiên
cứu cũng đưa ra các kết luận và những khuyến nghị cụ thể cho các cá nhân/tổ
chức đã, đang và sẽ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này;
Thứ ba, nghiên cứu bổ sung hệ thống thang đo lường cho khái niệm
không gian dịch vụ, thang đo lường này có thể ứng dụng cho các nghiên cứu khác.
1.5. Kết cấu của báo cáo nghiên cứu
Báo cáo nghiên cứu được chia thành 5 chương, cụ thể như sau:
-
Chương 1. Tổng quan
Chương này giới thiệu khái quát về đề tài, cho biết những mục tiêu
nghiên cứu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, nêu lên các ý nghĩa thực tiễn của
đề tài và giới thiệu kết cấu của báo cáo.
-
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu