http://www.ebook.edu.vn
PHẦN I: LÝ THUYẾT THUỐC THỬ HỮU CƠ
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
1. ĐỊNH NGHĨA
Một hợp chất hoá học được sử dụng để phát hiện, xác định hay để tách trong quá trình
phân tích hoá học một chất hay hỗn hợp của nhiều chất được gọi là thuốc thử phân tích.
Do đó thuốc thử phân tích bao gồm cả những chất chỉ thị, chất điều chỉnh pH, dung d
ịch
rửa kết tủa…
Vậy một hợp chất chứa carbon (CO
2
, CO, CaCO
3
) bất kỳ hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
được sử dụng trong hoá phân tích được gọi là chất phản ứng phân tích hữu cơ hoặc gọn hơn
là thuốc thử hữu cơ.
Nghiên cứu phản ánh giữa thuốc thử hữu cơ với ion vô cơ và ứng dụng nó vào phân tích
thực chất là nghiên cứu quá trình tạo phức. Sự phát triển lý thuyết hoá học trong những năm
gần đây và
đặc biệt là sự ứng dụng thuyết trường phối tử vào việc nghiên cứu các kim loại
chuyển tiếp và phức của chúng đã giúp các nhà khoa học nói chung và phân tích nói riêng
hiểu sâu sắc những yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của phức chất, bản chất phổ hấp thụ của
chúng và những tính chất qúy giá khác. Chúng ta sẽ nghiên cứu thuốc thử hữu cơ trong
khung cảnh của những lý thuyế
t hiện đại này.
2. ƯU ĐIỂM CỦA THUỐC THỬ HỮU CƠ SO VỚI THUỐC THỬ VÔ CƠ
Thuốc thử hữu cơ có một số ưu điểm nổi bật so với thuốc thử vô cơ; vì vậy nó được sử
dụng rất rộng rãi trong thực tế của hoá phân tích.
1. Trước hết cần chú ý đến độ tan rất nhỏ của hợp ch
ất tạo bởi thuốc thử hữu cơ và ion
vô cơ. Vì vậy, người ta có thể rửa kết tủa cẩn thận để tách hết các chất bẩn mà không
sợ mất đi một lượng đáng kể ion cần xác định. Ngoài ra, hiện tượng kết tủa theo khi
dùng thuốc thử hữu cơ cũng chỉ rất ít.
2. Thuốc thử hữu cơ thường có trong lượng phân tử lớ
n do đó thành phần phần trăm
của ion được xác định trong hợp chất tạo thành với thuốc thử hữu cơ bao giờ cũng
thấp hơn trong bất kỳ hợp chất nào tạo thành bởi thuốc thử vô cơ.
Ví dụ:
Ion cần
Xác định
Hợp chất tạo thành giữa
Ion cần xác định với thuốc
thử
Thành phần % của ion
cần xác định trong hợp ch
ất tạo thành với thuốc
thử
Al3+
Oxyt nhôm
Oxyquinolinat nhôm
53,0
5,8
Tl+
Iodua Tali
Thionalidat tali
61,7
48,6
Thành phần phần trăm của ion được xác định thấp trong sản phẩm cuối cùng làm giảm
sai số tính toán, nghĩa là làm tăng độ chính xác của phương pháp phân tích. Mặt khác thể
http://www.ebook.edu.vn
tích kết tủa tạo thành bởi thuốc thử vô cơ (khi kết tủa 1 lượng ion cần xác định như nhau) do
đó độ nhạy của phản ứng tăng lên.
1. 3- Sản phẩm màu của thuốc thử hữu cơ với ion vô cơ, có cường độ màu lớn và trong
nhiều trường hợp có cường độ phát hùynh quang lớn, do đó người ta có thể phát hiện
cả những lượng vô cùng nhỏ ion vô cơ và
định lượng chúng bằng phương pháp đo
màu hoặc đo huỳnh quang một cách thuận lợi.
Thêm vào đó, những sản phẩm màu phần lớn là những hợp chất nội phức nên khá bền và dễ
chiết bằng dung môi hữu cơ lại là những thuận lợi khác rất đáng kể.
4- Cuối cùng cần chỉ ra rằng, do sự khác biệt của rất nhiều loại thuốc thử hữu cơ
nên người
ta có thể chọn trong mỗi trường hợp riêng biệt, thuốc thử thích hợp nhất và tìm những điều
kiện thuận lợi nhất cho phản ứng tiến hành và do đó phản ứng phân tích đạt độ nhạy và độ
lựa chọn cao.
3. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH CƠ BẢN CỦA THUỐC THỬ HỮU CƠ
Khi nghiên cứu các thuốc thử hữu cơ người ta thường quan tâm đế
n các tính chất sau đây:
Độ tinh khiết: Trừ một số ít thuốc thử, hầu hết các hợp chất hữu cơ trên thị trường là không
tinh khiết. Tuỳ theo mỗi trường hợp, có thể yêu cầu được làm sạch. Ví dụ: Chloranil như là
một thuốc thử dịch chuyển điện tích với amino acid nên phải làm sạch trước khí sử dụng.
Đây là yêu cầu đầu tiên trong nghiên cứu các thuốc thử hữu cơ.
Độ tan: Độ tan của thuốc thử trong dung môi nào sẽ quyết định phương pháp phân tích của
thuốc thử ấy. Biết được độ tan chúng ta sẽ chủ động trong nghiên cứu.
Ví dụ: EDTA không tan tốt trong nước (môi trường trung tính). Để thay đổi độ tan của nó
thì cần trung hòa bằng một baz. 8-Hydroxyquinoline tan yếu trong nước, nó thường không
tan trong acid acetic ở dạng băng và pha loãng bằng nước, nếu phối tử hay phức của nó
không tan trong nước.
Áp suất hơi: Mộ
t phức có thể có áp suất hơi cao hơn các phức khác. Những dẫn xuất của
metoxy hay etoxy có áp suất hơi cao hơn những hợp chất “bố mẹ” của chúng. Dựa trên sự
khác nhau về áp suất hơi của các phối tử hay phức của chúng, một số chất được tách bằng
phương pháp sắc khí phổ.
Độ bền: Một số phức chelate rất bền trong dung môi trơ khi phức hình thành. Tuy nhiên,
một số ph
ức bền với nhiệt được tách bằng phương pháp chưng cất mà không bị phân huỷ.
Một vài phức nhạy với ánh sáng và không khí thì phải được bảo quản cẩn thận.
Độ phân cực: Độ phân cực của một phân tử cho biết độ tan của nó trong dung môi. Một
phân tử phân cực sẽ có thuận lợi trong dung môi chiết. Bên cạnh đó, sự tách dựa trên sự
phân cực hay không phân cực của phân tử chất được chi
ết được sử dụng một cách rộng rãi.
4. HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA THUỐC THỬ HỮU CƠ
Hiện nay, nghiên cứu thuốc thử hữu cơ đi vào các lĩnh vực chính sau đây:
1. Tổng hợp những thuốc thử hữu cơ mới.
2. Tìm các phương pháp phân tích mới theo hướng đơn giản, nhạy và chọn lọc.
3. Nghiên cứu tác động của các nhóm chức.
4. Nghiên cứu cấu trúc của thuốc thử
.
5. Nghiên cứu động học phản ứng.
http://www.ebook.edu.vn
6. Phức nhựa cây hữu cơ.
7. Các nhóm chiết.
8. Máy tính và chuyển hóa furier.
9. Nghiên cứu phức dịch chuyển điện tích.
10. Thuốc thử cho sự phát huỳnh quang và phát quang hóa học.
11. Chất họat động bề mặt.
12. Nghiên cứu trạng thái oxy hoá.
http://www.ebook.edu.vn
CHƯƠNG I: PHÂN LOẠI THUỐC THỬ HỮU CƠ
Thuốc thử hữu cơ bao gồm rất nhiều loại nên cần thiết phải hệ thống hoá chúng.
I.1. SỰ BẤT HỢP LÝ CỦA CÁCH PHÂN LOẠI TRONG HOÁ HỮU CƠ
Người ta có thể phân loại thuốc thử hữu cơ theo nguyên tắc rất đơn giản, đó là nguyên
tắc phân loại trong hoá hữu cơ (theo các nhóm chức).
Sự phân loại này chỉ thuận lợi khi nghiên cứu những hợp chất đơn giản còn khi nghiên
cứu những hợp chất phức tạp nó tỏ ra không đáp ứng được yêu cầu và còn chứa nhiều mâu
thuẫn.
Theo sự phân loại đó thì những acid phenol carboxylic ở trong cùng mộ
t nhóm còn
những dihydroxybenzene thuộc về một nhóm khác.
So sánh m– và o–hydroxybenzoic acid với m– và o–dihydroxybenzene người ta thấy
rằng m–hydroxybenzoic acid và m–dihydroxybenzene (Resocsin) có rất ít tính chất phân
tích giống với o–hydroxybenzoic acid (salicylic acid) và o–dihydroxybenzene
(Pyrocatechin). Trong khi đó đặc tính phân tích của salixilic acid và Pyrocatesin lại rất gần
nhau. Sự đồng nhất tính chất phân tích trong trường hợp này không phải là do trong phân tử
có những nhóm chức như nhau mà do Pyrocatesin và salicylic acid cùng có khả năng tạo nội
phức lớn (nhờ nhóm tạo phức và nhóm tạo muối ở vị trí ortho đối với nhau).
Ví d
ụ: chất màu
NN
O
2
N
OH
Phản ứng với hydroxide magie trong môi trường kiềm còn chất màu
NN
OH
O
2
N
.
Mặc dù cùng loại với hợp chất trên nhưng không cho phản ứng ấy.
Theo tính chất phân tích thì 8–oxyquinoline (I) và Anthranilic acid (II) tương đối gần
nhau hơn so với 8–oxyquinoline (I) và 7–oxyquinoline (III) hoặc là so với antharanilic acid
(II) và Paraaminobenzoic acid (IV)
OH
NH
2
COOH
NH2
H
2
N
COOH
OH
NH2
(I) (II) (III) (IV)
http://www.ebook.edu.vn
Những dẫn chứng đã nêu trên chứng tỏ rằng cách phân loại thường dùng cho các hợp
chất hữu cơ, thì căn cứ vào các nhóm chức trong phân tử thuốc thử để phân loại là không
hợp lý.
I.2. PHÂN LOẠI THEO PHẢN ỨNG PHÂN TÍCH MÀ THUỐC THỬ
THAM GIA
Theo sự phân loại này, thuốc thử hữu cơ được chia thành 9 nhóm.
1) Những chất tạo phức màu
2) Những chất tạo muối
3) Những chất có khả năng tạo những hợp chất cộng hợp ít tan hoặc có màu đặc trưng.
4) Những chất chỉ thị
5) Những chất màu tạo phức hấp thụ (sơn)
6) Những thuốc thử gây nên sự tổng hợp hữu cơ trong ph
ản ứng, ứng dụng vào phân tích.
7) Những thuốc thử có khả năng tạo phức vòng với ion kim loại (vòng theo thành hoặc là do
liên kết hoá trị, liên kết phối tử hoặc là hỗn hợp cả hai loại này).
8) Những chất oxy hoá
9) Những chất khử.
Hệ thống phân loại này cũng mang nhiều mâu thuẫn nội tại:
1- Một chất có thể có trong những nhóm phân loại khác nhau.
Ví dụ: Alizarin có thể ở cả nhóm 5 và nhóm 7. Dipyridin c
ũng có thể ở cả nhóm 1 và
nhóm 7.
2- Tác dụng của những thuốc thử trong cùng một nhóm với những ion vô vơ lại có
những đặc tính khác nhau về nguyên tắc.
Ví dụ: Theo sự phân loại trên thì acid oxalic, ethyeandiamine dumethylglyoxim phải
thuộc về nhóm 7 vì chúng đều tạo vòng với những ion kim loại.
C
C
O
O
O
O
Ca
Cu
H
2
N
H
2
N
CH2
CH2
3
SO
4
Những bản chất và đặc tính của oxalat can-xi, triethylandiamino đồng sunfat,
dimethylglyoximat Ni lại khác nhau rất cơ bản (muối, muối phức, muối nội phức).
3- Sự tách riêng nhóm chất oxy hoá và chất khử là không hợp lý vì một chất tuỳ thuộc
điều kiện của phản ứng, có thể đóng vai trò chất khử hay chất oxy hoá.
Ví dụ: Methyl da cam.
NN
SO
3
Na
H
3
C
H
3
C
N
http://www.ebook.edu.vn
Trong phản ứng với Chlor đóng vai trò chất khử còn trong phản ứng với Sn++ lại đóng
vai trò chất oxy hoá.
I.3. PHÂN LOẠI THEO YOE
Yoe chia thuốc thử hữu cơ thành 11 nhóm lớn (theo mục đích sử dụng) và mỗi nhóm lớn
lại được chia thành nhiều nhóm nhỏ (theo cách phân loại trong nhóm hữu cơ).
Vi dụ: Nhóm lớn thứ nhất là dung môi và chất lỏng rửa bao gồm nhiều nhóm nhỏ:
hydrocarbon, rượu, ester, ether, aldehydeketone…
Cách phân loại này thuận tiện cho việc chọn thuốc thử nhưng về cơ bản nó vẫn mang
những khuyết điểm của các cách phân loại kể
trên.
Ví dụ: Pyrogallol, p–nitrobenzene–azo–resocsin, 8–oxyquinoline ở trong cùng một
nhóm nhưng cơ chế tác dụng của mỗi hợp chất đó với ion vô cơ lại rất khác nhau.
I.4. PHÂN LOẠI THEO FEIGL
Feigl chia thuốc thử thành 8 nhóm
1) Những thuốc thử tạo muối
2) Những thuốc thử tạo muối phức
3) Những thuốc thử tạo muối nội phức
4) Những thuốc thử tạo muối hợp chất hấp thụ
5) Những thuốc thử dùng trong những phản ứng tổng hợp hoặc phân huỷ hữu cơ.
6) Nh
ững thuốc thử là hệ oxy hoá khử hữu cơ
7) Những thuốc thử tham gia phản ứng với ion vô cơ ở dạng chuyển vi nội phân.
8) Những thuốc thử tham gia vào những phản ứng xúc tác.
Mặc dù chưa thật hoàn hảo nhưng cách phân loại này có ưu điểm cơ bản là dựa trên cơ
chế phản ứng và bản chất sau cùng để phân loại. Những thuốc thử
được xếp trong cùng một
nhóm không phải vì công thức giống nhau mà vì tính phản ứng mà nó tham gia giống nhau.
I.5. PHÂN LOẠI THEO WELCHER
Welcher cho rằng những thuốc thử hữu cơ có giá trị nhất trong phân tích là những thuốc
thử tạo phức vòng cùng với ion phân loại. Căn cứ vào số ion hydro bị ion kim loại thay thế
trong một phân tử thuốc thử trung hòa để tạo thành một vòng càng, Welcher chia thuốc thử
hữu cơ thành 3 loại:
Loại 1: Loại 2 ion hydro bị thay thế. Tham gia vào phản ứng phối trí loại này là ion kim
loại và anion thuốc thử 2 điện tích và do đó cứ
mỗi bậc phối trí điện tích của phức sẽ bằng
điện tích của ion kim loại trừ đi 2 đơn vị.
Nếu số phối trí của nguyên tử kim loại đối với thuốc thử bằng điện tích của ion kim loại
thì phức tạo thành là phức trung hòa và thừơng không tan trong nước.
Ví dụ: α–benzoinxim có hai ion H
+
có thể bị thay thế, tạo với Cu
2+
hợp chất phối trí có
thành phần 1:1.
http://www.ebook.edu.vn
C
C
H
2HN
O
Cu
O
OH
2
OH
2
C
C
H
N
O
Cu
C
CH
O
N
Nếu số phối trí của nguyên tử kim loại đối với thuốc thử vượt quá điện tích của ion kim
loại thì phức anion thường tan trong nước được hình thành. Có thể lấy các phức tan Oxalate
(Fe(C
2
O
4
)
3
), Citrate (CaC
3
H
4
OH(COO)
3
), tactrate (Fe(C
4
H
4
Oc)
+
) làm ví dụ. Người ta
thường sử dụng các phức này để ngăn cản kết tủa hydroxide trong môi trường kiềm.
Loại 2: Loại 1 ion hydro bị thay thế. Phản ứng phối trí xảy ra giữa ion kim loại và anion
thuốc thử 1 điện tích và do đó cứ mỗi mức phối trí điện tích tổng cộng của phức kim loại
bằng điện tích của ion kim loại trừ đi một đơn v
ị. Nếu số phối trí của nguyên tử kim loại đối
với thuốc thử hai lần lớn hơn điện tích kim loại thì hợp chất trung hoà không tan trong nước
được tạo thành và trong đa số trường hợp, có thể chiết sản phẩm phản ứng bằng những dung
môi hữu cơ.
Cần nhấn mạnh rằng, sự phối trí thường dừng lại ở mức tạo phức trung hoà ngay c
ả
trong trường hợp những vị trí còn chưa sử dụng hết.
Điều đó được giải thích như sau: sự phối trí tiếp theo đòi hỏi thuốc thử phải phân ly, và
phải hoà tan sản phẩm không tan. Phần lớn thuốc thử hữu cơ biểu lộ tính acid rất yếu do đó
sự phân ly là không thuận về mặt năng lượng.
Ví dụ: 8–oxyquinoline (HX) tác dụng với Mg
2+
tạo sản phẩm dihydrat.
Mg(H
2
O
6
)
2
+
+ HX Æ MgX
2
. 2H
2
O + 2H
+
+ 4H
2
O.
Số phối trí của Mg
2+
bằng 6 nhưng điện tích trưởng thành trung hoà sau khi hai phân tử
thuốc thử tác dụng với một ion magie. Còn Al
3+
tạo 8–oxyquinolat không ngấm nước vì số
phối trí của nó đúng 2 lần lớn hơn điện tích. Phần lớn những thuốc thử hữu cơ có ứng dụng
rộng rãi trong phân tích điều thuộc loại này: α–nitroso, α–naphtol, dimethylglyoxim,
dithizone, v.v…
Loại 3: Loại những ion hydro không bị thay thế. Ở đây phản ứng phối trí xảy ra là do sự
thay thế những phân tử nước bằng những phân tử thuố
c thử trung hoà. Do đó sản phẩm
phản ứng là cation có điện tích đúng bằng điện tích của cation kim loại ban đầu. Mặc dù sản
phẩm phản ứng thừơng tan trong nước nhưng đôi khi có thể chiết bằng những dung môi hữu
cơ nhờ cation hữu cơ khối lượng lớn và những anion thích hợp.
Ví dụ: Có thể chiết phức của Cu và Fe với những dẫn xuất của 1, 10-phenanthroline
bằng rượu cao phân tử.
Những thuốc thử tạo số chelate lớn hơn với 1 đơn phân tử thuốc thử (ví dụ
ethylenediaminetetracetic acid và những thuốc thử nói chung) không tạo chelate không
thuộc vào ba loại hợp chất kể trên.
http://www.ebook.edu.vn
http://www.ebook.edu.vn
CHƯƠNG II: LÝ THUYẾT VỀ LIÊN KẾT PHỐI TRÍ
Lý thuyết phối trí của Werner với quan điểm hoá trị phụ đã cho chúng ta một cách giải
thích thống nhất về sự tồn tại của phức chất, như [Co(NH
3
)
6
]Cl
3
. Trên cơ sở của thuyết này,
thuyết là nền tản của hóa học các hợp chất phối trí ngày nay, ta có thể giải thích tính chất,
hóa lập thể của những chất loại tương tự. Vì lý thuyết của Werner đã được nêu lên 20 năm
trước khi xuất hiện khái niệm về cấu tạo điện tử của nguyên tử nên thuyết đó không thể mô
tả dưới hình thức hiện đại, b
ản chất của liên kết phụ, hay là liên kết phối trí như chúng ta
thường gọi. Để mô tả bản chất của liên kết trong phức chất, ngày nay người ta sử dụng rộng
rãi 3 thuyết:
⎯ Phương pháp liên kết hoá trị (VB)
⎯ Thuyết trường tinh thể tĩnh điện
⎯ Thuyết quỹ đạo phân tử (MO)
Trước hết cần nên nhớ lại những đóng góp của Lewis và Sidwick cho lý thuyế
t liên kết
hoá học.
II.1. LIÊN KẾT HAI ĐIỆN TỬ
Năm 1916, giáo sư hoá học của trường Đại học Tổng hợp Canifornia, Lewis đã phát
biểu tại Berkle: “Liên kết giữa hai nguyên tử A và B được thực hiện bằng đôi điện tử dùng
chung của hai nguyên tử. Thường mỗi nguyên tử góp một điện tử vào đôi điện tử dùng
chung”. Trên cơ sở của những khái niệm đó, Lewis đã mô tả các phân tử CH
4
và NH
3
như
sau:
Ngày nay người ta gọi phương pháp mô tả đó là phương pháp biểu đồ phân tử Lewis.
Biểu đồ Lewis cho chúng ta thấy rõ rằng, những phân tử NH
4
+
và NH
3
giống nhau ở
điểm là trong những hợp chất này có 2 điện tử (đôi điện tử phân bố) liên kết với mỗi nguyên
tử hydro còn đối với các nguyên tử C, N có 8 điện tử. Sự khác nhau cơ bản nhất, quan trọng
nhất giữa 2 hợp chất này là ở nguyên tử Nitơ còn một đôi điện tử không phân chia cho
nguyên tử hydro. Chính vì vậy mà phân tử ammoniac có khả năng phản ứ
ng, nó cho đôi
điện tử tự do của mình để dùng chung với bất kỳ một nguyên tử nào khác. Liên kết này
được hình thành cũng là do một đôi điện tử nghĩa là cũng là liên kết cộng hoá trị nhưng vì
cả hai điện tử đều do nguyên tử nitơ cung cấp nên người ta gọi loại liên kết này là liên kết
cộng hợp hoá trị phối trí.
Phản ứng của NH
3
với các acid tạo thành các muối amoni (1) dẫn đến liên kết cộng hóa
trị phối trí.
H
+
+
N
H
H
H
N
H
H
H
H
+
(2.1)
Song, 4 liên kết trong NH
4
+
đều tương đương. Điều đó chứng tỏ rằng sự khác nhau giữa
liên kết cộng hóa trị thường và liên kết cộng hóa trị phối trí không đáng kể. Phân tử
H
H
:
:
:
:
H
H
C
H
:
:
:
:
H
H
N
và
http://www.ebook.edu.vn
ammoniac cũng có thể cho đôi diện tử tự do của mình để dùng chung với những ion hoặc
phân tử khác. Nếu ion kim loại thay thế ion hydro thì hình thành các phức anion kim loại
(Phương trình (2.2),(2.4), vì những phản ứng này chủ yếu xảy ra trong dung dịch nước nên
nói một cách chính xác hơn là những ion kim loại đầu tiên tồn tại trong dung dịch nước
dưới dạng phức nước (phức aqua) và những phân tử nước phối trí bị thay thế bởi nhữ
ng
phân tử ammoniac (phương trình (2.5)(2.8)).
Ag
+
+
N
H
H
H
N
H
H
Ag
H
+
+
NH
3
N
H
H
HAg
N
H
H
H
+
(2.2)
Cu
++
+
4NH
3
H
3
N
NH
3
NH
3
NH
3
Cu
++
(2.3)
Ni
++
+
6
NH
3
H
3
N
NH
3
NH
3
NH
3
Ni
++
H
3
N
H
3
N
(2.4)
[] [ ]
OHNHHNHOHH
2332
::: +⇔+
++
(2.5)
()
[]
( )
[ ]
OHNHAgNHOHAg
2
2
33
2
2
2::2: +⇔+
++
(2.6)
()
[]
( )
[ ]
OHNHCuNHOHCu
2
2
4
33
2
2
2
4::4 +⇔+
+
(2.7)
()
[]
( )
[ ]
OHNHNiNHOHNi
2
2
6
33
2
6
2
6:6: +⇔+
++
(2.8)
Những phản ứng tương tự, theo Lewis là những phản ứng acid baz. Theo Lewis acid là
những chất, những phân tử có khả năng liên kết đôi điện tử (chất nhận), còn baz là những
chất có khả năng cho điện tử (chất cho). Kết quả là, phản ứng acid – baz dẫn đến sự tạo
thành những liên kết phối trí theo sơ đồ:
A + :B → A:B (2.9)
acid baz hợp chất
(chất cho) (chấ
t nhận) phối trí
Thuyết của Lewis tổng quát hơn thuyết của Arrenius. Theo thuyết của Lewis thì những
hợp chất như BF
3
, AlCl
3
, SO
3
và SiF
4
cũng là những acid vì đều có khả năng nhận điện tử.
Những hợp chất loại F
3
BNH
3
và C
5
H
5
NSO
3
thường gọi là những sản phẩm cộng hợp, chúng
cũng là những hợp chất phối trí.
FB
F
F
N
H
H
H
FB
F
F
N
H
H
H
+
(2.10)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét