Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp ở huyện từ sơn, tỉnh bắc ninh (thực trạng và giải pháp).doc

DANH MỤC CÁC ẢNH
Số thứ tự
Tên ảnh Trang
1. Bản đồ phân bố một số ngành nghề thủ công nghiệp
ở huyện Từ Sơn.
44
2.
Ảnh 1 – 2: Sản phẩm của nghề mộc mỹ nghệ ở
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
48
3.
Ảnh 3 – 4: Sản phẩm của nghề dệt ở huyện Từ Sơn,
tỉnh Bắc Ninh.
48
4.
Ảnh 5 – 6: Sản phẩm của nghề sắt thép ở huyện Từ
Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
48
5.
Ảnh 7: Cụm công nghiệp làng nghề mộc mỹ nghệ
Đồng Kỵ (Từ Sơn) đang xây dựng.
54
6.
Ảnh 8: Cụm công nghiệp làng nghề sắt thép Châu
Khê (Từ Sơn) đã hoàn thành và đi vào hoạt động.
54
v

1. MỞ ĐẦU
MỤC LỤC
Nội dung tra tìm Trang
1. Mở đầu…………………………………………………………… 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………… 2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên
cứu……………………………
3
2. Cơ sở lý luận và thực
tiễn………………………………………….
4
2.1. Khái quát chung về ngành nghề thủ công nghiệp …………… 4
2.2. Vai trò và ý nghĩa của việc phát triển ngành nghề thủ công
nghiệp nông thôn …………………………………………… 12
2.3. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển ngành nghề
thủ công nghiệp nông thôn………………………………… 14
2.4. Tình hình phát triển ngành nghề thủ công nghiệp một số
nước
trên thế giới, ở Việt Nam và tỉnh Bắc
Ninh…………………
16
2.5. Tổng quan các đề tài nghiên cứu về tiểu thủ công nghiệp ở nước
ta.
25
3. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu…………………… 27
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu……………………………… 27
3.2. Phương pháp nghiên cứu
……………………………………
36
3.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu ……………………………… 39
4. Kết quả nghiên cứu và thảo
luận…………………………………
41
4.1. Tình hình phát triển một số ngành nghề thủ công nghiệp ở
huyện Từ Sơn………………………………………………… 41
4.2. Định hướng và giải pháp phát triển một số ngành nghề thủ
công nghiệp ở huyện Từ Sơn……………………………….

89
5. Kết luận và kiến nghị…………………………………………… 118
5.1. Kết luận……………………………………………………… 118
5.2. Kiến nghị…………………………………………………… 119
Tài liệu tham khảo………………………………………………… 121
Phụ lục………………………………………………………………. 125
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Bắc Ninh là một tỉnh nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng,
cửa ngõ Đông Bắc của thủ đô Hà Nội, vị trí địa lý của tỉnh thuận lợi, tiềm
năng kinh tế, văn hóa phong phú đa dạng. Bắc Ninh đã và đang khai thác
nhiều nguồn lực của một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm năng động
(Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh). Tỉnh Bắc Ninh gồm 7 huyện và 1 thị xã.
Từ xưa đến nay, Bắc Ninh không những là nơi đã sản sinh và giữ gìn
những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, đằm thắm, đậm đà bản sắc dân tộc
mà còn là nơi có các ngành nghề thủ công nổi tiếng trong cả nước. Hiện nay
Bắc Ninh có 62 làng nghề, trong đó có 50 làng nghề tiểu thủ công nghiệp
(TTCN). Trong những năm gần đây, nền kinh tế Bắc Ninh đã có nhiều chuyển
biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân (BQ) giai đoạn
(1996-2001) là 12,4%. Một trong những huyện đóng góp nhiều nhất cho sự
phát triển chung của tỉnh Bắc Ninh là Từ Sơn.
Từ Sơn là huyện tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, có vị trí thuận lợi cho
việc phát triển kinh tế. Cùng với công cuộc “đổi mới” của tỉnh, những năm
qua Từ Sơn luôn là huyện có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất tỉnh (18,7%).
Đóng góp không nhỏ trong tổng giá trị (GT) sản xuất (SX) của Từ Sơn là các
ngành nghề thủ công nghiệp (TCN), ở đó làng nghề tiểu thủ công nghiệp
đóng vai trò nòng cốt [29, 22]. Một số ngành nghề TCN chủ yếu ở Từ Sơn
như sản xuất sắt thép, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, dệt Sự phát triển của một số
ngành nghề TCN đã thu hút hàng vạn lao động (lđ) tại địa phương, góp phần
đáng kể vào giải quyết lao động dư thừa và thiếu việc làm trong nông thôn;
nâng cao mức sống cho người dân; khơi dậy những tiềm năng vốn có tại địa
phương, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu (CC) kinh tế
nông thôn.
2
Tuy nhiên những năm qua, sản xuất của một số ngành nghề TCN vẫn
còn những tồn tại như:
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn.
- Quy mô sản xuất còn nhỏ, phân tán do mặt bằng sản xuất chật hẹp.
- Tính chuyên môn hóa và hợp tác hóa ở các ngành nghề chưa cao;
chậm cải tiến về mẫu mã, công nghệ, kỹ thuật
- Quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường có xu hướng ngày càng tăng.
- Trình độ quản lý của đa số các chủ doanh nghiệp, các chủ hộ sản xuất
ngành nghề TCN chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
- Công tác quản lý Nhà nước của các cấp, các ngành gặp nhiều khó khăn.
Trước những khó khăn trên thì một số ngành nghề TCN ở Từ Sơn đã
và đang lâm vào tình trạng sản xuất không ổn định, thiếu bền vững (ngay cả
đối với một số ngành nghề TCN chủ yếu như: sắt thép, đồ gỗ mỹ nghệ, dệt).
Những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đề cập
đến vấn đề làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh và đưa ra các giải pháp nhằm
phát triển làng nghề truyền thống. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên
cứu tập trung sâu và làm rõ những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn nhằm
phát triển một số ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Để góp phần nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thực trạng phát triển một
số ngành nghề TCN chủ yếu ở huyện Từ Sơn, từ đó đưa ra các giải pháp phát
triển, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Phát triển một số ngành nghề thủ
công nghiệp ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Thực trạng và giải pháp)”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát
3
Đánh giá thực trạng một số ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc
Ninh, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển một số ngành nghề TCN
ở huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển ngành nghề
TCN.
- Đánh giá đúng thực trạng phát triển, tìm các nguyên nhân, phân tích
các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất một số ngành nghề TCN ở
huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
- Định hướng và đề ra các giải pháp chủ yếu có căn cứ khoa học để
phát triển một số ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những lý luận và thực tiễn, các vấn đề kinh tế, tổ chức sản
xuất, cơ chế quản lý nhằm phát triển một số ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn
tỉnh Bắc Ninh.
Nghiên cứu các cơ sở sản xuất: Công ty (CT) trách nhiệm hữu hạn
(TNHH), hợp tác xã (HTX), hộ sản xuất, các cấp quản lý một số ngành nghề
TCN ở huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: Nghiên cứu các nội dung kinh tế, tổ chức, quản lý, sản
xuất liên quan đến một số ngành nghề TCN: sắt thép, mộc mỹ nghệ, dệt.
(Đây là 3 ngành nghề chiếm tỷ trọng chủ yếu trong giá trị sản lượng
của ngành nghề TCN ở huyện Từ Sơn).
* Về thời gian:
4
+ Đánh giá thực trạng giai đoạn từ khi huyện Từ Sơn được tái lập
là chủ yếu (2000- 2002 ); tìm hiểu thêm một số năm trước đó.
+ Đưa ra định hướng và giải pháp cho đến năm 2010.
* Về không gian: Đề tài thực hiện trên điạ bàn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc
Ninh; Ngoài ra đề tài có liên hệ với các địa bàn khác ngoài huyện để so sánh.
2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1. Khái quát chung về ngành nghề TCN
2 2.1.1. Một số khái niệm và phân loại
- Ngành nghề. Ngoài nông nghiệp (NN), trong quá trình phát triển kinh tế
nông thôn nhiều ngành nghề khác đã xuất hiện. Trong đó mỗi ngành, mỗi
nghề lại tạo nên những sản phẩm nhất định trên cơ sở những điều kiện nhất
định về hệ thống công cụ lao động, kỹ năng lao động, công nghệ [7, 9]
- Ngành nghề thủ công là ngành nghề tạo nên những sản phẩm trên cơ sở
lao động đôi bàn tay của con người kết hợp với hệ thống công cụ lao động thô
sơ (Nó được quan niệm là nằm ngoài nghề nông nghiệp). Các sản phẩm thủ
công được sản xuất theo tính chất phường hội, mang bản sắc truyền thống có
những bí quyết riêng của từng ngành. Ngành nghề thủ công đầu tiên xuất hiện
trong các hộ nông dân nhằm tận dụng lao động dư thừa, tranh thủ thời gian
nông nhàn để sản xuất ra các dụng cụ hoặc vật phẩm tiêu dùng cho đời sống .
- Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp có nền tảng cơ bản là ngành nghề thủ
công, ở đó hệ thống công cụ lao động thô sơ đã được cải tiến và thay thế một
phần bằng máy móc mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ. (Nó bao gồm
các hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, có trang bị
máy móc hoặc thủ công)[33].
5
- Ngành nghề TCN bao gồm các ngành nghề TTCN, thêm vào đó là sự mở
rộng quy mô sản xuất, kỹ năng lao động, công nghệ sản xuất được cải tiến nhờ
áp dụng khoa học công nghệ mới, sản xuất ra sản phẩm nhiều hơn, năng suất cao
hơn, tính chất công nghiệp quy mô vừa. (Nằm trong ngành công nghiệp).
- Làng nghề là những làng nông thôn có những nghề phi nông nghiệp chiếm
ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với nghề nông.[32, 7]
- Tiêu chí xác định làng nghề TTCN
Một là: Biên độ dao động số hộ làm nghề TTCN chiếm tỷ lệ từ 60 –
80% số hộ của làng.
Hai là: Tên của làng nghề được gọi bằng tên của chính nghề đó.
Ba là: Sản phẩm do nghề TTCN tạo ra chiếm tỷ trọng trên 50% tổng
giá trị kinh tế của làng nghề trong một năm.
Bốn là : Có địa điểm là trung tâm sinh hoạt của làng nghề liên quan
đến hoạt động của nghề như: Đền thờ tổ nghề, câu lạc bộ nghề
Bốn thành tố trên cũng là bốn tiêu chí cơ bản giúp các cấp chính quyền
căn cứ vào đó lập hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận làng nghề TTCN.
[20, 7]
- Phân loại làng nghề. Làng nghề được phân thành làng nghề truyền
thống và nghề mới. Làng nghề truyền thống được duy trì phát triển và được
lưu truyền từ đời này qua đời khác. Còn làng nghề mới là những làng có
ngành nghề phát triển trong những năm gần đây, chủ yếu do sự lan tỏa từ làng
nghề truyền thống, hoặc do sự du nhập trong quá trình hội nhập giữa các vùng
và giữa các nước. Ngay trong các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen
giữa những nghề mới và nghề truyền thống.
Thực tế, khi phân loại các làng nghề cho thấy: có những làng nghề chỉ
gồm một nghề như lụa Vạn Phúc, gồm Bát Tràng và làng nhiều nghề như:
6
Ninh Hiệp, Kiêu Kỵ, Trai Trang, Đình Bảng Nhất là Ninh Hiệp, ngoài nghề
sản xuất chế biến dược liệu, còn phát triển nghề buôn bán, may mặc
- Phân loại ngành nghề TCN. Dựa vào nguyên vật liệu hoặc quy trình công
nghệ có thể phân thành:
• Nghề đan: đan mây, song, tre, nứa, giang, lá, cỏ, cói
• Nghề sắt thép: cán thép, đúc phôi, sản xuất sản phẩm sắt thép…
• Nghề dệt: dệt vải, thổ cẩm, sợi, lanh, chiếu cói, thảm đay, thảm len
• Nghề chạm khắc: chạm khắc trên gỗ, sừng, đá
• Nghề gốm, sứ, thủy tinh
• Nghề sơn: sơn mài, sơn thiếp vàng
• Nghề kim hoàn: chạm vàng, bạc, đồng
• Nghề đồng: đúc đồng, gò đồng
• Nghề da, giả da
Ngoài ra còn có những ý kiến khác nhau trong việc xác định ngành
nghề TTCN nông thôn. Phân theo nhóm như sau:
- Nhóm ý kiến cho rằng công nghiệp (CN)-TTCN nông thôn là bộ phận của
nền công nghiệp nhưng đóng trên địa bàn nông thôn: “Công nghiệp nông thôn
hay còn gọi là công nghiệp nông thôn ở trình độ thấp là một bộ phận của hệ
thống công nghiệp mà trong đó quá trình lao động chủ yếu dựa vào lao động
chân tay sử dụng các công cụ sản xuất giản đơn để chế biến nguyên liệu tạo ra
sản phẩm ”.[27, 6]
- Nhóm ý kiến xác định CN-TTCN nông thôn là những công nghiệp đóng
trên địa bàn nông thôn, phục vụ cho nông thôn và do địa phương quản lý.
- Nhóm ý kiến xác định CN-TTCN nông thôn là công nghiệp phục vụ cho
nông thôn, nó có thể đóng cả ở địa bàn nông thôn và thành thị.[13]
7
- Nhóm ý kiến xác định CN-TTCN nông thôn là một bộ phận quan trọng
của công nghiệp cả nước được phân bố ở nông thôn, bao gồm các cơ sở sản
xuất công nghiệp vừa và nhỏ cùng với TCN thuộc nhiều thành phần kinh tế,
có hình thức tổ chức và trình độ phát triển khác nhau, hoạt động gắn bó chặt
chẽ với sự phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn.[1]
Ngày nay, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, ngành nghề TCN
không đơn thuần chỉ là lao động kinh nghiệm, sử dụng sự khéo léo của đôi
bàn tay, với những công cụ thủ công truyền thống, mà đã có sự đan xen giữa
thủ công truyền thống và thủ công có trình độ chuyên môn cao, kết hợp giữa
công nghệ cổ truyền với công nghệ hiện đại để sản xuất ra những sản phẩm
vừa mang tính dân tộc cao, lại có mẫu mã đẹp, hiện đại, đáp ứng được nhu
cầu tiêu dùng đa dạng của dân cư. (Ví dụ: trước kia chỉ cưa gỗ, đục gỗ bằng
tay và công cụ thủ công, nhưng nay đã dùng cưa máy, đục máy; hoặc trước
kia nung sành, sứ bằng than, nay đã sử dụng lò tuy nen )
2.1.2. Đặc điểm sản xuất ngành nghề thủ công nghiệp
2.1.2.1. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm ngành nghề thủ công nghiệp rất đa dạng và phong phú, nó có
thể được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc. Việc sản xuất hàng loạt
sản phẩm giống nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa (như ở làng nghề
dệt Tương Giang, làng nghề sắt thép Đa Hội). Bên cạnh đó, sản phẩm mang
tính đơn chiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, bởi những nét hoa văn,
những phần tinh của chúng luôn được cải biến thêm thắt nhằm thu hút sự
thưởng thức của những người sành chơi (như sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ Đồng
Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc ). Nhìn chung, trong sản phẩm của ngành nghề
TCN vẫn tồn đọng những hao phí lao động sống, đó là lao động thủ công của
con người.
8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét