DẪN LUẬN
I. Lý do chọn đề tài :
Gốm sứ đã xuất hiện khá sớm trong tiến trình lòch sử phát triển loài người.
Trong tất cả các cuộc khai quật khảo cổ nghiên cứu lòch sử đều có sự hiện diện
của những di vật gốm, dù niên đại của nó cách nay hàng ngàn năm hay vài
trăm năm.
Ngày nay khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh mẽ, thế nhưng gốm sứ
vẫn là những chất liệu, công cụ không thể thiếu được trong cuộc sống. Đối với
tỉnh Bình Dương sản phẩm gốm đã có trên đất này từ hơn hai ngàn năm trước
và hiện nay cũng vẫn là một trong số ít đòa phương sản xuất ra sản phẩm gốm
sứ để phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Với tầm
vóc của các ngành nghề truyền thống mang tính lòch sử văn hóa quan trọng
như vậy nhưng chưa có công trình khoa học thật sự để nghiên cứu đầy đủ về
ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp gốm sứ Bình Dương. Chính vì lý do đó đề
tài “Sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ tỉnh Bình Dương
trong thời kỳ từ năm 1986 đến năm 2000” được chọn với mong muốn góp một
phần nhỏ vào việc nghiên cứu khoa học đối với lòch sử ngành nghề truyền
thống này. Mặt khác việc nghiên cứu đề tài này còn có một ý nghóa quan trọng
nữa là sẽ góp phầøn tác động tích cực đến chủ trương chính sách, đònh hướng
phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp một cách đúng đắn trên đà công nghiệp
hóa hiện đại hóa hiện nay.
2. Lòch sử nghiên cứu vấn đề:
Trong sách lòch sử của Việt Nam nói chung và Đàng trong nói riêng chỉ
có một vài chỗ, dăm ba câu ghi nhận về ngành nghề tiểu thủ công nghiệp gốm
sứ, chưa thấy có một phần hoặc chương riêng nào đề cập đến vấn đề này. Vào
thời kỳ cận đại và hiện đại đã xuất hiện một số sách, báo viết về gốm sứ nói
chung và gốm sứ Bình Dương nói riêng.
Nhà nghiên cứu, sưu tập gốm sứ nổi tiếng Vương Hồng Sển có nhiều tác
phẩm viết về sản phẩm gốm sứ nhưng nội dung thường tập trung nhiều vào
nghệ thuật sưu tầm đồ cổ hơn là lòch sử phát triển nghề gốm.
Nhà văn, nhà nghiên cứu Sơn Nam có một số bài viết đề cập đến ngành
nghề gốm sứ dưới góc độ văn hóa truyền thống, phong tục tập quán Nam bộ xưa.
Tác giả Bùi Văn Vượng có tác phẩm “Làng nghề thủ công truyền thống
Việt Nam”
(1)
, Có nói đến làng nghề gốm trong cả nước, trong đó có đề cập
đến gốm sứ Biên Hòa – Đông Nai Gia Đònh, cây Mai, Thủ Dầu Mộât, Bình
Dương. Nhưng do phải nêu các ngành nghề khác nên liều lượng về ngành gốm
sứ khá sơ lược, hạn chế.
Ở đòa phương có công trình “Đòa chí Sông Bé”
(77)
do nhà nghiên cứu Trần
Bạch Đằng chủ biên cùng với một số nhà khoa học có tên tuổi khác biên soạn
như: “Lòch sử Đảng bộ Sông Bé”
(37)
, “Lòch sử Đảng bộ huyện Tân Uyên”
(38)
,
“Thuận An những chặng đường lòch sử”
(81)
, “Lòch sử Đảng bộ Thò xã Thủ Dầu
Một”
(36)
…. Các công trình này đều có đề cập đến ngành nghề gốm sứ, nhưng
có điểm hạn chế chung là liều lượng khiêm tốn, không chuyên sâu về mảng
lòch sử ngành nghề gốm sứ.
Gần đây có một cuốn sách khảo cứu về “Gốm sứ Sông Bé”
(41)
của
Nguyễn An Dương – Trường ký, nêu khá kỹ về ngành nghề gốm sứ Bình
Dương, nhưng có hạn chế lớn là cuốùn sách này chủ yếu đi sâu về khía cạnh
văn hóa nên chưa xem là một công trình nghiên cứu khoa học về gốm sứ Bình
Dương được.
Chính từ những hạn chế, những khoảng trốùng đã nêu trên. Luận văn này
sẽ cố gắng bổ sung, bù đắp một phần nào những khiếm khuyết ấy.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài :
- Đối tượng của luận văn là thông qua lòch trình phát triển của ngành nghề
gốm sứ Bình Dương để nghiên cứu các chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước, sự điều hành quản lý của chính quyền qua từng giai đoạn lòch sử đối
với ngành sản xuất gốm sứ. Sự tác động mạnh mẽ của chủ trương, chính sách
đúng đắn hợp quy luật thì sản xuất phát triển và ngược lại.
- Không gian nghiên cứu: Các làng nghề gốm sứ trong tỉnh Bình Dương
như Chánh Nghóa – Thò xã Thủ Một, Tân Phước Khánh – Tân Uyên và Lái
Thiêu – Thuận An. Mối quan hệ lòch sử, nhân văn, truyền thống của các làng
nghề gốm sứ trong tỉnh với các nơi sản xuất gốm sứ khác thuộc khu vực Đông
Nam Bộ.
Thời gian nghiên cứu: Tập trung vào giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2000.
Sở dó chọn mốc thời gian bắt đầu từ năm 1986 vì năm này có sự kiện lòch sử là
Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam toàn quốc lần VI, cho ra đời một Nghò quyết
quan trọng như: đưa nước Việt Nam vào thời kỳ đổi mới, phát triển, còn năm
2000 là năm cuối của thế kỷ 20, cũng là thời điểm có ý nghóa đặc biệt, do vậy
luận văn chọn năm 2000 làm giới hạn cuối của đề tài.
4. Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu:
Khi bắt tay vào nghiên cứu lòch sử gốm sứ Bình Dương có một khó khăn
lớn nhất đặt ra là thiếu và quá ít tài liệu từ xưa còn lưu lại. Thư tòch Hán – Nôm
hầu như không đề cập đến vấn đề gốm sứ, do vậy các nguồn tư liệu chủ yếu dựa
vào vào sử, sách ở thời gian gần đây, và một số tư liệu từ nguồn khảo cổ học.
Các nghò quyết của Đảng bộ Bình Dương qua các kỳ Đại hội, của các cơ quan
Nhà nước ở cấp tỉnh là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để Luận văn có ý
nghóa về phương pháp luận. Nguồn tài liệu chính được sử dụng là tư liệu phỏng
vấn các nghệ nhân lão thành trong nghề gốm ở Bình Dương.
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghóa MácLênin, phương pháp
được sử dụng chính trong nghiên cứu đề tài này là phương pháp lòch sử và
phương pháp logic, trong đó chủ yếu là phương pháp lòch sử nhằm khảo sát sự
chuyển biến của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ qua các thời kỳ, các giai
đoạn lòch sử khác nhau với tất cả sự đa dạng phong phú của nó. Ngoài ra luận
văn còn sử dụng thêm phương pháp dân tộc học, phương pháp thống kê học,
kinh tế học … để hỗ trợ cho việc nghiên cứu lòch sử.
5. Những đóng góp của luận văn:
- Luận văn sưu tầm và hệ thống hóa về cơ bản các tư liệu có liên quan
đến quá trình của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ ở Bình Dương trong thời
kỳ đổi mới.
- Luận văn cố gắng dựng lại về cơ bản toàn bộ quá trình chuyển biến của
ngành tiểu thủ công nghiệp gốm sứ từ trước đổi mới đến năm 2000 dưới tác
động của chủ trương chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam trong điều kiện
cụ thể của tỉnh Bình Dương.
- Luận văn bước đầu nêu rõ một số đặc điểm lòch sử phát triển, một số
vấn đề có tính quy luật trong mối quan hệ giữa chính sách, chủ trương của
Đảng và Nhà nước với sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp gốm sứ ở Bình
Dương, đồng thời nêu rõ vò trí của ngành tiểu thủ công nghiệp gốm với sự phát
triển kinh tế – xã hội – văn hóa của tỉnh Bình Dương.
CHƯƠNG I
VÀI NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH TIỂU THỦ
CÔNG NGHIỆP SẢN XUẤT
GỐM SỨ BÌNH DƯƠNG
1/ KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ, ĐỊA DANH BÌNH DƯƠNG
1.1- Tên gọi Bình Dương , lòch sử hình thành tỉnh Bình Dương :
Bình Dương, một cái tên thân thương, hiền hòa để gọi một đòa danh nhỏ
trên đất liền, thế nhưng nó lại là cái đuôi của tên một đại dương bao la: “Biển
Thái Bình Dương”.
Từ xa xưa Bình Dương là tên gọi của một nàng công chúa xinh đẹp con của
vua (nhà Lê). Trong Đại Việt Sử ký toàn thư có ghi; “Tống Thiện Thánh năm thứ 7
(1029) tháng 3 ngày mồng 7 gả công chúa Bình Dương cho châu mục Châu Lang là
Thân Thiệu Thái” (17- 383.t1). Bình Dương cũng là tên gọi một con sông. Theo
bản đồ do Trần Văn Học vẽ khu vực Gia Đònh Thành tháng 4/1815, và mô tả của
Trònh Hoài Đức trong “Gia Đònh Thành thông chí” (1820) thì sông Bình Dương ở
phía Nam trấn Gia Đònh. Đoạn sông này nay đã mang tên mới là Rạch Bến Nghé.
Từ một cái tên của một nàng công chúa, được gọi tên một dòng sông, đến
cái tên ấy dïc gọi là đòa danh làng: “Năm 1882 M.Derbès có thống kê lò
gốm ở Nam Kỳ và có kêu ở Biên hòa có 5 lò gốm nằm ở làng Bình Dương và
An Xuân (20-348). Ở cấp độ đơn vò hành chánh cao hơn, tên Bình Dương có
lúc cũng được đặt cho một huyện. Như Trònh Hoài Đức đã mô tả trong Gia
Đònh Thành thông chí (1820): “Hai huyện Bình Dương, Tân Long dân cư trù
mật, chợ phố liềân lạc, nhà tường, nhà ngói liên tiếp cùng nhau” (72-29).
Cách đây hơn ba trăm năm, khi Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh được cử
vào kinh lý Nam kỳ, đã cho lập phủ Gia Đònh gồm hai huyện Phước Long và
Tân Bình. “Lấy đất Nông Nại đặt làm Gia Đònh phủ, lập xứ Đồng Nai làm
huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình,
dựng dinh Phiên Trấn (72-43).
Đến năm 1808 huyện Tân Bình được nâng lên thành phủ gồm có bốn
huyện, Bình Dương, Tân Long, Thuận An và Phước Lộc (42-56).
Năm 1834 toàn bộ Nam kỳ được chia đặt thành 6 tỉnh (gọi Nam kỳ lục
tỉnh) huyện Bình Dương nằm trong tỉnh Phiên An. Năm 1836 Phiên An được
cải thành Gia Đònh. Đến năm 1841 – huyện Bình Dương lại được tách ra làm
hai huyện: huyện Bình Dương và Bình Long. Cho đến thời Pháp thuộc Nam kỳ
lục tỉnh sau này được chia ra làm 20 tỉnh mới. Hai bên bờ sông Sài Gòn là hai
tỉnh Gia Đònh và Thủ Dầu Một. Đến khi kháng chiến chống Pháp thành công
(1954) miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghóa xã hội, miền Nàm (từ vó tuyến 17
trở vào) lập thể chế cộng hòa theo Mỹ. Chính quyền Sài Gòn ra sắc lệnh số
143/NV (ngày 22-10-1956) thay đổi tên gọi và đòa danh các tỉnh tại miền Nam.
Do đó tên tỉnh Bình Dương được thiết lập, về đòa giới chỉ còn quận Trò Tâm
(xứ Dầu Tiếng) thuộc huyện Bình Dương xưa kia, còn lại đại bộ phận đất của
huyện Bình Dương trước đó đều nằm trên đòa bàn thành Phố Hố Chí Minh
ngày nay.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) phía cách mạng không
gọi Bình Dương mà gọi là tỉnh Thủ Dầu Một.
Sau giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975),
tên tỉnh Bình Dương, cả tên Thủ Dầu Một cũng không còn tồn tại, thay vào đó
là tỉnh Sông Bé (gồm ba tỉnh cũ sát nhập lại: Thủ Dầu Một, Bình Long và
Bình Phước).
Mãi đến ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX
đã quyết đònh tách Sống bé ra làm hai tỉnh: Bình Phước và Bình Dương. Thế là
cái tên hai chữ Bình Dương hiền hòa được trở lại với tỉnh nhà từ đấy.
1.2 -Vò trí đòa lý, dân số, thổ nhưỡng khí hậu Bình Dương :
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông nam bộ, nó nối giữa dãy Trường
Sơn Nam với các tỉnh còn lại của Nam Bộ, do vậy đòa hình có dạng thoải thấp
theo hướng từ Bắc xuống Nam. Hiện nay Bình Dương là một trong các tỉnh, thành
thuộc vùng trong điểm phát triển kinh tế phía Nam của Việt Nam.
Diện tích Bình Dương là 2.681,01 km
2
với dân số 712.790 người (58-15).
Trong đó người Việt gốc Hoa khoảng 17.456 người, họ ở tập trung tại các thò
xã, thò trấn và sinh sống chủ yếu bằng nghề buôn bán và sản xuất tiểu thủ
công nghiệp mà phần lớn là sản xuất gốm sứ. Tên các làng gốm nổi tiếng xưa
nay như Tân Phước Khánh (huyện Tân Uyên), Chánh Nghóa (thò xã Thủ Dầu
Một) và Lái Thiêu ( huyện Thuận An) đa số dân cư là người gốc Hoa. Đòa hình
Bình Dương tương đối bằng phẳng, nền đòa chất ổn đònh vững chắc, gần các
đầu mối giao lưu quốc tế ( như sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cảng biển Vũng
Tàu…) nên thuận lợi cho việc phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp sản
xuất các mặt hàng xuất khẩu. Trong lòng đất Bình Dương khá giàu về khoáng
sản, đa số là khoáng sản phi kim loại trong lớp trầm tích phù sa cổ dễ khai
thác, có chất lượng cao và khối lượng nhiều, đặc biệt là đất sét để sản xuất vật
liệu xây dựng, cao lanh để sản xuất gốm sứ. Trữ lượng cao lanh ước tính
khoảng 104 triệu tấn (32-40).
Tỉnh Bình Dương nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo: nắng,
nóng, mưa nhiều, có hai mùa rõ rệt, đó là mùa khô và mùa mưa.
Do đặc thù về vò trí đòa lý, thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi cho nên từ lâu
Bình Dương đã là một trong hai vùng sản xuất chủ yếu cung cấp sản phẩm
gốm sứ phục vụ tiêu dùng cho Nam bộ và xuất khẩu nước ngoài.
1.3- Đặc điểm lòch sử phát triển của tỉnh Bình Dương trong vùng Đồng
Nai –Gia Đònh, Đông Nam bộ:
Bình Dương từ xưa vốn gắn liền với Gia Đònh – Đồng Nai trong miền
Đông Nam bộ, tuy nhiên với những điều kiện môi trường sinh thái cụ thể nên
cũng có đặc điểm riêng từ lòch sử hình thành đến các nhóm nghề sinh sống
cũng như các truyền thống văn hoá, cách hành xử trong đời sống của cư dân
Bình Dương.
Vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là vùng đất của một bộ phận cư
dân thời cổ đại, là chủ nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng:
Văn hoá Đồng Nai – Đông Sơn – Sa Huỳnh từ 4000 đến 2500 năm qua. Sau đó
có sự phát triển giao lưu và đã góp phần tạo nên văn hoá Ốc Eo. Di tích khảo
cổ ở Cù Lao Rùa – Gò Đá – Tân Uyên, di tích Dốc Chùa – Tân Uyên đã thể
hiện có khu cư trú lâu dài, qua khu mộ táng có nhiều di vật đồ đồng, khuôn
đúc đồng đã chứng tỏ điều đó (32).
Có thể do một biến cố đòa chất nào đó mà những cư dân bản đòa, chủ
nhân nền văn hoá Ốc Eo ở Nam bộ nói chung và Bình Dương nói riêng đã bò
chôn vùi trong bùn lầy ven biển Nam Bộ. Sau đó với một khoảng thời gian dài
cho đến đầu công nguyên, rải rác trên vùng đất Bình Dương đã có sự cư trú
của các dân tộc ít người như Stiêng, Mạ, Châu Ro… Có thể đã có vương quốc
Mạ từng tồn tại dọc theo hai bên bờ sông Đồng Nai. Các tộc người này do điều
kiện sinh sống dần dần họ lùi về vùng đất cao hơn, và mãi đến ngày nay vẫn
còn tộc người này đang sinh sống ở một vài xã phía bắc tỉnh Bình Dương – ở
tỉnh Bình Phước – vùng Nam Tây Nguyên (59 – 63).
Cho đến trước thế kỉ XVII cơ bản vùng Đông Nam Bộ, Bình Dương vẫn là
vùng chưa được khai phá. Trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn (thế kỉ
XVII) có miêu tả vùng này như sau:”Từ các cửa biển Cần Giờ, Lôi Lạp, Cửa
Đại, Cửa Tiểu đi vào toàn là rừng rú hàng ngàn dặm”.
“ Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội, trên bờ cọp um”.
Vào cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII trở về sau này vùng đất Bình Dương
hiện nay cũng như Mô Xoài, Cù Lao Phố, Bến Nghé là nơi mà các lớp cư dân
(dần dần từ ít đến nhiều) từ miền Bắc và nhiều nhất là miền Trung (vùng
Thuận Quãng) tìm đến. “Họ là những nông dân nghèo khổ không chòu đựng
nỗi cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của
chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế v v…Nhìn chung là
vì bức xúc của cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu
lập cuộc sống mới”(59 – 63). Con đường đi của họ là men theo bờ biển xuôi
xuống phía Nam, rẽ vào các cửa sông, gặp nơi thuận tiện thì lên bờ đònh cư.
Đặc biệt trong các đợt di dân vào vùng đất mới, có hai đợt là người Hoa cũng
đến đây sinh sống. Đợt đầu có gần 3000 binh lính, gia đình của nhóm các
tướng Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Đòch phản Thanh phục Minh chạy
sang Việt Nam được chúa Nguyễn cho vào sống ở vùng Đồng Nai, Mỹ Tho
(Hà Tiên có nhóm Mạc Thiên Tứ, Mạc Cửu). Đợt sau vào những năm 30 – 40
đầu thế kỉ XX do chiến tranh loạn lạc, đói khổ, nhóm cư dân duyên hải Lưỡng
Quảng chạy sang Việt Nam và có một số đến Bình Dương để đònh cư, mưu
cuộc sinh tồn.
Tựu trung lại, dân cư Bình Dương, chủ thể tạo nên lòch sử Bình Dương, từ
thû khai phá cho đến nay ở vùng đất này do nhiều nguồn, nhiều đợt từ nhiều
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét