là những người đang lưỡng lự, phân vân trước ngưỡng cửa cuộc đời sẽ đọc cuốn sách này. Cuốn sách đề
cập việc con người có khả năng phát triển tuyệt vời nếu có ước mơ, hoài bão và nỗ lực để thực hiện
những gì mình ấp ủ”.
Xem Inamori, hiểu được sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản là do kết quả tích hợp từ những co người
bình thường và có ý chí, ước mơ, dám dấn thân và kiên trì thực hiện ước mơ. Không chỉ dừng lại việc cải
thiện đáp số cuộc đời và những điều hay cho mỗi cá nhân chúng ta, đã đến lúc đặt câu hỏi: „tại sao không,
Việt Nam ta sẽ có những “Inamori Việt Nam”?
Ước mơ của bạn nhất định thành hiện thực, sách tự thuật của Inamori một doanh nhân Nhật Bản, do Phạm
Hữu Lợi dịch, NXB Trẻ, phát hành tháng 2 năm 2006, giá bìa 24.000VND .
LÝ TRƯỜNG CHIẾN
LỜI NÓI ĐẦU
Các bạn đang cầm trên tay cuốn sách của Kazuo Inamori, một trong những doanh nhân nổi tiếng nhất của
nước Nhật hiện đại. Người Nhật gọi ông là “ Honda sống”, một cái tên vừa nói lên tài năng kinh doanh
vừa là sự tôn vinh những đóng góp to lớn của ông cho kinh tế Nhật Bản sau Thế chiến Thứ hai. Tập đoàn
Kyocera do ông sáng lập và phát triển chính là hiện thân của sự thần kỳ kinh tế Nhật Bản. Từ một công ty
nhỏ vốn liếng ít ỏi thành lập vào năm 1959, Kyocera Corporation ngày nay xếp thứ 254 trong số 500 công
ty lớn nhất thế giới, và là công ty hàng đầu trong lĩnh vực gốm công nghệ cao.
Cuộc đời của Inamori là câu chuyện về nỗ lực vượt qua số phận để vươn lên. Xuất thân từ tầng lớp
thường dân, chỉ tốt nghiệp đại học hàng tỉnh, nhưng Inamori lại có óc sáng tạo, tinh thần dám nghĩ dám
làm và một nghị lực sắt đá giúp ông vượt qua mọi nghịch cảnh. Nhưng sâu xa hơn, thành công của
Inamori bắt nguồn từ triết lý mà ngày nay được gọi là triết lý của Kyocera. Nó dựa trên tư tưởng “làm
việc thiện”, nói rộng ra là làm những gì mang lại hạnh phúc cho con người, cho xã hội và cho nhân loại
nói chung. Cũng như Andrew Carnegie, Inamori cho rằng “nếu may mắn có được tài năng (lãnh đạo), bạn
nên dành nó cho thế giới, cho nhân loại, cho xã hội, chứ đừng bao giờ chỉ dành cho bản thân mình”.
Sự nghiệp và tư tưởng của Kazuo Inamori được đánh giá rất cao không chỉ ở Nhật Bản mà cả trên bình
diện quốc tế. Năm 1991, ông được mời tham gia Uỷ ban xúc tiến cải cách Chính quyền, một cơ quan tư
vấn cấp cao cho chính phủ Nhật, là chủ tịch tiểu ban “Nhật Bản và Thế giới”. Với vai trò này, ông góp
phần quan trọng hình thành nên “Những nguyên tắc về Chính sách Đối ngoại của Nhật Bản”, thể hiện
những quan niệm về vai trò và hình ảnh của toàn nước Nhật trong thế giới toàn cầu ở thiên niên kỷ thứ
ba. Còn các nhà tương lai học uy tín trên thế giới đánh giá rất cao triết lý của Kyocera, coi đó như một
hình mẫu của công ty ở thế kỷ 21. Tháng 10 năm 2002, tổ chức Case tại Hoa kỳ mời ông diễn thuyết về
đề tài “Đạo đức và Lãnh đạo trong Viễn cảnh Toàn cầu” cho các chủ tịch công ty và hiệu trưởng các
trường đại học Mỹ. Bài diễn thuyết này sau đó được biên soạn thành một cuốn sách thuộc diện bestseller
ở Mỹ, đó là cuốn “ A Passion for Success” (tạm dịch là Khát vọng Thành công) mà Nhà xuất bản Trẻ hy
vọng sẽ giới thiệu với bạn đọc trong thời gian tới.
VỀ TÁC GIẢ
INAMORI KAZUO
Sinh năm 1932 tại thành phố Kagoshima.
Năm 1955, tốt nghiệp Khoa Công nghiệp đại học Kagoshima.
Năm 1959, lập công ty Kyoto Ceramics, tiền thân của Tập đoàn Kyocera hiện nay. Ông trải qua các chức
vụ Giám đốc công ty, Chủ tịch tập đoàn và từ năm 1997 giữ chức Chủ tịch danh dự Tập đoàn Kyocera.
Năm 1984, trước làn sóng tự do hoá thị trường viễn thông, ông lập ra công ty điện thoại DDI, giá cước
điện thoại đường dài ở Nhật Bản rẻ hẳn đi. Sau đó, ông lập tám công ty điện thoại di động và hình thành
mạng lưới điện thoại di động trên khắp đất nước Nhật với thương hiệu au.
Năm 2000, ông lập ra Tập đoàn viễn thông KDDI trên cơ sở hợp nhất DDI với KDD và IDO, đồng thời
giữ chức Chủ tịch danh dự.
CÁC HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
Năm 1984, ông trích 2 tỷ yên (khoảng 200 triệu USD ) từ tài sản riêng, lập Quỹ Inamori và Giải thưởng
Quốc tế Kyoto. Giải thưởng Quốc tế Kyoto được đánh giá không thua kém Giải thưởng Nobel, hàng năm
được trao cho các nhà khoa học và hoạt động văn hoá nghệ thuật xuất sắc trên thế giới trên ba lĩnh vực:
Kỹ thuật; Khoa học cơ bản và Tư tưởng Nghệ thuật. Trị giá giải thưởng gồm khoản tiền mặt 50 triệu yên
và một Huy chương vàng gắn hồng ngọc và ngọc bích.
Năm 1989, lập trường tư thục Seiwa để đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giữ chức hiệu
trưởng. Trường chính ở Kyoto. Ngoài 55 phân hiệu trên khắp Nhật Bản, còn năm phân hiệu ở Mỹ, Brazil,
Nga, Trung Quốc và Đài Loan. Học viên của trường là giám đốc của các công ty vừa và nhỏ. Tổng số học
viên của toàn trường: 3.150 người (số liệu tháng 2- 2004).
CÁC CHỨC VỤ
* Hiện nay là Chủ tịch danh dự Hiệp hội Công nghiệp và Thương mại Kyoto.
* Hội viên Hải ngoại đặc biệt Viện hàn lâm Khoa học Vương quốc Thụy Điển.
* Hội viên Hải ngoại Viện hàn lâm Công nghiệp Hoa kỳ.
* Tổng thư ký Hiệp hội Carnegie Washington.
CÁC TÁC PHẨM ĐÃ VIẾT
o Nước Nhật mới: Phương pháp kinh doanh mới (1994)
o Tinh thần của chủ nghĩa tư bản (1995)
o PASSIONS – Con đường dẫn đến thành công (1996)
o Kính thiên ái nhân (1997)
o Hướng tới xã hội ước mơ (1998)
o Cuộc đời và kinh doanh (1998)
o Thực học: Kinh doanh – Tài chính ( 1998 )
o Triết lý Inamori (2001)
o Tư chất người lãnh đạo (2002)
o Đức và Chính nghĩa (2002)
o Cách sống của tôi (2004)
o Phương pháp kinh doanh đạt lợi nhuận cao (2004)
o Nâng cao nhân cách. Phát triển kinh doanh (2004)
LỜI MỞ ĐẦU
Có một điều tôi muốn tâm sự với các bạn trẻ.
Đó là tương lai của bạn tuỳ thuộc vào hoài bão và nỗ lực của chính bạn.
Càng những lúc băn khoăn, trăn trở về lẽ sống, về cách sống, càng những lúc gặp nghịch cảnh thì bạn
càng phải dồn sức, nỗ lực vào công việc bạn đang thực hiện. Chính điều đó sẽ mở ra đường đi cho mình.
Tôi sinh ở Kagoshima, trên đảo Kyushu. Năm 23 tuổi, sau khi tốt nghiệp trường đại học Kagoshima, tôi
rời quê lên thành phố Kyoto đi làm. Năm 27 tuổi, cùng với bảy người đồng chí hướng, tôi thành lập công
ty Kyoto Ceramics - tiền thân của tập đoàn Kyocera ngày nay. Tập đoàn Kyocera là một tập đoàn kinh tế
lớn, tổng số nhân viên lên tới 50 ngàn người, trong đó 14 ngàn người làm việc ở Nhật Bản.
Nhưng, để có được như ngày hôm nay, tôi đã phải trải qua biết bao thất bại và nản chí.
Thất bại đầu đời của tôi là việc thi trượt trung học cơ sở. Năm sau, thi lại cũng rớt. Tôi phải học ở trường
dự bị. Đến khi thi đại học, tôi trượt Đại học quốc gia Osaka và phải thi vào trường đại học hàng tỉnh. Ra
trường, tôi cũng trượt trong cuộc thi tuyển nhân viên của các công ty. Vất vả mãi, được giáo sư hướng
dẫn giới thiệu, tôi mới xin được vào làm việc ở một công ty đang thua lỗ, chỉ chờ phá sản.
Hơn nữa, tôi còn mắc bệnh lao trong thời gian chuẩn bị thi lại vào trung học. Tôi sống trong tâm trạng
thấp thỏm lo âu vì hai người chú và một người cô, em ruột của bố tôi, đã chết vì bệnh lao, cho nên có lẽ
tôi cũng chịu chung số phận.
Sau này, tôi quan tâm sâu sắc và tìm hiểu kỹ lưỡng về “cái tâm” của con người, cũng bởi vì ngay từ nhỏ
tôi đã ý thức về sự mong manh của kiếp người.
Có thể nói, cuộc sống thời trẻ của tôi là chuỗi những thất bại và chán nản.
May thay, sau mỗi lần tôi vấp ngã thì “thần hộ mệnh” lại hiện lên, nâng đỡ tôi. Nhờ thế mà tôi mới có thể
tiếp tục nỗ lực, con người tôi không bị méo mó, lệch lạc.
Tôi có duyên gặp được những người mà tôi luôn coi họ là thần hộ mệnh. Những người có tấm lòng cảm
thông với tôi đến mức có thể sánh với tình cha con ruột thịt.
Đó là người thầy dạy tiểu học, người đã nộp đơn thi chuyển cấp hộ tôi và còn đưa tôi đến tận phòng thi vì
thấy tôi bệnh tật, ốm yếu. Đó là người thầy dạy cấp ba, người đã có công thuyết phục cha mẹ tôi, lúc ấy
chỉ mong con cái thôi học đi làm, và nhờ thế mà tôi thực hiện giấc mơ đại học. Đó là một nhân viên của
một công ty ở Kyoto, người đã đem căn nhà đang trú ngụ thế chấp ngân hàng để vay tiền thành lập công
ty cho tôi tiếp tục công việc nghiên cứu. Và nhờ thế mà cả thế giới biết tới và ứng dụng kỹ thuật do tôi
phát minh. Ở từng giai đoạn của đời tôi, tôi luôn được ân nghĩa của biết bao người, mà suốt đời tôi cũng
không thể đền đáp được. Chỉ cần thiếu bất cứ người nào trong số họ thì có lẽ sẽ không có tập đoàn
Kyocera cũng như tập đoàn KDDI như ngày nay.
Có thể nói tôi được như ngày nay là nhờ những tấm lòng tận tụy đó. Để đáp lại những tấm thịnh tình ấy,
tôi đã nỗ lực xây dựng công ty lớn mạnh, nỗ lực quên mình cống hiến cho con người, cống hiến cho xã
hội.
Tôi luôn tâm niệm rằng dù bản thân hơi thiếu năng lực nhưng bù lại, nếu có nhiệt huyết và ý chí thì nhất
định không thể thua kém người khác. Tuy vậy, đối với tôi, có một thứ còn quan trọng hơn. Đó là “cái
tâm”, là “tấm lòng”. Ước mơ nhất định trở thành hiện thực nếu ta có tư duy đúng đắn của một con người
có nhân cách và biết nỗ lực hết mình cho một mục đích rõ rệt. Nói cách khác, tôi được như ngày nay cũng
bởi vì tôi nghĩ như vậy và làm đúng như vậy. Cuộc đời tôi đúng như những gì mà tôi đã vẽ lên trong tâm
cảm.
Cuốn sách này tôi viết trong dòng hồi tưởng về một thời tuổi trẻ băn khoăn, trăn trở, là những suy nghĩ
của tôi về cuộc đời.
Và tôi muốn được tâm sự cùng các bạn.
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
Cuộc đời sẽ như những gì bạn ấp ủ trong lòng
NGHĨ ĐIỀU THIỆN
Trong đời người, không có gì quan trọng hơn câu hỏi: “Ta ấp ủ điều gì trong lòng?” Cuộc đời của một
người được quyết định bởi những suy nghĩ, ước mơ, hy vọng, lý tưởng, hoặc quan niệm, tư tưởng mà
người đó theo đuổi.
Một người Trung Quốc là Viên Liễu Phàm có để lại cho đời một cuốn sách tựa đề là Âm chất lục. Điểm
cốt yếu được nêu trong cuốn sách này là người ta ai cũng có một số phận. Nhưng số phận vẫn có thể thay
đổi được tuỳ theo suy nghĩ và tư tưởng của bản thân người đó. Cuốn sách ra đời dưới thời nhà Minh, cách
đây hơn 400 năm – tương ứng với thời Tể tướng Toyotomi Hideyoshi (1) cai trị Nhật Bản.
1.: Toyotomi Hideyoshi (1536 – 1598) là người đã dựng nên một chính quyền thống nhất trên toàn cõi
Nhật Bản năm từ 1590. Sau khi nắm quyền binh ông tự xưng là Kampaku đại khái như tể tướng.
Tôi xin kể qua một chút về nội dung của cuốn sách.
Hồi nhỏ, Viên Liễu Phàm có tên là Học Hải. Một hôm, có ông lão đầu tóc đến tìm nhà Học Hải. Ông lão
nói: “Ta vốn là người nước Nam, rất tinh thông Dịch lý. Hôm nay ta tìm tới đây để thực hiện một Thiên
mệnh trời trao. Đó là truyền lại tinh yếu của “Dịch” cho một cậu bé tên là Học Hải sống ở xứ này.”
Ở Trung Quốc, “Dịch” là một môn học từ rất xa xưa, có thể dùng để đoán trước số phận con người.
Ông lão ở nhà Học Hải. Cha Học Hải mất sớm. Gia đình chỉ có hai mẹ con tần tảo kiếm sống. Ông lão
gọi hai mẹ con Học Hải đến ngồi trước mặt và nói về tương lai của cậu bé.
“Bà muốn con bà sau này trở thành thầy thuốc phải không?”.
“Vâng. Cụ nói chẳng sai, tôi muốn cho cháu nối nghiệp nhà làm thầy thuốc. Ông nội nó là lương y, cha
nó trước khi mất cũng là thầy lang đấy ạ. Vì thế tôi mong cho nó sau này cũng trở thành thầy lang như
ông cha…”.
“Không. Thằng bé này không trở thành thầy thuốc như bà mong mỏi đâu. Nó sẽ theo nghiệp khoa cử, sẽ
vượt qua tất cả các ký thi và trở thành một vị quan lớn được người đời trọng vọng.”
Khoa cử là một cách thức để tuyển quan lại ở Trung Hoa ngày xưa. Khoa cử gồm nhiều vòng thi như thi
hương, thi hội, thi đình… Sau mỗi vòng, thí sinh lại tiếp tục trải qua một cuộc sát hạch khác cao hơn và
khó hơn.
Ông lão nói tiếp: “Thằng bé này sẽ thi hương vào lúc chừng này tuổi. Nó sẽ đỗ kỳ thi hương trong số
hàng trăm ngàn cống sinh khác. Nó sẽ dự tiếp kỳ thi hội vào lúc chừng này tuổi và cũng sẽ đỗ. Sau đó ít
năm, nó đi thi đình, nhưng lần này thì trượt. Song chỉ năm sau nó sẽ thi lại và sẽ đỗ. Đến cuối đời, nó sẽ
trở thành một vị quan nhất phẩm trong triều. Và ngoài ra, nó sẽ được bổ làm tri phủ khi còn rất trẻ.”
Ngừng một lát, ông lão nói tiếp: “Thằng bé này sẽ thành gia thất, nhưng đường con cái thì không được
may mắn lắm. Và điều cuối cùng, nó sẽ thọ 53 tuổi. Số mệnh của nó là thế đấy.”
Cậu thiếu niên ngồi lắng nghe, trong lòng thầm nghĩ: “Cái ông lão này nói ra toàn những điều huyễn
hoặc.”
Nhưng về sau, cuộc đời Học Hải diễn ra quả đúng như những gì ông lão đã nói. Từ việc vượt qua hàng
trăm ngàn thí sinh thi đỗ trong các kỳ thi, cho tới việc trở thành quan nhất phẩm trong triều, kể cả chuyện
được bổ làm quan phủ từ khi còn rất trẻ, tất cả điều đúng như lời ông lão.
Ngay sau khi nhận chức quan phủ, Học Hải tới viếng ngôi chùa trong vùng. Trong chùa có một nhà sư
nổi tiếng, pháp danh là Vân Cốc thiền sư. Đã từ lâu, Học Hải muốn được yết kiến vị thiền sư này. Thiền
sư cũng nghe tiếng tăm của vị quan trẻ tuổi, nên ra tận cổng đón rước. Sau khi vào chùa, thiền sư mời
Học Hải toạ thiền. Rồi cả hai cùng ngồi thiền. Thiền sư rất đỗi khâm phục tư thế tọa thiền của Học Hải.
Vì Học Hải tọa thiền thật đĩnh đạc, khoan thai và không mảy may phân tâm. Thiền sư cất tiếng ngợi khen:
“Ngài còn trẻ mà đã có thể tọa thiền đĩnh đạc như thế, hẳn đã tu luyện từ lâu rồi. Xin mạn phép hỏi ngài
tu ở chùa nào vậy?” Học Hải đáp: “Bạch thiền sư, tôi chưa từng tu ở đâu cả. Nhưng thiền sư đã có lời
khen thì tôi cũng xin được kể câu chuyện xảy ra từ thời niên thiếu, khi được ông lão đoán vận hạn của
mình. Và giãi bày nỗi lòng: “Bạch thiền sư, sự thực mọi việc đều xảy ra đúng như lời ông lão: tôi làm
quan từ khi còn trẻ; thành gia thất rồi nhưng mãi vẫn chưa có mụn con nào; và lời đoán còn nói rằng tới
năm 53 tuổi tôi sẽ chết, số mệnh Trời đã định sẵn vậy rồi, nên tôi cứ thế mà sống, trong lòng chẳng còn
chút mảy may ham muốn trở nên thế này hay thế kia. Cũng vì vậy mà tôi không một chút phân tâm mỗi
khi tọa thiền”.
Nghe xong lời bộc bạch của Học Hải, sắc mặt hiền từ của vị thiền sư bỗng đanh lại. Và rồi thiền sư nổi
trận lôi đình mắng Học Hải: “Ta cứ ngỡ ngươi là một người trẻ tuổi thông tuệ, một hiền nhân đã chứng
ngộ. Hoá ra ngươi cũng chỉ là hạng tầm thường ngu dốt mà thôi.”
Rồi thiền sư dịu giọng nói tiếp: “Thật ra, ông lão nói đúng. Mỗi người đều có số phận trời định. Nhưng
chẳng có ai cam chịu số phận như thế đâu. Vẫn có câu đức năng thắng số. Nếu luôn nghĩ điều thiện, nếu
luôn làm việc thiện thì cuộc đời sẽ tốt đẹp. Nếu chỉ nghĩ điều ác và làm điều ác thì cuộc đời rồi sẽ chẳng
ra gì. Luật nhân quả đó có ở muôn vật. Biết luật nhân quả thì con người sẽ thay đổi được số phận.”
Phải là người thông minh thì Học Hải mới được bổ làm quan khi tuổi đời còn rất trẻ. Nhưng không chỉ
vậy, Học Hải còn là người biết lắng nghe ý kiến người khác.
Học Hải cảm kích ghi nhận lời dạy của vị thiền sư, đứng dậy lễ tạ và rời khỏi chùa. Về đến nhà, Học Hải
đem toàn bộ câu chuyện xảy ra trong chùa kể lại cho vợ nghe.
“Hôm nay ta tới thăm chùa. Sau khi yết kiến thiền sư thì được dạy bảo như thế… như thế… Kể từ hôm
nay, ta sẽ chỉ nghĩ điều thiện và sẽ chỉ làm việc thiện.”
Người vợ vui vẻ đáp: “nếu chàng đã suy nghĩ như vậy thì thiếp cũng sẽ theo chàng. Vợ chồng ta sẽ cố
gắng chỉ nghĩ và làm điều thiện, kể từ những việc nhỏ nhặt nhất trở đi.”
Đến đoạn này thì cuốn Âm chất lục kể sang chuyện khác, không ăn nhập gì với phần đầu. Đó là đoạn Học
Hải đổi tên thành Liễu Phàm và ghi lại những lời tâm sự với con trai mình.
“Này con trai của cha. Cuộc đời cha có nhiều điều kỳ lạ như cha đã kể cho con nghe. Kể từ khi cha tới
chùa, được thiền sư tiếp đón và chỉ dạy cho luật nhân quả, cha và mẹ con luôn tự nhủ lòng lúc nào cũng
phải nghĩ điều thiện, phải làm việc thiện. Nhờ thế mà những điều ông lão đã đoán khi cha còn nhỏ, nào là
“sẽ không có con” thì nay cha đã có con, nào là “thọ 53 tuổi” thì nay cha đã ngoài 70 tuổi rồi mà vẫn sống
khỏe mạnh.”
Cuốn Âm chất lục là một cuốn sách tôi rất thích đọc và thường hay giới thiệu cho mọi người cùng đọc.
Tôi cũng nghĩ rằng: Con người có số mệnh. Thế nhưng số mệnh không phải là thứ không thể thay đổi
được. Như câu chuyện đã chỉ ra: Nếu ta nghĩ điều thiện, nếu ta làm việc thiện thì ta sẽ có thể thay đổi
được số mệnh và biến cuộc đời ta thành một thứ còn quý giá hơn cả sự sống nữa.
Những lúc như thế, quan trọng nhất là ta phải luôn hiểu rằng: “Tất cả mọi việc xảy ra trong cuộc đời, khi
hạnh phúc, lúc bất hạnh…ều là những thử thách”. Thử thách nếu là vận may, là phúc lộc thì cứ tự nhiên
mà tiếp nhận, và hãy cảm tạ, chớ có tự mãn, đừng đánh mất lòng kiêm cung mà cứ tiếp tục cố gắng.
Ngược lại, nếu thử thách chẳng may lại là hoạn nạn thì cũng đừng có kêu than, oán hận, mà phải nỗ lực
vượt lên hoàn cảnh và hướng về phía trước.
Trong mọi hoàn cảnh, lúc thuận, lúc nghịch, lòng ta vẫn phải luôn nghĩ tới điều thiện, vẫn phải luôn nỗ
lực làm viện thiện. Đó là những gì quan trọng nhất trong cuộc đời.
CHƯƠNG MỘT
Khả năng vô hạn trong đời người
“Cuộc đời con người không bao giờ chỉ toàn vận đen. Cuộc đời con người là quá trình xen kẽ giữa cái tốt
và cái xấu. Vì thế, các bạn - những người đang gánh vác xã hội trên vai – dù gặp bất cứ cảnh ngộ nào
cũng đừng nản chí, Những nỗ lực trong khó khăn gian khổ của bạn sau này nhất định sẽ đơm hoa, kết
quả. Những nỗ lực đó sẽ làm cho cuộc sống của bạn ngập tràn hạnh phúc.Và nhất là chúng sẽ nâng cao
phẩm chất con người trong bản thân bạn.”
- INAMORI KAZUO-
Công ty Kyocera và KDDI
Sau khi tốt nghiệp đại học Kagoshima, tôi vào làm việc cho một công ty chuyên sản xuất gốm sứ cách
điện cao áp ở Kyoto. Năm 27 tuổi, tôi ra thành lập một công ty riêng, đặt tên là Kyocera. Công ty
Kyocera của tôi được lập ra thực sự là dựa vào kỹ thuật gốm sứ công nghệ cao.
Ngày nay, các loại sản phẩm điện tử như computer, tivi, video đều sử dụng những loại linh kiện do
Kyocera sản xuất. Ngoài ra, nhờ ứng dụng kỹ thuật gốm sứ công nghệ cao, công ty còn chế tạo ra các sản
phẩm hoàn chỉnh như đá quý emerald (một dạng đá tái kết tủa), xương nhân tạo, pin mặt trời, điện thoại
di động, máy in, máy ảnh kỹ thuật số
Sau khi công ty Kyocera đã đi vào hoạt động ổn định, tôi lại lập thêm công ty viễn thông DDI (hiện nay
là KDDI). Thời đó, trên thị trường Nhật Bản chỉ có một công ty viễn thông độc quyền khổng lồ: Công ty
điện thoại điện tín Nhật Bản (NTT). Cũng vì vậy mà tiền cước điện thoại điện tín khá đắt so với hiện nay.
Trong bụng tôi chỉ muốn làm sao giảm được giá cước xuống chút nào hay chút ấy. Vì thế, vào năm 1984,
khi làn sóng “tự do hóa thị trường thông tin” ập tới, tôi liền chấp nhận thách thức trong lĩnh vực này, bằng
cách lập ra một công ty viễn thông mới lấy tên là Dainidenden.
NTT lúc đó, với mạng lưới thông tin trải rộng khắp lãnh thổ Nhật Bản và các hợp đồng cung cấp thiết bị
viễn thông, có thế lực và ảnh hưởng rất lớn trên phạm vi toàn quốc.
Mặc dù đang trong thời buổi “tự do hóa thị trường”, nhưng việc lập ra một công ty viễn thông mới đối
đầu với công ty NTT khổng lồ là một việc làm hết sức mạo hiểm. Nhưng nếu công ty viễn thông mới
đứng vững được trước NTT thì cũng có nghĩa là sẽ có sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường viễn thông,
và như thế sẽ dẫn tới việc giá cước điện thoại cơ bản trên thị trường Nhật Bản giảm xuống.
Tôi lập ra công ty Dainidenden với một tâm trạng sự thực là “người mở đường”. Tiếp đến, tôi len chân
vào lĩnh vực điện thoại di động. Công ty điện thoại di động của tôi hiện nay được mọi người Nhật Bản
biết tới với thương hiệu au. Dainidenden liên doanh với công ty thông tin di động IOD của hãng Toyota
và công ty điện thoại quốc tế KDD và đổi tên thành KDDI.
Như trong lời mở đầu của cuốn sách này đã kể, tính tới thời điểm năm 2004, tổng số cán bộ công nhân
viên của tập đoàn Kyocera (kể cả trong và ngoài Nhật Bản) đã vượt quá 50 ngàn người. Doanh số của tập
đoàn trong một năm (từ tháng 3-2003 đến tháng 3-2004) là 1.140 tỷ yên. Còn doanh số của tập đoàn
KDDI là 2.850 tỷ yên. Nếu tính gộp doanh số của cả hai tập đoàn thì con số xấp xỉ 4.000 tỷ yên. Các sản
phẩm và dịch vụ do hai tập đoàn Kyocera và KDDI cung cấp có mặt trên mọi lĩnh vực đời sống và kinh
tế, giúp ích cho sự phát triển chung của cả xã hội. Tiền đóng thuế của chúng tôi góp phần nâng cao phúc
lợi công cộng.
Có thể nói cả hai tập đoàn Kyocera và KDDI do tôi lập ra giờ đây đã trở thành hai tập đoàn kinh tế khổng
lồ. Nhưng các bạn hãy cùng tôi nhớ lại lúc mới ra đời: chúng chẳng là cái gì cả. Tôi bắt đầu sự nghiệp từ
con số không. Nhưng tôi luôn tin tưởng rằng những nỗ lực của mình chắc chắn sẽ có ngày đơm hoa kết
quả. Niềm tin đó động viên tôi trong những lúc bất an, những lúc gặp khó khăn, và nó càng thúc giục tôi
phải nỗ lực không ngừng. Nhưng nếu không có những người xung quanh giúp sức thì cũng không thể có
được Tập đoàn Kyocera và KDDI như ngày hôm nay.
THỜI NIÊN THIẾU ĐA CẢM
Khả năng của con người trong suốt cuộc đời là vô hạn.
Mong sao các bạn trẻ sẽ nhận ra điều đó qua cuộc đời của tôi.
Tôi sinh ngày 21 tháng 1 năm 1932, tại quận Yakushi, thành phố Kagoshima(1). Nhưng trong sổ hộ khẩu
ghi ngày sinh của tôi là ngày 30 tháng 1. Sở dĩ như vậy là vì cha mẹ tôi phải lo chạy bữa ăn quá bận bịu
nên không thể ra ủy ban phường đăng ký khai sinh cho đúng ngày được. Nhà tôi có bảy anh chị em. Tôi
là con trai thứ trong gia đình.
1. Thành phố Kagoshima là thủ phủ tỉnh Kagoshima, ở phía nam Nhật Bản, thuộc đảo Kyushu.
Quận Yakushi nằm cạnh sông Kotsuki – dòng sông này chảy ngay dưới chân tường thành Shiroyama ở
trung tâm thành phố Kagoshima. Gia đình tôi làm nghề thủ công. Cha tôi lúc đầu làm thợ cho một xưởng
in. Sau được ông chủ xưởng nhượng lại cho một cái máy in cũ, cha tôi mới ra làm riêng và lập xưởng ở
cách nhà máy không xa. Tôi sinh ra chính trong cái xưởng in đó.
Tiếng máy in quen thuộc từ tuổi thơ ấu, giờ đây vẫn như còn văng vẳng bên tai tôi.
Cha tôi làm việc rất cần mẫn. Không quản sáng sớm đêm khuya, bao giờ ông cũng giao hàng đúng hẹn.
Khách hàng tin tưởng nên công việc mỗi ngày một nhiều. Thế nhưng, trong một lần máy bay Mỹ oanh
kích, xưởng in của cha tôi bị trúng bom. Gia đình tôi thế là trắng tay. Cha tôi là người cẩn thận, suy tính
thận trọng, ông không chịu nghe theo lời cầu khẩn của mẹ tôi đi mua máy mở lại xưởng in. Vấn đề là ở
chỗ để mua máy thì phải vay nợ khá nhiều. Với một người thận trọng hết mức như cha tôi thì dù mẹ tôi có
van nài ông cũng không “gật”. Tôi cũng thế. Tôi ghét nợ nần. Trong châm ngôn kinh doanh của công ty
tôi có câu: “Giữ chữ tín. Không vay nợ.” Có lẽ tôi giống cha tôi ở điểm này.
Các bà hàng xóm thường đến xưởng nhà tôi làm giúp. Nhiều khi công việc làm tới tận khuya cũng chưa
xong. Những ngày đó, cả nhà tôi cùng với những người làm đều quây quần bên mâm cơm tối. Mẹ tôi là
một người phụ nữ không chỉ giỏi nội trợ, mà cả việc phân công, sắp đặt việc làm cho mọi người và cũng
lo đâu vào đấy. Mẹ tôi luôn vui vẻ và không bao giờ tỏ ra yếu đuối trước nghịch cảnh. Tính cách yêu đời
và lạc quan của tôi có lẽ do được thừa hưởng “gien” của bà. Mẹ tôi cũng có nhược điểm, đó là bà rất hiếu
thắng, chẳng chịu thua kém người khác. Có lần tôi cãi nhau với lũ bạn ở ngoài đường, bị thua chạy về
nhà. Mẹ tôi liền cầm cái chổi đuổi tôi ra khỏi nhà, bà không muốn thấy con mình lại chịu thua bạn kém
bè.
Các ông chồng ở tỉnh Kagoshima vốn nổi tiếng gia trưởng, thường hay kẻ cả lên mặt dạy dỗ vợ con.
Nhưng thực ra ở trong gia đình thì khác hẳn. Đa số các bà vợ mới là bà chủ thực sự trong nhà, dù khi ra
ngoài họ vẫn giữ ra vẻ khúm núm nghe chồng một phép trước mặt người lạ. Mẹ tôi cũng là một người
phụ nữ như vậy.
Tuổi thơ của tôi có rất nhiều kỷ niệm thú vị. Tôi nhớ nhất là cái thú trèo cây hái trái mận biwa (1). Các
bạn trẻ ngày nay hầu như chẳng ai phải tự hái lấy trái biwa để ăn nữa. Còn ngày trước, trẻ con nhà quê
không đứa nào lại không biết trèo cây hái biwa. Thi thoảng có bữa nghỉ việc, cả nhà tôi kéo nhau ra đảo
Sakurajima để hái biwa. Thời đó, những vườn biwa rộng bạt ngàn còn phủ kín chân núi Sakurajima. Lũ
trẻ chúng tôi chạy ào vào vườn, đứa nào đứa nấy trèo tót lên cây, hái biwa ăn cho no căng bụng rồi mới
nhét đầy balô đem về làm quà.
1. Biwa là một loại quả vị ngọt, màu vàng sẫm, nhủ như quả mơ ở ta.
Bình thường tôi chỉ có anh tôi là bạn. Anh tôi bắt tôm, bắt cá rất giỏi. Tôi thường mang xô chậu tháp tùng
anh. Tôi hồi hộp theo dõi anh lấy vợt lùa bắt tôm, cá rồi đổ vào trong xô chậu. Có khi anh còn bắt được
con cá chép to bằng bắp tay người lớn nữa. Tôi thì chẳng bao giờ bắt được con tôm con cá nào cả. Thế
nhưng thấy lũ trẻ con hàng xóm xì xào ghen tỵ khi chúng tôi xách xô chậu đầy ắp tôm cá đi ngang thì mũi
tôi lại phổng lên vì hãnh diện. Tôi vẫn còn nhớ như in món tôm rang cả vỏ của mẹ tôi.
Tôi có nhiều kỷ niệm về mẹ. Tỉnh Kagoshima có tập quán là vào tháng 12 hàng năm, cứ đến ngày kỷ
niệm “Bốn mươi bảy nghĩa sĩ thành Akou”(1), học sinh lớp năm ở tất cả các trường tiểu học đều phải tập
trung ngồi thiền tại hội trường từ chập tối đến tận mười giờ đêm. Suốt thời gian đó, thầy hiệu trưởng đứng
trên bục đọc Truyền thuyết về bốn bảy nghĩa sĩ thành Akou cho học trò nghe. Kagoshima ở phía nam
Nhật Bản, nên mùa đông ấm hơn nhiều so với các tỉnh khác. Nhưng vào tháng 12, ban đêm trời vẫn lạnh
buốt. Thời tiết như vậy mà bọn trẻ chúng tôi phải ngồi thiền, đứa nào cũng rét run cầm cập, hai cẳng chân
tê cóng, chẳng còn lòng dạ nào mà nghe chuyện các nghĩa sĩ cả. Hết buổi, cơ thể chúng tôi gần như đông
cứng. Vừa lê thân hình lạnh giá về tới nhà đã thấy mẹ tôi ngồi đợi sẵn cùng nồi chè đậu đỏ nóng hổi. Tôi
chẳng bao giờ quên được vị chè dịu ngọt chứa đầy tình thương của mẹ. Và cũng không bao giờ quên
được cảnh mẹ tôi với khuôn mặt phúc hậu, ánh mắt yêu thương nhìn đứa con vục đầu vào bát chè ăn lấy
ăn để chẳng kịp nói một lời nào. Đến tận bây giờ, mỗi lần ngồi trước bát chè thì hình ảnh mẹ lại như hiện
ra trước mắt.
1. Truyền thuyết về bốn bảy nghĩ sĩ thành Akou: theo sách sử Nhật Bản ghi lại thì năm 1701, triều đình
Kyoto cử sứ thần Kozukennosuke mang chiếu chỉ đến thành Edo. Nghênh tiếp sứ thần Kira là Asano,
lãnh chúa vùng Akou. Trong bữa tiệc, không hiểu sao sứ thần Kira vô cớ mạt sát lãnh chúa Asano. Tức
mình, lãnh chúa Asano rút gươm ra doạ chém sứ thần Kira. Sau đó, sự kiện đến tai Shogun (Tướng quân).
Lãnh chúa Asano bị khép tôi làm nhục triều đình và chịu hình phạt tự rạch bụng tự vẫn. Để rửa hận cho
chủ, bốn bảy võ sĩ thuộc hạ của Asano đã tổ chức hạ sát và đem thủ cấp của Kira đến dân trước mộ
Asano. Kết cục là cả bốn bảy võ sĩ đều bị triều đình khép tội chết.
Trước khi vào lớp một, tôi là một đứa trẻ hay khóc nhè. Mỗi lần khóc thì phải hai ba tiếng đồng hồ sau
mới nín. Khi khóc mà không có người đến dỗ tôi lại càng làm già, lăn lộn trên nền nhà mà gào. Tính hay
hờn dỗi từ thuở thơ ấu không sao sửa hết ngay được. Đi đến trường cũng phải có người dắt. Tôi không thể
đi một mình như các bạn cùng lớp. Ở nhà thì làm mình làm mẩy, nhưng ra ngoài đường tôi lại nhát như
cáy. Ngày khai giảng, mẹ dẫn tôi tới trường nên không sao cả. Nhưng sang ngày hôm sau, khi biết phải đi
học một mình, tôi vùng vằng khóc: “Không đi học đâu, không đi học đâu”. Thế là mẹ phải dẫn tôi đến
trường suốt cả tuần lễ đầu tiên.
Đến trường được một thời gian, tôi có bạn nên đi học vui hẳn lên. Nói đúng ra là do được vui chơi nghịch
ngợm với bạn bè nên tôi thích đến trường. Thời đó làm gì có đồ chơi như bây giờ. Chúng tôi thường là rủ
nhau ra con sông gần nhà nghịch nước, bắt cá, hoặc chơi trận giả
Lúc mới vào lớp một, tôi học rất khá. Như mẹ tôi kể lại, kết quả học tập ghi trong sổ liên lạc của tôi bao
giờ cũng đạt loại giỏi. Nhưng dần dần, do mải chơi nên đến lúc tốt nghiệp tiểu học hầu như tôi chẳng để
tâm vào bài vở nữa. Cũng không thấy cha mẹ tôi la mắng gì hết. Vì thế hầu như suốt ngày tôi chỉ chơi và
nghịch ngợm.
BỊ LAO
Giờ đây nhìn lại, có thể nói trong suốt thời gian học tiểu học, tôi được sống những ngày hạnh phúc với
thiên nhiên, được thiên nhiên ôm ấp. Vào mùa hè, với cái khố quấn quanh hông, tôi lao mình xuống dòng
sông trong xanh tung tăng bơi lội. Nhô đầu lên khỏi mặt nước thì trước mắt là toà thành Shiroyama sừng
sững với rừng cây rậm rạp bao quanh. Thật khó tưởng tượng được cả một thiên nhiên trù phú lại tồn tại
ngay giữa lòng thành phố như vậy. Và tình yêu thiên nhiên đã dần hình thành trong tôi.
Vào mùa xuân năm 1944, sau khi tốt nghiệp trường tiểu học Nishida, tôi dự thi vào trường trung học nổi
tiếng trong vùng không chút do dự – đó là trường trung học số 1 Kagoshima. Khi đó, tôi chỉ nghĩ đơn
giản là cho dù hồi tiểu học kết quả cứ kém dần, nhưng nhiều đứa trong lớp sức học còn kém tôi xa mà
cũng thi vào trường này, thế thì chỉ cần mình cố một tý trong khi thi làm gì mà chẳng đỗ.
Thế nhưng tôi trượt vỏ chuối, đúng như thầy chủ nhiệm đã đe: “Học hành ấm ớ như cậu làm sao đỗ
được!”. Mà chỉ một mình tôi bị trượt. Tất cả những đứa khác, từ những thằng bạn thân nhất đến mấy đứa
con nhà giàu – tôi vốn không ưa chúng – bọn chúng học hành có hơn gì tôi, nhưng chúng đều đỗ cả.
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành phải đi học trường tiểu học bậc cao để chờ sang năm thi lại. Tuy đã tự
an ủi mình, nhưng mỗi khi thấy lũ bạn ngày xưa nay xúng xính bộ đồng phục trung học thật oách sánh vai
tới trường, tôi lại thấy tủi thân quá. Chẳng hiểu có phải vì cứ tự dằn vặt mình quá hay không, nhưng đến
cuối năm học trường tiểu học bậc cao thì tôi bị lao.
Một ông chú ruột tôi làm cảnh sát ở vùng Mãn Châu, Trung Quốc – khi về phép chú đến ở nhà tôi. Có lẽ
tôi bị lây rận từ chú tôi thì phải, nên ngứa ngáy khắp người. Cuối cùng tôi phải nằm liệt giường vì sốt li
bì. Nếu bị lao thì gay to. Mẹ tôi lo quá, đưa tôi đi khám bác sĩ. Bác sĩ chẩn đoán tôi bị nhiễm lao giai đoạn
đầu.
Tôi lo lắng như vậy là có nguyên do. Hai vợ chồng chú tôi, ở cách nhà tôi chỉ mấy bước chân, cũng đã
chết vì bệnh lao. Ngay cả chú út của tôi cũng đang phải chạy chữa vì bị ho ra máu. Thời đó, lao là thứ
bệnh nan y. Những nhà có người mắc bệnh lao, vì không muốn hàng xóm xì xào, nên cứ phải đóng cửa
im ỉm suốt ngày tự lo chạy chữa lấy.
Về phần tôi, vừa sốt li bì vừa lo sợ không yên. “Nếu cứ ho ra máu suốt như chú tôi thì chẳng mấy mà
mình chỉ còn da bọc xương, chắc ” – tôi không dám nghĩ tiếp. Một hôm bà hàng xóm cạnh nhà nói vọng
qua bức tường rào: “Này cậu, thử đọc cuốn này xem sao?” Rồi bà ta đưa cho tôi một cuốn sách dày cộp,
bìa da sờn cũ. Tựa sách ngoài bìa in nhũ vàng Chân tướng Cuộc đời, do một nhà truyền giáo tên là
Taniguchi Masaharu(1) viết.
Mặc dù biết đây là sách dành cho người lớn, nhưng trong tâm trạng nghĩ mình sắp chết, nên tôi vẫn đọc
ngấu đọc nghiến. Trong cuốn sách có đoạn: “Trong trái tim của chúng ta có một cục nam châm cực mạnh.
Cục nam châm này hút tất cả những gì có xung quanh nó, như dao kiếm, súng lục, tai họa, thất nghiệp,
bệnh tật ”. Đọc tới đó tôi liền nhớ ngay đến trường hợp của mình.
1. Taniguchi Masaharu (1893 – 1985): nhà sáng lập giáo phái Seicho no ie (Ngôi nhà sinh thành) ở Nhật
Bản. Sau ki thôi dạy môn thần học ở trường Đại học Waseda, ông bắt đầu hoạt động tôn giáo. Cuốn Chân
tướng Cuộc đời là một tác phẩm nổi tiếng của ông.
Cứ mỗi khi phải đi ngang qua góc nhà nơi chú tôi bị lao nằm đó, tôi lại lấy hai tay bịt mũi chạy bán sống
bán chết, chỉ sợ hít phải vi trùng lao. Trước đây tôi có đọc một cuốn sách y khoa, trong đó viết rằng vi
trùng lao có thể lây qua đường hô hấp. Cho nên lần nào tôi cũng lấy cả hai tay bịt chặt lấy mũi rồi mới ù
té chạy qua. Nhưng do còn quá nhỏ, chẳng có kinh nghiệm gì, nên tôi thường nín thở và bịt mũi sớm quá.
Vì vậy, lẽ ra khi đến gần chỗ chú tôi nằm mới cần phải bịt mũi và nín thở thì lúc ấy tôi lại phải buông tay
ra vì tức thở. Và thế là tôi lại hít lấy hít để không khí ở đó.
Nhưng không như tôi, anh tôi lại chẳng sợ gì cả: “Vi trùng lao có dễ lây như mày nghĩ đâu”. Và cả cha tôi
nữa, hàng ngày ông vẫn bình thản ra vào chăm sóc chú tôi. Khi biết chú tôi khó lòng qua khỏi, cha tôi
mới căn dặn mẹ tôi: “Bà cứ để chú ấy cho tôi lo. Bà không phải chăm sóc nữa. Và cũng đừng vào chỗ chú
ấy nằm nữa.” Bệnh lao khi đã vào giai đoạn cuối thì vi trùng lao sinh sôi rất nhiều. Cha tôi cũng biết điều
đó. Nhưng ông vẫn bình thản như không. Và cả anh tôi cũng vậy. Chỉ có tôi, lúc nào cũng cẩn thận phòng
ngừa ngay từ đầu, phòng ngừa hơn ai hết thì lại bị nhiễm lao.
Tôi thầm trách mình: Phải chăng chỉ vì tôi nhút nhát, lại lúc nào cũng chỉ nghĩ tới mình, lúc nào cũng sợ
bị lây, nên mới rơi vào cái cảnh sợ của nào trời trao của đó?
Trong khi đó, cha tôi với tình thương em sâu xa, bất chấp hiểm nguy vẫn chăm sóc chú tôi cho tới phút
cuối cùng. Nhưng vì thế vi trùng lao lại né, không bám vào ông. Còn tôi, một kẻ chỉ nghĩ tới mình, tìm
mọi cách tránh xa thì vi trùng lao ào tới bám lấy. Khi đó tôi còn rất nhỏ, nhưng cũng thấy ra được nhiều
bài học từ sự việc trên, và tự tỉnh ngộ đến tận bây giờ.
Việc tình cờ đọc cuốn Chân tướng Cuộc đời của ông Taniguchi quả thực là bước ngoặt làm thay đổi đầu
óc tôi. Nó khiến tôi phải nghĩ mãi về chữ “tâm” trong bản thân mình.
Bây giờ nhớ lại, mới thấy ông Trời đã có ý thử thách tôi bằng việc bị mắc bệnh lao. Ông Trời đã ban cho
tôi một trải nghiệm quý giá, song lúc đó tôi quá lo lắng, quá sợ hãi khi phải chứng kiến cái chết của chú út
tôi và của vợ chồng chú tôi trước đó nữa. Nhưng có lẽ tôi được cứu thoát vì tâm hồn tôi đã có sự thay đổi
sau khi đọc cuốn sách.
Máy bay Mỹ ném bom ngày càng khốc liệt, không nhà nào có thể sống yên một chỗ. Để tránh bom, mọi
người phải đi tản cư, chạy trốn hết chỗ này đến chỗ khác. Khi cứ phải gắng sức mà chạy trốn như thế,
người ta bỗng quên hết bệnh tật, trở nên mạnh khỏe lúc nào không hay.
NGƯỜI THẦY TẬN TÌNH
NHỮNG TRẬN KHÔNG KÍCH DỮ DỘI
Sang đầu năm 1945, còi báo động mỗi khi máy bay Mỹ bay vào vùng trời tỉnh Kagoshima cứ rú lên
không ngớt. Chính vào thời điểm căng thẳng đó, bỗng một hôm, thầy Doi – giáo viên chủ nhiệm của tôi -
đến nhà và thuyết phục cha mẹ tôi: “Các bác nên cho cháu Inamori thi vào trường trung học số 1
Kagoshima một lần nữa, vì cháu có khả năng…”. Không những thế, thầy Doi còn giúp đỡ tôi rất tận tình.
Thấy tôi còn rất yếu vì bệnh lao, thầy giúp tôi mang đơn xin dự thi đến trướng trung học số 1 để nộp. Rồi
đến ngày thi, thầy còn đến dìu tôi đến tận phòng thì…
Tuy vậy, đến ngày công bố kết quả, vẫn không có tên tôi trong danh sách các thí sinh đỗ vào trường dán
trên bảng thông báo. Tôi tuyệt vọng về nhà, nằm vật ra giường. Cơn sốt vẫn chưa dứt. Tiếng còi báo động
vẩn vang lên rền rĩ. Thầy Doi đến nhà động viên tôi: “Đàn ông, con trai thì không được nản chí. Vẫn còn
những con đường khác để đi…”. Thầy tiếp tục giúp tôi nộp đơn thi vào trường trung học tư thục
Kagoshima. Nhưng tâm trạng của tôi khi ấy chỉ muốn từ chối vì đã đi thi hai lần và cả hai lần đều hỏng.
Hơn nữa tôi đang ốm. Bố mẹ tôi cũng tuyệt vọng: “Đến nước này rồi thôi thì đành để nó kiếm việc đi
làm vậy.”. Nhưng thấy thầy tận tình quá, tôi cũng đồng ý đi thi lần nữa. May sao, lần này tôi đỗ. Thế là
tôi đã có thể lên học trung học.
Nếu không có thầy Doi thì không biết tương lai của tôi rồi ra sao? Nhờ tấm lòng và sự động viên của
thầy, mùa xuân năm 1945, tôi đã vào được trường trung học Kagoshima. Tôi học chậm một năm so với
bạn bè cùng lứa.
Nhưng, nửa đầu năm 1945 cũng là lúc chiến tranh sắp kết thúc nên những cuộc oanh kích của máy bay
Mỹ rất dữ dội. Trong hoàn cảnh bom đạn như thế, chẳng ai còn bụng dạ nào để mà học hành cả. Nhất là
trận ném bom “rải thảm” của máy bay B.29, khiến nửa thành phố Kagoshima chìm trong biển lửa. Trước
đó hai ngày, chú út của tôi cũng qua đời khi bệnh lao vào gian đoạn cuối. Người chú tôi chỉ còn da bọc
xương. Mỗi khi cha tôi dìu chú ra hầm trú ẩn, chú lại thều thào: “Thôi, không phải đưa em ra hầm nữa. Vi
trùng lây sang các cháu thì khổ. Cứ để mặc em nằm trong nhà. Anh cứ xuống hầm với các cháu đi.” Khi
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét