Thứ Năm, 23 tháng 1, 2014

chất lượng dịch vụ chứng khoán đối với khách hàng VIP của Công ty CP chứng khoán Hà Nội

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng số 1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của CTCK Hà Nội trong 2 năm
2007 và 2008 44
Bảng 2: Các chỉ tiêu tài chính cơ bản trong 2 năm 2007 và 2008 44
Bảng 3: Số lượng tài khoản mở tại CTCK Hà Nội qua các tháng: 49
Biểu đồ 1: Số lượng tài khoản toàn Công ty và khách hàng VIP 50
Biểu đồ 2: Số lượng tài khoản VIP mở tại CTCK Hà Nội 51
Bảng 4: Giá trị giao dịch của toàn Công ty và của khách hàng VIP 52
Biểu đồ 3: Giá trị giao dịch toàn Công ty và khách hàng VIP 53
Biểu đồ 4: Giá trị giao dịch của khách hàng VIP 53
Biểu đồ 5: Giá trị giao dịch khách hàng VIP so với toàn Công ty tính đến tháng
4/2008 54
Bảng 5: Biểu phí giao dịch chứng khoán của CTCK Hà Nội: 57
Bảng 6: Biểu phí giao dịch chứng khoán của CTCK Sài Gòn 58
5
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài: Thị trường chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt
động được gần 8 năm và đang từng bước khẳng định mình trong nền kinh tế
thị trường, góp vào thành công trên lĩnh vực kinh tế Việt Nam trong những
năm qua. Khuyến khích phát triển thị trường tài chính nói chung và thị trường
chứng khoán nói riêng là chủ trương mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, nó cũng
phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế tất yếu của Việt Nam khi đã trở thành
thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Sự lớn mạnh của thị trường chứng khoán gắn liền với hoạt động của các
Công ty chứng khoán mang lại những dịch vụ thiết yếu hỗ trợ các nhà đầu tư
và góp phần không nhỏ vào việc điều tiết nền kinh tế. Các dịch vụ chứng
khoán trên thị trường không ngừng được nâng cao chất lượng nhằm thỏa mãn
nhu cầu nhà đầu tư.
Trong điều kiện hiện nay, sự cạnh tranh giữa các CTCK ngày càng mạnh
mẽ. Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì Công ty Hà Nội Nội cần những chiến
lược cụ thể để nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút khách hàng, đặc biệt là
những khách hàng lớn và thân thiết (Khách hàng VIP).
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đưa ra một số giải pháp để nâng cao
chất lượng dịch vụ chứng khoán của Công ty chứng khoán Hà Nội thông qua
đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bên cạnh việc nâng cấp cở sở vật chất và
công nghệ phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Lịch sử giải quyết vấn đề: Đây là vấn đề còn mới và đang được các Công
ty tập trung giải quyết, trong đó có CTCK Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu: Lấy cơ sở thực tiễn quá
trình hoạt động kinh doanh, hoạt động đào tạo và phát triển cùng với các hoạt
động bổ trợ khác để nghiên cứu các mối quan hệ giữa chúng để đưa ra các
giải pháp phù hợp. Đề tài tập trung giải quyết vấn đề đặt ra thông qua nhóm

6
giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ môi giới, tư vấn chứng khoán và các
giải
pháp marketing dành cho khách hàng VIP tại Công ty Chứng khoán Hà Nội.
Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê,
so sánh, tổng hợp nhằm phân tích mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội và khó khăn …
để giải quyết vấn đề đặt ra của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội.
Trên cơ sở những kiến thức được trang bị trong nhà trường, hiện trạng
hoạt động môi giới chứng khoán dành cho khách hàng VIP tại CTCK Hà Nội,
cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Ths. Nguyễn Thuy Thủy, tôi đã
chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chứng khoán
đối với khách hàng VIP của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội” làm
luận văn tốt nghiệp.
Ngoài phần “Mở đầu” và “Kết luận”, cấu trúc của Luận văn gồm 3 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ chứng khoán đối với khách hàng VIP
của các Công ty chứng khoán.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ chứng khoán dành cho khách hàng VIP
của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà Nội.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ
chứng khoán dành cho khách hàng VIP của Công ty Cổ phần Chứng khoán Hà
Nội.

7
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CHỨNG KHOÁN
ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG VIP CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1.1. Công ty chứng khoán và vai trò của các công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của công ty chứng khoán
 Khái niệm:
CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao
gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng
khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.
 Đặc điểm CTCK:
Hoạt động của CTCK tuân thủ theo luật doanh nghiệp và luật chứng khoán, do đó
CTCK có những đặc điểm đặc trưng sau:
• Là loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh chứng khoán.
• CTCK phải có vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định
thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ.
• Giấy phép hoạt động do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp.
• CTCK chỉ được kinh doanh những hoạt động đã đăng ký với UBCK
• CTCK hoạt động dưới sự giám sát của UBCKNN.
• Các tổ chức và các cá nhân sáng lập CTCK phải đảm bảo yêu cầu tối thiểu về
cơ sở vật chất cho CTCK.
1.1.2. Vai trò, chức năng của công ty chứng khoán
 Vai trò của công ty chứng khoán: Hoạt động của TTCK trước hết cần
những người môi giới trung gian, đó là CTCK - một định chế trên TTCK, có
nghiệp vụ chuyên môn, đội ngũ nhân viên lành nghề và bộ máy tổ chức phù
hợp để thực hiện vai trò trung gian môi giới mua bán chứng khoán, tư vấn đầu

8
tư và thực hiện một số dịch vụ khác cho cả nhà đầu tư lẫn tổ chức phát hành.
Cụ thể, CTCK có những vai trò quan trọng sau:
 Đối với các tổ chức phát hành: Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ
chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán.
Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK
có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian.
Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua
bán trực tiếp CK mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện
vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc
này, CTCK đã tạo ta cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua TTCK.
 Đối với nhà đầu tư: Thông qua hoạt động như môi giới, tư vấn, quản lý danh
mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó
nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hóa thông thường, mua bán
qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên,
đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như
mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và
thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các
CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà
đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
 Đối với thị trường chứng khoán: CTCK thể hiện hai vai trò chính:
• Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng
khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng,
người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia
trực tiếp vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị
trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá.
Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá
đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự
tham gia định giá của các CTCK.

9
Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường. Để bảo vệ
những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều CTCK đã
giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
• Thứ hai, các CTCK góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài
chính. TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các tài sản
chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế
giao dịch trên thị trường. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo
lãnh phát hành, chứng khoán hóa, các CTCK không những huy động một lượng vốn
lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh
khoản của các tài sản chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ
được mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý
yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và
bán các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt va ngược
lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản chính.
 Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin
về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các
CTCK thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành
cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực
hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các
thông tin cần phải được công khai hóa dưới sự giám sát của các cơ quan quản
lý thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp,
vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và
công khai trong hoạt động. Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm
thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu,
trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông
tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện
tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường.
Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên TTCK, có vai trò cần thiết và
quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với các cơ quan quản lý thị

10
trường và đối với TTCK nói chung. Những vai trò này được thể hiện thông qua các
nghiệp vụ hoạt động của các CTCK.
 Chức năng của công ty chứng khoán:
CTCK là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các CTCK mà chứng khoán được lưu
thông từ nhà phát hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động
nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi sử dụng có hiệu quả. Cụ thể,
CTCK có những chức năng cơ bản sau:
 Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người
sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành).
 Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc khớp
lệnh).
 Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra
tiền mặt và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng).
 Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh hoặc
vai trò nhà tạo lập thị trường).
1.2. Các nghiệp vụ chứng khoán của công ty chứng khoán
1.2.1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
 Khái niệm môi giới chứng khoán:
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán cho khách
hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận lệnh mua, bán chứng khoán của khách
hàng, chuyển các lệnh mua bán đó vào Sở giao dịch chứng khoán và hưởng hoa
hồng môi giới.
Ở Việt Nam, theo Luật chứng khoán thì nghiệp vụ môi giới chứng khoán là hoạt
động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa
hồng.

11
 Các loại môi giới chứng khoán:
Các nhà môi giới chứng khoán có thể tiến hành hoạt động môi giới ngay tại
CTCK hoặc trên thị trường OTC.
 Môi giới trên thị trường chứng khoán tập trung (Sở giao dịch): Các nhà môi
giới sẽ tiến hành mua bán chứng khoán được niêm yết trên Sở giao dịch chứng
khoán TP. Hồ Chí Minh (hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội) trên
cơ sở nhận lệnh của khách hàng và nhập lệnh vào trung tâm để tìm đối tác phù
hợp. Chứng khoán được bán hay mua phụ thuộc vào kết quả so khớp lệnh
giữa các quyết định từ các nhà đầu tư thông qua các CTCK.
 Môi giới trên thị trường chứng khoán OTC:
• Nếu CTCK là nhà tạo lập thị trường thì hoạt động môi giới cổ phiếu sẽ được
diễn ra tại công ty. Tại đây, CTCK sẽ trực tiếp thương lượng và thoả thuận giá
cổ phiếu của khách hàng.
• Nếu CTCK không phải là nhà tạo lập thị trường thì CTCK sẽ liên hệ với nhà
tạo lập thị trường. Bộ phận giao dịch của công ty sẽ liên hệ với nhà tạo lập thị
trường khác thông qua hệ thống báo giá cấp 2 để quyết định mức giá chào bán
và đặt mua cổ phiếu đó.
 Quy trình môi giới chứng khoán:
Quy trình hoạt động môi giới chứng khoán là các bước công việc mà bộ phận
môi giới, các nhân viên môi giới phải làm để thực hiện hoạt động môi giới. Mỗi bước
công việc có sự phân công cụ thể về nhân sự và trách nhiệm của từng người. Mỗi
CTCK tùy theo yêu cầu, đặc điểm riêng mà có quy trình nghiệp vụ môi giới khác
nhau nhưng nhìn chung về nội dung cơ bản thì có sự giống nhau với các bước:
 Tìm kiếm khách hàng: Bộ phận môi giới phải xác định khách hàng của mình
là ai, đối tượng cần quan tâm đến là như thế nào sau đó có thể phân loại để
mỗi nhân viên phụ trách riêng, tự tìm khách hàng riêng, khách hàng tiềm năng
cho mình hay cho chính công ty. Đối với hoạt động tìm kiếm khách hàng thì
hoạt động marketing, quảng cáo, tiếp thị chiếm vị trí quan trọng.

12
Sàng lọc khách hàng, chọn ra khách hàng tiềm năng và cố gắng để tiếp xúc
với họ: Nhà môi giới có danh sách khách hàng mục tiêu với các nguồn thông tin sơ
bộ về tình hình tài chính, nhu cầu, mức độ quan tâm của họ tới TTCK. Từ đó, nhà
môi giới sẽ phải phân loại, lựa chọn khách hàng tiềm năng nhất và tìm cách để tiếp
xúc và trao đổi với họ.
Tìm hiểu cụ thể nhu cầu, mục tiêu tài chính, khả năng chấp nhận rủi ro của
khách hàng: Nhà môi giới cần có khả năng giao tiếp tốt, cần vận dụng linh hoạt các
kỹ năng nghề nghiệp của mình, đặc biệt là khả năng khai thác thông tin thì mới có
thể thành công khi gặp gỡ khách hàng.
Khuyến nghị các dịch vụ đáp ứng cao nhất nhu cầu, mục tiêu của khách hàng:
Trên cơ sở về mục tiêu tài chính, nhu cầu của khách hàng, dựa vào khả năng truyền
đạt thông tin, kỹ năng thuyết phục khách hàng của nhà môi giới để cung cấp cho
khách hàng các dịch vụ.
Cung cấp các dịch vụ khi khách hàng đã chấp nhận và những dịch vụ sau
bán hàng: Nhà môi giới mở tài khoản cho khách giao dịch, tư vấn, đưa lời khuyến
nghị khách mua, bán chứng khoán kết hợp sử dụng các dịch vụ kèm theo của công
ty. Nhà môi giới còn theo dõi tài khoản cho khách hàng, theo dõi diễn biến thị
trường để đưa ra những lời khuyến cáo hợp lý, chăm sóc khách hàng chu đáo.
Ngoài công việc chính trên, nhân viên môi giới còn có các công việc khác như:
•Nhận lệnh giao dịch cho khách hàng
•Nhận, giao chứng khoán và tiền cho khách kể cả cổ tức, tiền do mua bán chứng
khoán, lưu ký chứng khoán…
• Theo dõi hoạt động của tài khoản, xử lý kế toán cho tài khoản tiền mặt thường
do kế toán giao dịch đảm nhiệm.
•Giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng, xử lý các khiếu nại.
•Nghiên cứu thị trường, phân tích, đưa ra các báo cáo khuyến nghị mua, bán,
cung cấp dịch vụ phù hợp.
1.2.2. Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán

13
 Khái niệm:
Tự doanh là việc CTCK thường xuyên tham gia vào các hoạt động mua và
bán chứng khoán cho chính mình. Hoạt động tự doanh là hoạt động mua đi bán
lại chứng khoán, nói cách khác là hoạt động kinh doanh nhằm thu chênh lệch giá
(mua thấp bán cao). Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện qua cơ chế
giao dịch trên SGDCK, TTGDCK hoặc trên thị trường phi tập trung OTC. Trên
thị trường OTC, các hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện trực tuyến
giữa các công ty đối tác.
 Mục đích của hoạt động tự doanh chứng khoán:
Đối với các CTCK mục đích của hoạt động tự doanh là thu chênh lệch giá chứng
khoán cho chính mình. Bên cạnh đó, hoạt động tự doanh còn nhằm mục đích dự trữ,
trong trường hợp có sai sót xảy ra khi thực hiện lệnh cho khách hàng.
 Yêu cầu của hoạt động tự doanh:
Đối với CTCK, yêu cầu khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh là:
 Tách biệt quản lý: Khi CTCK đồng thời thực hiện hai nghiệp vụ môi giới
chứng khoán và tự doanh thì phải tách biệt để đảm bảo tính minh bạch trong
hoạt động (tách bạch về con người, quy trình nghiệp vụ, vốn và tài sản).
 Ưu tiên khách hàng: Tức là thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng trước
khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều này đảm bảo tính công bằng trong
giao dịch chứng khoán khi mà các CTCK có nhiều lợi thế hơn khách hàng về
tìm kiếm thông tin và phân tích thị trường.
 Góp phần bình ổn giá thị trường: Để góp phần bình ổn thị trường, CTCK
phải thực hiện giao dịch theo luật định trong giới hạn mà luật pháp cho phép,
tức là mua vào và bán ra chứng khoán trong giới hạn quy định của luật pháp
nhằm góp phần bình ổn giá thị trường.
 Hoạt động tạo lập thị trường: Các CTCK khi thực hiện tự doanh đối với
chứng khoán mới phát hành và chưa có thị trường giao dịch, nhằm tạo ra thị
trường giao dịch cho chúng.

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét