Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Một số giải pháp hỗ trợ và thúc đẩy xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT sang thị trường Nhật Bản.pdf

KILOBOOKS.COM

5
Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề thủ cơng truyền thống
và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn hố, văn minh dân tộc . Q
trình phát triển của làng nghề là q trình phát triển của tiểu thủ cơng nghiệp ở
nơng thơn. Lúc đầu sự phát triển đó từ một vài gia đình rồi đến cả họ và lan ra cả
làng. Trải qua một q trình lâu dài của lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những
nghề được gìn giữ, có những nghề bị mai một hoặc mất hẳn và có những nghề
mới ra đời. Trong đó có những nghề đạt tới trình độ cơng nghệ tinh xảo với kỹ
thuật điêu luyện và phân cơng lao động khá cao.
Theo đó ta có thể đưa ra một số khái niệm sau:
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thơn( làng) có một hay
một hay một số nghề được tách ra khỏi nơng nghiệp để sản xuất kinh doanh độc
lập. Thu nhập của các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm
của tồn làng.
Làng nghề truyền thống
Để làm rõ khái niệm về làng nghề truyền thống cần có những tiêu thức
sau
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở
lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên
50% tổng giá trỉan xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hố và bản
sắc dân tộc Việt Nam.
- Sản xuất có quy trình cơng nghệ nhất định được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Từ những tiêu thức trên có thể định nghĩa về làng nghề truyền thống như
sau: “Làng nghề truyền thống là những thơn làng có một hay nhiều nghề thủ
cơng truyền thống được tách ra khỏi nơng nghiệp để sản xuất kinh doanh và
đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm. Những nghề thủ cơng
đó được truyền từ đời náy sang đời khác, thường là qua nhiều thê hệ. Cùng với
thử thách của thời gian, các làng nghề thủ cơng này đã trở thành nghề nổi trội,
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

6
một nghề cổ truyền tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ cơng chun nghiệp hay
bán chun nghiệp đã chun tâm sản xuất, có quy trình cơng nghệ nhất định và
sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành
hàng hố trên thị trường.”
Ngành nghề truyền thống là những ngành nghề tiểu thủ cơng nghiệp đã
xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển kinh tế của nước ta còn tồn tại cho đến
ngày nay, bao gơm cả ngành nghề mà phương pháp sản xuất được cải tiến hoặc
sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ cho sản xuất nhưng vẫn tn thủ
cơng nghệ truyền thống.
Như vậy từ các định nghĩa trên ta có thể hiểu cụ thể về hàng thủ cơng mỹ
nghệ như sau: sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ là những sản phẩm mang tính truyền
thống và độc đáo của từng vùng, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hố, vừa
là sản phẩm văn hố, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí có thể trở thành di sản văn
hố của dân tộc, mang bản sắc văn hố của vùng lãnh thổ hay quốc gia sản xuất
ra chúng.
Hàng thủ cơng mỹ nghệ bao gồm các nhóm hàng sau:
- Nhóm sản phẩm từ gỗ( gỗ mỹ nghệ)
- Nhóm hàng mây tre đan
- Nhóm sản phẩm gốm sứ mỹ nghệ
- Nhóm hàng thêu
2. Đặc điểm của hàng thủ cơng mỹ nghệ
2.1. Tính văn hố
Khác với sản xuất cơng nghiệp, trong sản xuất tiểu thủ cơng , lao động
chủ yếu dựa vào đơi bàn tay khéo léo và đầu óc sáng tạo của người thợ, người
nghệ nhân. Sản phẩm làm ra bừa có giá trị sử dụng nhưng lại vừa mang dấu ấn
bàn tay tài hoa của người thợ và phong vị độc đáo của một miền q nào
đó.Cũng chính vì vậy mà hàm lượng văn hố ở các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ
được đánh giá cao hơn nhiều so với hang cơng nghiệp sản xuất hàng loạt. Ngay
từ khi phát hiện ra các sản phẩm trống đồng Đơng Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, thế
giới đã biết đến một nền văn hố Việt Nam qua những sản phẩm phản ánh sinh
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

7
động và sâu sắc nền văn hố, tư tưởng và xã hội thời đại Hùng Vương. Cho đến
nay, những sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ mang đậm tính văn hố như gốm Bát
Tràng, hay bộ chén đĩa, tố sứ cao cấp có hình hoa văn Châu á, mang đâm nét
văn hố Việt Nam như chim lạc, thần kim quy, hoa sen…đã được xuất khẩu
rộng rãi ra khắp thế giới, người ta đã có thể tìm hiểu phần nào văn hố của Việt
Nam .
Có thể nói đặc tính này là điềm thu hút mạnh mẽ đối với khách hàng nhất
là khách quốc tế, nó tạo nên một ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ cơng mỹ nghệ và
được coi như món q lưu niệm đặc biệt trong mỗi chuyến du lịch của du khách
nước ngồi. Khách du lịch khi đến thăm Việt Nam khơng thể khơng mang theo
về nước một món đồ thủ cơng mỹ nghệ , cho dù ở nước họ có thể sản xuất ra
nhưng sẽ khơng thể mang hồn bản sắc văn hố của Việt Nam . Sản phẩm thủ
cơng mỹ nghệ khơng chỉ là hàng hố đơn thuần mà trở thành sản phẩm văn hố
có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng của nghề truyền thống của dân
tộc Việt Nam .
2.2. Tính mỹ thuật
Sản phẩm mang tính mỹ thuật cao, mỗi sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ là
một tác phẩm nghệ thuật, vừa có giá trị sử dụng vừa có giá trị thẩm mỹ. Nhiều
loịa sản phẩm vừa là phục vụ tiêu dùng , vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa
nơi cơng sở…các sản phẩm đều là sự kết giao giữa phương pháp thủ cơng tinh
xảo với sự sáng tạo nghệ thuật. Khác với các sản phẩm cơng nghiệp được sản
xuất hàng loạt bằng máy móc, hàng thủ cơng mỹ nghệ có giá trị cao ở phương
diện nghệ thuật sáng tạo thì chỉ được sản xuất bằng cơng nghệ mang tính thủ
cơng, chủ yếu dựa vào đơi bàn tay khéo léo của người thợ. Chính đặc điểm này
đã đem lại sự q hiếm cho các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ. Nhờ đó, tai các hội
chợ quốc tế như EXPO, hội chợ ở NEW YORK , Milan( ý) …hang thủ cơng
mỹ nghệ đã gây được sự chú ý của khách háng nước ngồi bởi sự tinh xảo trong
các đường nét hoa văn trạm trổ trên các sản phẩm , hay những kiể u dáng mẫu
mã độc đáo, mặc dù ngun liệu rất đơn giản có khi chỉ là một hòn đá, xơ
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

8
dừa…qua bàn tay tài hoa của các nghệ nhân đã trở thành các tác phẩm nghệ
thuật có giá trị cao.
2.3. Tính đơn chiếc
Hàng thủ cơng mỹ nghệ truyền thống đều mang tính cá biệt và có sắc thái
riêng của mỗi làng nghề. Cùng là đồ gốm sứ, nhưng người ta vẫn có thể phân
biệt được đâu là gốm Bát Tràng, Thồ hà, Hương Canh…nhờ các hoa văn, màu
men, hoạ tiết trên đó. Bên cạnh đó, tính đơn chiếc có được là do hàng thủ cơng
mỹ nghệ Việt Nam mang hồn của dân tộc Việt Nam , mang nét văn hố và bản
sắc của dân tộc Việt Nam , chính vì vậy hàng của Trung Quốc hay Nhật bản
cho dù có phong phú hay đa dạng đến đâu cũng khơng thể có được những nét
đặc trưng đó,cho dù kiểu dáng có thể giống nhưng khơng thể mang “hồn” của
dân tộc Việt Nam . Cùng với đặc trưng về văn hố, tính riêng biệt đã mang lại
ưu thế tuyệt đối cho hàng thủ cơng mỹ nghệ của Việt Nam trong xuất khẩu . Đối
với Việt Nam và cả khách hàng nước ngồi, nó khơng những có giá trị sử dụng
mà còn thúc đẩy q trình giao lưu văn hố giữa các dân tộc.
2.4. Tính đa dạng
Tính đa dạng của sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ thể hiện ở phương thức ,
ngun liệu làm nên sản phẩm đó và chính nét văn hố trong sản phẩm. Ngun
liệu làm nên sản phẩm có thể là gạch, đất, cói , dây chuối, xơ dừa…mỗi loại sẽ
tạo nên một sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ với những sắc thái khác nhau, cho
người sử dụng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm. Là một đơi dép đi
trong nhà, nhưng dép làm bằng cói đã q cũ đối với người tiêu dùng nên hiện
nay, các nghệ nhân sử dụng chất liệu dây chuối, tạo cảm giác rất mới lạ, vừa có
màu vàng ngà của chuối vừa có mầu mốc tự nhiên của thân chuối…Bên cạnh
đó, tính đa dạng còn được thể hiện qua những nét văn hố trên sản phẩm thủ
cơng mỹ nghệ bởi vì mỗi sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ đêù mang những nét văn
hố đặc trưng của từng vùng, từng thời đại sản xuất ra chúng. Chính vì vậy trên
thị trường có rất nhiều loại sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ, mỗi loại đều có sự khác
biệt rõ rệt, khơng đồng nhất. Cũng là đồ gốm sứ nhưng người ta vẫn có thể thấy
đâu là gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , gốm Trung quốc…
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

9
2.5. Tính thủ cơng
Có thể cảm nhận ngay tính thủ cơng qua tên gọi của sản phẩm thủ cơng
mỹ nghệ. Tính chất thủ cơng thể hiện ở cơng nghệ sản xuất, các sản phẩm đều là
sự kết giao giữa phương pháp thủ cơng tinh xảo và sáng tạo nghệ thuật. Chính
đặc tính này tạo nên sự khác biệt giữa sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ và những sản
phẩm cơng nghiệp hiện đại được sản xuất hàng loạt và ngày nay,cho dù khơng
sánh kịp tính ích dụng của các sản phẩm này nhưng sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ
ln gây được sự u thích của người tiêu dùng.
3. Xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ và vai trò của xuất khẩu hàng thủ
cơng mỹ nghệ
3.1. Các hình thức xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ
Sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ khác hàng hố khác ở chỗ nó vừa có thể sử
dụng vừa có thể là vật trang trí, làm đẹp cho nhà cửa, văn phòng hay cũng có thể
là đồ lưu niệm hấp dẫn trong mỗi chuyến du lịch của khách quốc tế. Chính vì
vậy, hàng thủ cơng mỹ nghệ có thể được xuất khẩu ra nước ngồi theo 2 phương
thức sau:
- Xuất khẩu tại chỗ: khi khách du lịch đến từ nước ngồi vào Việt Nam và
mua hàng thủ cơng mỹ nghệ sản xuất tại Việt Nam. Với xu hướng phát triển của
du lịch như hiện nay, hình thức xuất khẩu này sẽ góp phần đáng kể vào kim
ngạch xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ của Việt Nam hàng năm.
- Xuất khẩu ra nước ngồi: là hình thức các doanh nghiệp bán hàng thủ
cơng mỹ nghệ cho các đối tác nước ngồi bằng cách mang hàng sang tận nơi
băng các phương tiện vận tải khác nhau và phải chịu sự ràng buộc của một số
thủ tục xuất khẩu nhất định.
3.2. Vai trò của xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ
3.2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân
* Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ cơng nghiệp hố- hiện
đại hố đất nước.
Việc xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ của nước ta trong mấy năm gần
đây đã mang lại cho nước ta nguồn ngoại tệ lớn, đóng góp khơng nhỏ cho sự
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

10
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Cụ thể trong năm 2003 Việt Nam đã xuất
khẩu được gần 400 triệu USD, và tính đến tháng 4 năm nay, kim ngạch hàng
thủ cơng mỹ nghệ đã đạt trên 100 triệu USD, tăng 10% so với năm ngối. Đây
là nguồn thu ngoại tệ to lớn thực thu về cho đất nước từ nguồn ngun liệu rẻ
tiền có sẵn trong tự nhiên và từ lực lượng lao động nhàn rỗi ở các vùng nơng
thơn nước ta.
Nhờ có nguồn vốn đó, các làng nghề truyền thống Việt Nam có điều kiện
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề và kỹ thuật cao cho ngành thủ cơng
mỹ nghệ.
* Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nơng thơn theo hướng hiện đại hố
Chuyển dịch cơ cấu nơng thơn là nhằm phát triển kinh tế nơng thơn lên
một bước về chất, làm thay đổi cơ cấu sản xuất , cơ cấu lao động, cơ cấu việc
làm , cơ cấu giá trị sản lượng và cơ cấu thu nhập cua ra dân cư nơng thơn bằng
các nguồn lợi thu được từ các lĩnh vực trong nơng nghiệp và phi nơng nghiệp.
Với mục tiêu như vậy, q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn ngày
càng được thúc đẩy, nó diễn ra ngay trong nội bộ ngành cơng nghiệp và cả các
bộ phận hợp thành khác của cơ cấu kinh tế nơng thơn. Việc phát triển các làng
nghề truyền thống dẫ có vai trò tích cực trong việc góp phần tăng tỉ trọng cơng
nghiệp, tiểu thủ cơng nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nơng nghiệp,
chuyển từ lao động sản xuất nơng nghiệp thu nhập thấp sang ngành nghề nơng
nghiệp có thu nhập cao hơn. Ngay từ đầu khi nghề thủ cơng xuất hiện thì kinh
tế nơng thơn khơng chỉ có ngành nơng nghiệp thuần nhất mà bên cạnh còn có
các ngành thủ cơng nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng tồn tại phát triển.
Mặt khác có thể thấy kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập va giá
trị sản lượng cao hơn hẳn so với sản xuất nơng nghiệp. Do từng bước tiếp cận
với nền kinh tế thị trường, năng lực thị trường được nâng lên người lao động
nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nơng nghiệp, dặc biệt
là những sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và ngồi
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

11
nước. Khi đó khu vực sản xuất nơng nghiệp sẽ bị thu hẹp , khu vực sản xuất
cơng nghiệp và tiểu thủ cơng nghiệp được tăng lên.
Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở
nơng thơn mở rộng địa bàn hoạt động thu hút nhiều lao động. Khác với sản xuất
nơng nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một q trình liên tục, đòi hỏi sự
cung cấp thường xun trong việc cung ứng vật liệu và tiêu thụ sản phẩm . Do
đó dịch vụ nơng thơn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức đa dạng và
phong phú , đem lại thu nhập cao cho người lao động.
Như vậy, sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với
q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nơng thơn theo u cầu của sự nghiệp cơng
nghiệp hố- hiện đại hố. Sự phát triển lan toả của làng nghề truyền thống đã
mở rộng quy mơ và địa bàn sản xúât, thu hút rất nhiều lao động. Cho đếnnay cơ
cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 60-80% cho cơng nghiệp và dịch vụ, 20-40%
cho nơng nghiệp.
* Tạo việc làm và nâng cao đời sống nhân dân.
Tác động của xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ đến đời sống bao gồm rất
nhiều mặt. Trước hết thơng qua mặt sản xuất hàng xuất khẩu với nhiều cơng
đoạn khác nhau đã thu hút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập
khơng thấp tăng gía trị lao động tăng thu nhập quốc dân. Bên cạnh đó, xuất khẩu
thủ cơng mỹ nghệ còn tạo nguồn để nhập nguồn vật phẩm tiêu dùng thiết yếu,
phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú của nhân
dân và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động .
- Tạo việc làm cho người lao động.
Trên phương diện xã hội đẩy mạnh xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ đã kích
thích việc phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay trong các làng nghề
truyền thống bình qn mỗi cơ sở chun làm nghề tạo việc làm ổn định cho 27
lao động thường xun và 8 đến 10 lao động thời vụ, mỗi hộ chun nghề tạo
việc làm cho 4 đến 6 lao động thường xun và 2 đến 5 lao động thời vụ. Đặc
biệt ở nghề dệt, thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 đến 250 lao
động.
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

12
Nhiều làng nghề khơng những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa
phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác. Làng
gốm bát tràng ngồi việc giải quyết việc làm cho gần 2430 lao động của xã, còn
giải quyết thêm việc làm cho khoảng 5500 đến 6000 lao động của các khu vực
lân cận đến làm th.
Mặt khác, sự phát triển của các làng nghề truyền thống đã kéo theo sự
phát triển và hình thành của nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan
xuất hiện, tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Ngồi các hoạt
động dịch vụ phục vụ sản xuất trực tiếp còn có các dịch vụ khác như dịch vụ tín
dụng ngân hàng.
Từ kinh nghiệm thực tiễn đã tính tốn cho thấy cứ xuất khẩu 1 triệu USD
hàng thủ cơng mỹ nghệ thì tạo được việc làm và thu nhập cho khoảng 3000 đến
4000 lao động chủ yếu là lao động tại các làng nghề nơng thơn, trong đó có lao
đơng nơng nhàn tại chỗ và các vùng lân cận( trong khi đó chế biến hạt điều thì 1
triệu USD kim ngạch xuất khẩu chỉ thu hút được 400 lao động).
- Nâng cao và cải thiện đới sống nhân dân.
Ngồi việc được coi là động lực gián tiếp giải quyết việc làm cho người
lao động xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ còn góp phần tăng thu nhập và cải thiện
đời sống cho người lao động ở nơng thơn. ở nơi nào có ngành nghề phát triển thì
nơi đó thu nhập cao và mức sống cao hơn các vùng thuần nơng. Nếu so sánh với
mức thu nhập lao động nơng nghiệp thì thu nhập của lao động ngành nghề cao
hơn khoảng 2 đến 4 lần, đặc biệt là so với chi phí lao động và diện tích sử dụng
đất thấp hơn nhiều so với sản xuất nơng nghiệp. Bình qn thu nhập của 1 lao
động trong hộ chun ngành nghề phi nơng nghiệp là 430000- 450000 đồng /
tháng, ở hộ kiêm nghề từ 190000- 240000 đồng/ tháng, trong khi đó ở hộ lao
động thuần nơng chỉ có khoảng 70000-100000 đồng/ người/ tháng. Có những
làng nghề có thu nhập cao như làng gốm Bát Tràng : Mức bình qn thu nhập
của các hộ thấp cũng đạt từ 10-20 triệu/năm. Thu nhập từ nghề gốm sứ Bát
Tràng chiếm tới 86% tổng thu nhập của tồn xã. Vì vậy thu nhập của các làng
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

13
nghề truyền thống đã tạo ra sự thay đổi khá lớn trong cơ cấu thu nhập của hộ gia
đình và của địa phương.
Sự phát triển ổn định của làng nghề tạo ra nguồn hàng ổn định đối với các
doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này . từ đó tạo ra sự thuận lợi trong kinh
doanh, mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao thu nhập
và mức sống cho người lao động.
Ngồi ra việc khơi phục và sản xuất sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ còn kéo
theo nhiều ngành khác phát triển nhất là ngành du lịch và các ngành dịch vụ có
liên quan. Sản xuất thủ cơng mỹ nghệ và du lịch là 2 nhân tố có tác động 2
chiều . Các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ ln là một nét hấp dẫn rất quan trọng
và ấn tượng đối với khách du lịch nhất khách du lịch văn hố ,các sản phẩm
càng đa dạng phong phú càng có tác dụng thu hút mạnh mẽ du khach tới tham
quan, qua đó các dịch vụ về du lịch phát triển đồng thời hàng thủ cơng mỹ nghệ
của Việt Nam cũng được các nước bạn biết đến nhiều hơn, đây chính là một
biểu hiện của hình thức xuất khẩu tại chỗ. Ngược lại, nếu du lịch phát triển, có
nhiều khách du lịch đến tham quan tại các làng nghề c sản phẩm thủ cơng mỹ
nghệ sẽ được biết đến nhiều hơn, được quảng bá nhiều hơn, đó cũng là một hình
thức khuch trương giới thiệu sản phẩm của Việt Nam ra nước ngồi, từ đó ta
có thể mở rộng quan hệ kinh doanh và có thể tăng kim ngạch xuất khẩu thủ cơng
mỹ nghệ.
* Xuất khẩu TCMN là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại của nước ta.
Đẩy mạnh xuấu khẩu nói chung và thủ cơng mỹ nghệ nói riêng có vai trò
tăng cường sự hợp tác quốc tế với các nước, nâng cao địa vị và vai trò của nước
ta trên thị trường quốc tế…Xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ và cơng nghiệp
sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng đầu tư, mở rộng vận tải quốc
tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta kể trên lại tạo
tiền đề mở rộng xuất khẩu.
Có thể nói xuất khẩu hàng thủ cơng mỹ nghệ khơng chỉ đóng vai trò xúc
tác hỗ trợ phát triển kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu như là yếu
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
KILOBOOKS.COM

14
tố bên trong trực tiếp tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ
nền kinh tế như: vốn , kỹ thuật, lao động, thị trường tiêu thụ…Đối với nước ta,
hướng mạnh về xuất khẩu hàng là một trong những mục tiêu quan trọng trong
phát triển kinh tế đối ngoại.
* Góp phần giữ gìn các giá trị văn hố và ngành nghề truyền thống của
dân tộc.
Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống ln gắn liền với lịch sử
phát triển văn hố của dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hố ấy đồng thời
là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc.
Sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ là sự kết tinh của lao động vật chất và lao
động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và trí óc sáng tạo của người
thợ thủ cơng. Vì vậy mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng nét
đặc sắc của dân tộc, đồng thời thể hiện những sắc thái riêng, đặc tính riêng của
mỗi làng nghề và mang mỗi dấu ấn của mỗi thời kỳ. Tìm hiểu lịch sử của mỗi
làng nghề ta thấy kỹ thuật chế tác ra các sản phẩm có từ rất xa xưa và được bảo
tồn đến ngày nay. Kỹ thuật đúc đồng và hợp kim đồng thau đã có từ thời văn
hố Đơng Sơn - một nền văn hố với những thành tựu rực rỡ, đặc biệt là trống
đồng Ngọc Lũ gắn liền với lịch sử thời Hùng Vương dựng nước. Cho đến sau
này nghề đúc đồng vẫn để lại những dấu ấn lịch sử. Mới đây nhất ta thấy có
tượng phật mới đúc được đặt ở chùa Non Nước cao và nặng nhất Đơng nam á.
Ngày nay các sản phẩm thủ cơng mỹ nghệ với tính độc đáo và độ tinh xảo
của nó vẫn có ý nghĩa rất lớn với nhu cầu đời sống của con người. Những sản
phẩm này là sự kết tinh, sự bảo tồn các giá trị văn hố lâu đời của dân tộc, là sự
bảo lưu những văn hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác
tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩm độc đáo mang bản
sắc riêng. Chính vì vậy xuất khẩu thủ cơng mỹ nghệ khơng những góp phần bảo
tồn và phát triển các giá trị văn hố của dân tộc Việt nam mà còn có nhằm quảng
bá chúng trên khắp thế giới .
3.2.2. Đối với các doanh nghiệp
http://kilobooks.com
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét