Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Tài liệu GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG pptx


4
tƣơng đối dài, tạo nên những nét riêng, đặc trƣng cho mỗi cá nhân và chi phối các hiện tƣợng
tâm lý khác: nhƣ các thuộc tính tâm lý tạo nên xu hƣớng, khí chất, tính cách, năng lực
4.2 Chia theo dấu hiệu của từng ngƣời hay nhóm ngƣời
+ Những hiện tƣợng tâm lý cá nhân
+ Những hiện tƣợng tâm lý xã hội nhƣ dƣ luận xã hội, tập quán, phong tục mốt
4.3 Chia theo chức năng hiện tƣợng tâm lý
+ Các hiện tƣợng tâm lý vận động - cảm giác nhƣ thị giác, thính giác, xúc giác sự co duỗi của
tay chân
+ Trí tuệ: bao gồm các quá trình tiếp nhận và sử dụng tri thức nhƣ cảm giác, tri giác, tƣ duy,
trí nhớ
+ Nhân cách: bao gồm các thuộc tính tâm lý qui định hành vi, giá trị xã hội của con ngƣời.
4.4 Chia theo mức độ nhận biết của chủ thể
Căn cứ những hiện tƣợng tâm lý đƣợc chủ thể nhận biết đƣợc
+ Ý thức: Bao gồm những hiện tƣợng tâm lý có ý thức nhận biết, ví dụ: đang suy nghĩ, đang
tri giác, đang liên tƣởng
+ Vô thức: Gồm những hiện tƣợng tâm lý của bản thân mà không đƣợc cá nhân mình nhận
biết nhƣ: giấc mơ, bản năng tự vệ
+ Tiền ý thức: Gồm những hiện tƣợng tâm lý nằm ở giữa vùng ý thức và vô thức, còn gọi là
hoạt động tiền ý thức. Ví dụ: Giấc mơ báo hiệu bệnh tật,
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHOA HỌC TÂM LÝ
1.Sơ lược lịch sử tâm lý học
Từ xa xƣa,chỉ bằng quan sát và tự thử nghiệm, con ngƣời đã có những nhận xét tinh
vi, sâu sắc về hiện tƣợng tâm lý. Tất nhiên những cách lý giải, mô tả lúc bấy giờ mới chỉ là
những hiểu biết kinh nghiệm.
Thế kỷ XVII, các khoa học tự nhiên phát triển mạnh. Những quan sát của khoa học
này đã chỉ ra mối quan hệ giữa hiện tƣợng tâm lý và môi trƣờng bên ngoài. Một loạt khái
niệm khoa học và phi khoa học đã nẩy sinh ra trong thời kỳ này, nhƣ khái niệm về phản xạ, về
“ lý tính tối cao” về tâm lý học kinh nghiệm, về sự nảy sinh hiện tƣợng tâm lý một cách tự
nhiên từ vật chất …
Đến thế kỷ XIX, thuyết tiến hóa sinh vật của Darwin ra đời, góp phần giải thích
nguyên nhân nẩy sinh, phát triển hiện tƣợng tâm lý từ thấp đến cao, kể cả hành vi bản năng.
Sự phát triển của sinh lý học giác quan và sinh lý học bộ não đã chứng minh mối quan hệ giữa
hiện tƣợng tâm lý với hoạt dộng của não và của toàn cơ thể. Khoa học tự nhiên phát triển đã
góp phần tích cực vào sự hình thành và phát triển các khoa học về tinh thần. Dựa vào khoa
học đó, ngừoi ta đã đi sâu nghiên cứu tâm lý động vật, tâm lý trẻ em, tâm lý ngƣời chậm phát
triển trí tuệ…
Cuối thế kỷ XIX, tâm lý học tách khỏi triết học thành khoa học riêng với tính cách là
một khoa học thực nghiệm, mô tả của vật lý học và sinh lý học để nghiên cứu các hiện tƣơng
tâm lý
Cuộc khủng hoảng về phƣơng pháp luận của tâm lý học truyền thồng đầu thế kỷ XX
đã làm nẩy sinh nhiều trƣờng phái tâm lý học. Có trƣờng phái dùng quan điểm sinh vật học để
nghiên cứu tâm lý ngƣời, nhƣ tâm lý học hành vi của Watson ( 1878- 1958) và một số ngƣời
khác.
Trƣờng phái phân tâm học của Freud ( 1858- 1939) dựa trên quan điểm duy tâm, đã
quy tâm lý vào bản năng vô thức và cia tâm lý làm ba phần: cái nó ( là cái vô thức, gồm
những bản năng) là phần quan trọng nhất, thực chất nhất của tâm lý; cái tôi, là cái hoạt động

5
nhằm thỏa mãn các bản năng vô thức; cái siêu tôi hay là cái tôi lý tƣởng, là sự rang buộc của
xã hội, của đạo đức…
Triết học Mác – lênin đã tác động mạnh mẽ đến tâm lý học. Lý luận phản ánh của các
ông đã vạch ra nguồn gốc, bản chất của tâm lý , ý thức của con ngƣời, đồng thời chỉ ra đối
tƣợng, nhiệm vụ và phƣong pháp của tâm lý học khoa học. Luận điểm duy vật biện chứng của
chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định tâm lý là chức năng của não và phải nghiên cứu tâm lý
con ngƣời trên quan điểm xã hội- lịch sử .
Cùng với sự phát triển của khoa học khác, tâm lý ngày nay đã lớn mạnh cả về lý
thuyết lẫn thức hành. Nhiều ngành tâm lý học mới ra đời( nhƣ tâm lý học lao động, tâm lý học
thể thao, tâm lý học y học…), một mặt nhằm phục vụ từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của con
ngƣời, mặt khác giúp con ngƣời tiếp cận bản chất đích thực của hiện tƣợng tâm lý nói chung
và của bản chất tâm lý con ngừơi nói riêng tốt hơn.
2. Đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu của tâm lý
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu của tâm lý học là hiện tƣợng tâm lý
Tâm lý học nghiên cứu xem con ngƣời nhận thức thế giới bằng con đƣờng nào (cảm giác? tri
giác? tƣ duy? tƣởng tƣợng?) thái độ xác cảm, tình cảm của con ngƣời đối với những cái
mình thấy, những điều mình nghĩ ? Nghiên cứu xem trạng thái tâm lý, kỹ năng, kỹ xảo, ý chí
hoạt động của con ngƣời.Nghiên cứu tâm lý ngƣời, tâm lý động vật, tâm lý cá nhân, tâm lý xã
hội
Tâm lý học giới thiệu nội tâm bằng một hệ thống các khái niệm, sự kiện, qui luật, cung cấp
những tri thức cần thiết để con ngƣời nhận thức, cải tạo thế giới tự nhiên, xã hội và chính bản
thân con ngƣời.
2.2. Nhiệm vụ của tâm lý học
2.2.1. Nhiệm vụ chung: Nghiên cứu những qui luật khách quan của các hiện tƣợng tâm lý,
bản chất tâm lý cá nhân và những đặc điểm tâm lý các hoạt động của con ngƣời.
2.2.2. Nhiệm vụ chủ yếu của các ngành tâm lý chuyên biệt:
- Tâm lý Đại cƣơng: Nghiên cứu các qui luật chung của tâm lý
- Tâm lý học cá nhân: Nghiên cứu đặc điểm tâm lý cá nhân
- Tâm lý học xã hội: Nghiên cứu sự tác động qua lại giữa tâm lý nhóm và tâm lý cá nhân.
- Tâm lý học lứa tuổi: Nghiên cứu đặc điểm tâm lý các lứa tuổi.
- Tâm lý học sƣ phạm: Nghiên cứu tâm lý trong hoạt động giảng dạy và giáo dục
-Tâm lý học lao động: nghiên cứu những đặc điểm tâm lý của hoạt động lao động nhằm mục
đích hợp lý hóa các hoạt động lao động và tổ chức dạy nghề.
- Tâm lý học y học: Nghiên cứu những đặc trƣng tâm lý của ngƣời bệnh, của nhân viên y tế
trong phòng bệnh và chữa bệnh.
Ngoài ra còn nghiên cứu đặc điểm tâm lý trong các hoạt động cụ thể khác nhƣ tâm lý
học thể thao, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học hàng không, tâm lý học quân sự
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu của tâm lý học
2.3.1 Những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu tâm lý học
- Nguyên lý về sự thống nhất giữa ý thức nhân cách và hoạt động
- Nguyên lý về cơ sở vật chất của hiện tƣợng tâm lý là hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lý
ngƣời có bản chất xã hội - lịch sử.
- Nguyên lý về sự vận động, phát triển của hiện tƣợng tâm lý.
- Nguyên lý về mối liên hệ thống nhất giữa các hiện tƣợng tâm lý với nhau, giữa các hiện
tƣợng tâm lý với các hiện tƣợng khác, giữa nội tâm và thế giới thực tại khách quan.

6
2 3.2 Các phƣơng pháp nghiên cứu tâm lý thƣờng đƣợc sử dụng
- Phƣơng pháp Quan sát và tự quan sát.
- Phƣơng pháp đàm thoại, trò chuyện
- Phƣơng pháp điều tra
- Phân tích sản phẩm
- Phƣơng pháp thực nghiệm
- Phƣơng pháp trắc nghiệm
- Phƣơng pháp mô hình hóa
- Phƣơng pháp chuyên gia
Mỗi phƣơng pháp đều có ƣu nhƣợc điểm nhất định. Tùy từng đối tƣợng nghiên cứu, tùy mục
đích nghiên cứu, điều kiện và hoàn cảnh mà lựa chọn cho thích hợp.

Câu hỏi đánh giá:
1.Tâm lý là gì ? Bản chất của hiện tƣợng tâm lý.
2. Phân loại các hiện tƣợng tâm lý hình thành theo thời gian.
3. Trình bày các phƣơng pháp nghiên cứu
4. Đối tƣợng, nhiệm vụ và phƣơng pháp nghiên cứu của tâm lý

7
TÂM LÝ ĐẠI CƢƠNG
CÁC HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ
THUỘC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC

Mục tiêu học tập
1. Trình bày được cách phân loại hiện tượng tâm lý hình thành theo thời gian
2. Phân biệt được các hiện tượng tâm lý thuộc quá trình nhận thức.
3. Trình bày được các hiện tượng tâm lý cơ bản của quá trình nhận thức

I. PHÂN LOẠI HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ
1. Quá trình tâm lý là những hoạt động có khởi đầu, có diễn biến, có kết thúc nhằm biến
những tác động bên ngoài thành hình ảnh tâm lý bên trong.
Quá trình tâm lý là nguồn gốc của đời sống tinh thần, xuất hiện nhƣ một yếu tố điều chỉnh
ban đầu với hành vi con ngƣời (có đặc điểm TL, có kinh nghiệm sống, có kiến thức, có bản
lĩnh ) gồm các quá trình:
Quá trình nhận thức: là quá trình phản ảnh bản thân hiện tƣợng khách quan (cảm giác, tri
giác, biểu tƣợng, trí nhớ, tƣởng tƣợng, tƣ duy,)
- Quá trình cảm xúc: là những rung cảm của chủ thể khi nhận thức thế giới bên ngoài từ đó
biểu thị thái độ đối với khách quan bên ngoài.
- Quá trình ý chí: là quá trình điều khiển, điều hành động của chủ thể nhằm cải tạo thế giới,
thỏa mãn yêu cầu cá nhân và xã hội (không khí điều khiển cá nhân mà cả thế giới bên ngoài)
Đời sống tâm lý luôn phải cân bằng có 3 quá trình trên đây
Nếu thiên về lý trí con ngƣời sẽ thiếu tình cảm, tâm hồn khô khan.
Nếu thiên về tình cảm con ngƣời sẽ thiếu sáng suốt.
Thiếu ý chí thì tình cảm con ngƣời không thể biến thành hành động.
2. Trạng thái tâm lý
- Là đặc điểm của hoạt động tâm lý trong những khoảng thời gian ngắn đƣợc gây nên bởi
hoàn cảnh bên ngoài (hoặc do cảm giác con ngƣời ảnh hƣởng lên hành vi con ngƣời trong thời
gian đó)
Con ngƣời thƣờng ở trong những trạng thái nhất định nhƣ trạng thái tập trung, lơ đãng, tích
cực, tiêu cực, khẳng định, phủ định, do dự, quyết tâm
3. Thuộc tính tâm lý
- Là những quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý thƣờng xuyên lập đi lập lại trong đời sống trở
thành đặc điểm tâm lý bền vững của nhân cách cá nhân.
- Là những nét tâm lý tƣơng đối bền vững và ổn định đƣợc hình thành từ quá trình tâm lý và
trạng thái tâm lý bảo đảm nhất định về số lƣợng chất lƣợng hành vi và hoạt động tâm lý.
- Thuộc tính tâm lý tạo sự khác biệt cá nhân, khó hình thành và cũng khó mất đi có tác
động ngƣợc lại với quá trình tâm lý và trạng thái tâm lý.
5.Quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý
- Quá trình tâm lý là những hiện tƣợng có khởi đầu, diễn biến, kết thúc; quá trình diễn ra
ngắn; là nguồn gốc của đời sống tâm lý.
- Trạng thái tâm lý là những hiện tƣợng luôn gắn với quá trình tâm lý là cái nền của tâm lý .

8
- Thuộc tính tâm lý là những nét đặc trƣng tâm lý ï của con ngƣời hình thành từ quá trình tâm
lý và trạng thái tâm lý. Thuộc tính tâm lý gồm tình cảm, xu hƣớng, tính cách tạo nên 2 mặt
đức và tài.
Các hiện tƣợng tâm lý trên đây đƣợc chi phối bởi ý thức. Ý thức là hiện tƣợng tâm lý cao cấp
ảnh hƣởng rất nhiều đến các hiện tƣợng tâm lý.
II. CÁC HIỆN TƢỢNG TÂM LÝ THUỘC QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC
1. Cảm giác
1.1.Khái niệm
- Cảm giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật, hiện
tƣợng khách quan khi chúng đang tác động trực tiếp vào giác quan.
- Là quá trình đơn giản nhất, có tính chất, cƣờng độ và thời hạn có vai trò mở đầu cho các
hoạt động nhận thức .
- Là phản ánh ban đầu do tác động của thế giới khách quan vào các cơ quan cảm giác, cảm
giác phản ảnh sao chụp lại các thuộc tính của sự vật hiện tƣợng tồn tại ở bên ngoài và độc lập
với ý thức. Nhƣ vậy cảm giác là cái có sau so với hiện thực vật chất.
Trong thực tế, mỗi sự vật, hiện tƣợng là một chỉnh thể, trọn vẹn, gồm nhiều thuộc tính,
cùng tác động vào con ngƣời. Do giới hạn của mình nên cảm giác chỉ phản ánh đƣợc từng
thuộc tính riêng lẻ và phản ánh một cách trức tiếp những thuộc tính của sự vật, hiện tƣợng.
Tuy là hiện tƣợng tâm lý sơ đẳng, song cảm giác là nền tảng của nhiều hoạt động tâm
lý khác của cả ngƣời và động vật. Với con vật, cảm giác là hình thức định hƣớng cao nhất
trong môi trƣờng. Còn với con ngƣời, cảm giác chỉ là hình thức định hƣớng đầu tiên, song nó
đã giúp đỡ tích cực con ngƣời trong việc điều khiển, điều chỉnh hoạt động trong môi trƣờng.
Giác quan của một số loài vật phản ánh khá tinh vi và nhạy bén, nhƣ mắt của chim đại
bàng, tai của dơi…Giác quan của ngƣời qua quá trình phát triển lâu dài, qua rèn luyện, nhờ
kinh nghiệm, vốn sống và hoạt động nghề nghiệp mà không ngừng hoàn thiện, trở nên tinh vi
và nhạy bén hơn nhiều so với giác quan của các loài vật.
1.2. Phân loại cảm giác
Dựa vào những tiêu chuẩn khác nhau mà có những phân loại cảm giác khác nhau. Căn
cứ vào vị trí của nguồn kích thích và bộ máy thụ cảm, nguời ta chia thành hai loại hệ thống:
cảm giác bên ngoài và cảm giác bên trong cơ thể.
- Cảm giác bên ngoài
Là những cảm giác phản ánh những thuộc tính của thế giới bên ngoài và những bộ máy thụ
cảm ở mặt ngoài và do những bộ máy thụ cảm ở mặt ngoài cơ thể thu nhận, bao gồm:
+ Cảm giác nhìn (Thị giác): đƣợc nẩy sinh do sóng điện từ tác động vào mắt (khoảng từ 380-
780(m) trong đó có # 90% cảm giác là thị giác. Loại cảm giác này cho biết những thuộc tính
về hình dáng, độ lớn, màu sắc…của đối tƣợng. Nó cung cấp 90% lƣợng thông tin mà con
ngƣời thu nhận đƣợc từ tất cả các giác quan.
+ Cảm giác nghe (Thính giác): nẩy sinh do sóng âm thanh tác động vào tai, con ngƣời có thể
nhận biết âm thanh có tần số từ 16-20.000 Hertz.
Là những cảm giác cho biết những thuộc tính nhƣ độ cao, cƣờng độ âm thanh của đối tƣợng.
+ Cảm giác ngửi (Khứu giác): nẩy sinh do các chất trong không khí tác động vào mũi.
Là những cảm giác cho biết thuộc tính mùi của đối tƣợng.
+Cảm giác nếm (Vị giác): nẩy sinh do các chất kể cả trong không khí tác động vào lƣỡi.
Loại cảm giác này cho biết những thuộc tính vị của đối tƣợng. Có 4 loại thuộc tính nếm cơ
bản là chua, cay, mặn, đắng. Sự kết hợp của bốn loại này sẽ cho đa dạng của vị giác.

9
+ Cảm giác da (Xúc giác): Nẩy sinh do các chất kể cả trong không khí tác động vào da.
Là cảm giác cho biết các thuộc tính cơ học hoặc nhiệt độ của đối tƣợng. Có 3 loại cảm giác
da: cảm giác tiếp xúc da( đụng chạm, nén, rung động, ngứa); cảm giác nhiệt độ ( nóng, lạnh )
và cảm giác đau.
Cảm giác bên ngoài liên kết với vận động tạo nên sức mạnh của lao động “Bàn tay ta làm nên
tất cả, có sức ngƣời sỏi đá cũng thành cơm.”
- Cảm giác bên trong
Là những cảm giác phản ánh trạng thái của cơ quan nội tạng và do bộ máy cảm thụ ở bên
trong cơ thể nhận kích thích, bao gồm:
+ Cảm giác vận động: là cảm giác do cơ khớp, dây chằng, bộ phận thụ cảm bên trong cơ thể
kích thích tay, lƣỡi, môi, răng hoạt động.
Là những cảm giác về sự vận động, về vị trí từng bộ phận của thân thể, phản ánh độ co, duỗi
của cơ, của dây chằng và khớp xƣơng…Cảm giác này cùng với cảm giác bên ngoài, cho ta
những thuộc tính nhƣ: rắn, mềm, khối lƣợng, co giãn, xù xì, trơn nhẵn…của đối tƣợng.
+ Cảm giác thăng bằng: Phản ánh vị trị của cơ thể trong không gian, nhờ sự kích thích vào
các khí quan thụ cảm của bộ máy tiền đình (cơ quan cảm giác thăng bằng nằm ở thành của 3
ống bán khuyên trong tai).
+ Cảm giác cơ thể ( cảm giác bản thể ): Cho ta biết tình trạng hoạt động của các cơ quan nội
tạng(đau, đói, no, khát ) có liên quan tới các quá trình hô hấp, tuần hoàn, gan mật, cơ bắp
1.3. Những thuộc tính chung của cảm giác
Ngoài những thuộc tính riêng, cảm giác còn có các thuộc tính chung:
- Dạng thức của cảm giác: Các dạng thức này đƣợc dùng để phân biệt các loại cảm giác ( ví
dụ nhìn màu, ngửi mùi) và để phân biệt sự biến đổi trong phạm vi từng loại cảm giác ( ví dụ
cảm giác nếm mặn hay nhạt, ngọt hay đắng ).
- Cƣờng độ: Đây là thuộc tính phản ánh sức mạnh của kích thích và trạngthái của bộ máy thụ
cảm, ví dụ tùy cƣờng độ cảm giác khác nhau mà ta nhìn đồ vật có độ rõ ràng khác nhau.
1.4.Quy luật của cảm giác
- Quy luật ngƣỡng cảm giác và mối quan hệ giữa ngƣỡng và độ nhậy cảm
Mỗi giác quan đƣợc chuyên biệt hóa để phản ánh một dạng kích thích phù hợp, ví dụ
mắt phản ánh các song ánh sáng, tai phản ánh các song âm thanh…Song không phải mọi kích
thích khi đã tác động vào các giác quan tƣơng ứng đều gây ra cảm giác. Muốn gây nên cảm
giác, kích thích phải đạt đạt tới một giới hạn nhất định gọi là ngƣỡng cảm giác, có ngƣỡng
tuyệt đối trên và ngƣỡng tuyệt đối dƣới.
+ Ngƣỡng tuyệt đối
Bao gồm ngƣỡng tuyệt đối phía dƣới ( là cƣờng độ hoặc tính chất kích thích tối thiểu đủ gây
ra cảm giác) và ngƣỡng tuyệt đối phía trên ( là cƣờng độ hoặc tính chất kích thích tối đa mà ở
đó vẫn còn gây ra cảm giác tƣơng ứng. Phạm vi giữa ngƣỡng trên và ngƣỡng dƣới gọi là
vùngcảm giác. Ví dụ:
Cơ quan thị giác có thể tiếp nhận ánh sáng kích thích trong khoảng 380-780m có nghĩa là
ngƣỡng tuyệt đối trên là 780mu(tối đa) và ngƣỡng tuyệt đối dƣới là 390m (tối thiểu) vùng tiếp
nhận tốt nhất là 565m.
Cơ quan thính giác tiếp nhận âm thanh trong vùng cảm giác khoảng 16-20.000Hertz ngƣỡng
tuyệt đối trên là 20.000Hertz và ngƣỡng tuyệt đối dƣới là 16Hertz vùng phản ánh tốt nhất là
1000 Hertz
+ Ngƣỡng sai biệt: là mức độ chênh lệch tối thiểu về cƣờng độ hoặc tính chất của 2 kích
thƣớc đủ để ta phân biệt đƣợc gọi là ngƣỡng sai biệt.

10
Ngƣỡng sai biệt của thị giác là 1% ( Nếu 2 màu đỏ chênh nhau 1% về cƣờng độ hoặc bƣớc
sóng trở lên ta mới phân biệt đƣợc chúng).
Ngƣỡng sai biệt của thính giác là 1/10 (Trên 2 nốt nhạc chênh nhau 1/10 cƣờng độ hoặc tần
số trở lên ta mới phân biệt đƣợc chúng)
Ngƣỡng sai biệt của cảm giác trọng lƣợng, nén ép là 1/30.
Ngƣỡng tuyệt đối và ngƣỡng sai biệt không giống nhau giữa các loại cảm giác và giữa các cá
nhân. Ngƣỡng cảm giác có thể thay đổi theo lứa tuổi, trạng thái sức khỏe, trạng thái tâm –
sinh lý, tính chất nghề nghiệp, sự rèn luyện, kinh nghiệm…của mỗi ngƣời.
- Mối quan hệ giữa ngƣỡng cảm giác và độ nhậy cảm sai biệt
+ Độ nhậy: Khả năng nhận cảm khác nhau ở mức độ rất nhỏ giữa 2 kích thích gọi là độ nhậy
(nhậy cảm). Khả năng cảm nhận sự khác nhau rất nhỏ giữa hai kích thích ( nhận ra ngƣỡng sai
biệt) gọi là độ nhậy cảm sai biệt, hay tính nhậy cảm sai biệt.
Ngƣỡng cảm giác phía dƣới và ngƣỡng sai biệt tỷ lệ nghịch với độ nhậy cảm của cảm giác.
Ngƣỡng dƣới càng thấp thì độ nhậy cảm càng cao; ngƣỡng sai biệt càng bé thì độ nhạy cảm
sai biệt càng cao.
- Quy luật về sự thích ứng
Cảm giác đƣợc xác định không chỉ do vật kích thích mà còn do những điều kiện tâm - sinh lý
nữa. Để đảm bảo cho sự phản ánh tốt nhất và bảo vệ hệ thần kinh, cảm giác của con ngƣời có
khả năng thích ứng với kích thích. Sự thích ứng của cảm giác là khả năng thay đổi độ nhậy
cho phù hợp với sự thay đổi của cƣờng độ, tính chất của kích thích, quy luật chung về sự
thích ứng của cảm giác là :
+ Tăng độ nhậy cảm khi gặp kích thích yếu.
Ví dụ vào buổi tối, đèn trong phòng đang sáng, tự nhiên tắt. Lúc đầu ta chƣa nhìn rõ đồ vật,
nhƣng sau vài giây, độ nhậy cảm tăng lên, thị giác thích ứng và bắt đầu nhìn rõ đồ vật trong
phòng hơn.
+ Giảm độ nhậy cảm khi gặp kích thích mạnh và lâu.
Ví dụ nhƣ trong phòng đang tối, đèn tự nhiên bật sáng, mắt ta lóa lên và không nhìn rõ ngay
đồ vật. Phải đợi vài giây, độ nhậy cảm giảm xuống, thị giác thích ứng dần và bắt đầu nhìn
thấy rõ. Hoặ một ví dụ khác, chúng ta không cảm thấy sức nặng của đồng hồ đeo ở tay, vì do
đeo nó đã lâu ngày, độ nhậy cmr về kích thích của đồng hồ giảm đi và ta đã thích ứng với nó.
Sự thích ứng của mỗi cảm giác không giống nhau.Có những cảm giác thích ứng nhanh
nhƣ nhìn, ngửi, nóng lạnh Có những cảm giác thích ứng chậm nhƣ nghe, đau, thăng
bằng Khả năng thích ứng của cảm giác con ngƣời có thể thay đổi tùy theo sự rèn luyện trong
quá trình sống của mỗi ngƣời.
- Quy luật về sự tác động qua lại giữa các cảm giác
Thế giới khách quan tác động vào con ngƣời bằng nhiều thuộc tính, tính chất và gây ra cho
con ngƣời nhiều cảm giác khác nhau. Mặt khác con ngƣời là một chỉnh thể, thống nhất, mọi
giác quan đều quan hệ chặt chẽ với nhau tác động qua lại với nhau. Kết quả của sự tác động
qua lại giữa các cảm giác là làm thay đổi độ nhậy cảm của một cảm giác này dƣới một tác
động của một cảm giác khác.Quy luật chung của sự tác động qua lại giữa các cảm giác là:
+ Kích thích yếu lên cơ quan phân tích này sẽ làm tăng nhạy cảm lên cơ quan khác. Ví dụ
cảm giác nếm chất chua nhẹ sẽ làm tăng độ nhạy của cảm giác thị giác.
+ Kích thích mạnh lên cơ quan phân tích này sẽ làm giảm độ nhậy cảm lên cơ quan khác. Ví
dụ nhìn ánh sáng gay gắt, tai nghe sẽ kém hơn.
Sự tác động qua lại giữa các cảm giác có thể diễn ra đồng thời hoặc nối tiếp, có thể
giữa các cảm giác cùng loại hay khác loại. Sự tác động qua lại giũa những cảm giác cùng loại

11
đƣợc gọi là hiện tƣợng tƣơng phản trong cảm giác. Đó là sự thay đổi cƣờng độ hay chất lƣợng
của cảm giác do ảnh hƣởng của kích thích cùng loại diễn ra trƣớc đó hay đồng thời ( tƣơng
phản nối tiếp và tƣơng phản đồng thời)
Ví dụ: 2 tờ giấy xám nhƣ nhau đƣợc đặt lên 2 nền khác nhau: nền sáng tờ giấy sẽ tối và ngƣợc
lại nền tối tờ giấy sẽ sáng hơn. Đây là sự tƣơng phản đồng thời trong cảm giác.
Nhúng 2 bàn tay vào nƣớc : Tay phải vào chậu nƣớc lạnh
Tay trái vào chậu nƣớc nóng.
Rồi nhúng cả 2 bàn tay vào cùng một chậu nƣớc ấm cảm giác của 2 bàn tay khác nhau. Đó là
hiện tƣợng tƣơng phản nối tiếp.
Trong sự tác động qua lại giữa các cảm giác, đôi khi chúng ta còn gặp hiện tƣợng đặc
biệt là: kích thích vào giác quan này thì đồng thời lại gây ra cảm giác ở giác quan khác. Ví dụ
nghe tiếng dao cạo trên kính xuất hiện cảm giác ghê sợ.
1.5. Rối loạn cảm giác
Do cơ thể hoạt động không bình thƣờng, hoặc do bệnh lý mà thu nhận các cảm giác
không đúng.
- Tăng cảm giác: Tăng khả năng thu nhận kích thích có thật. Khi ngƣỡng cảm giác tuyệt đối
dƣới giảm xuống, bệnh nhân đáp ứng một cách quá mẫn cảm với kích thích, nhiều khi những
kích thích trung bình hoặc nhẹ cũng làm cho ngƣời bệnh không chịu nổi. Ví dụ: những bệnh
nhân suy nhƣợc thần kinh, bệnh nhân lên cơn dại rất khó chịu với những tác động của ánh
sáng, tiếng động sợ gió, sợ nƣớc
- Giảm cảm giác: Giảm khả năng thu nhận kích thích có thật. Khi ngƣỡng cảm giác tuyệt đối
dƣới tăng cao, ngƣời bệnh không tiếp thu đƣợc những tác động có cƣờng độ kích thích trung
bình hoặc thấp. Những ngƣời bệnh đó thấy xung quanh mình nhƣ mờ mờ, ảo ảo, mọi tiếng
động nhƣ xa xôi, mọi thức ăn trở nên nhạt nhẽo.
- Mất cảm giác: Không có khả năng thu nhận kích thích có thật.
- Loạn cảm giác: Cảm giác không đúng, ngƣời bệnh có những cảm xúc không bình thƣờng,
kỳ lạ hoặc có sự lẫn lộn về cảm giác. Trong rối loạn cảm giác bản thể, bệnh nhân thấy đau
nhức, tê buồn, khó chịu trong cơ thể, trong nội tạng một cách vô cớ khó hiểu. Hoặc ngƣời
bệnh tiếp nhận các cảm giác thông thƣờng trở nên nặng nề hơn, ví dụ cảm thấy nóng nức hơn,
lạnh hơn, cảm giác nghẹt thở, cảm giác ngứa ngáy làm cho ngƣời khó chịu. Trong những
trƣờng hợp đó ngƣời bệnh sẽ bị kích thích mạnh, thiếu kiên nhẫn, có khi trở nên hung dữ.
2. Tri giác
2.1 Khái niệm
Tri giác là quá trình tâm lý phản ảnh một cách trọn vẹn các thuộc tính của sự vật, hiện
tƣợng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan. Là quá trình phản ảnh trong ý thức con
ngƣời về những sự vật hiện tƣợng khi chúng tác động trực tiếp vào cơ quan cảm giác.
Tri giác hình thành từ cảm giác nhƣng đƣợc phát triển lên.
Tri giác là sự phản ảnh cao hơn so với cảm giác, phản ảnh một cách tổng hợp các thuộc tính
của sự vật hiện tƣợng cho một hình ảnh trọn vẹn trên não bộ.
Cảm giác tri giác là những nhận thức cảm tính là những nhận thức ban đầu và có những đặc
điểm chung:
- Trực quan cụ thể.
- Đơn lẻ.
- Trực tiếp bằng cảm giác
2.2 Phân loại tri giác

12
Có nhiều cách phân loại của tri giác. Thông thƣờng sử dụng một số cách phân loại sau
đây :
- Dựa vào bộ máy phân tích nào giữ vai trò chính, trực tiếp tham gia vào quá trình tri giác
có thể chia thành :
+Tri giác nhìn .
+Tri giác nghe
+Tri giác ngửi
+Tri giác sờ mó
+Tri giác nếm
- Dựa vào tính tích cực của con ngƣời khi tri giác ( tri giác có mục đích, có kế hoạch hay
không…) có thể chia thành tri giác có chủ định và tri giác không chủ định.
- Dựa vào hình thức tồn tại của sự vật hiện tƣợng có thể chia ra ba loại tri giác sau:
+ Tri giác các thuộc tính không gian của đối tƣợng nhƣ hình dáng, độ lớn, vị trí, khoảng cách
của sự vật hiện tƣợng . Trong tri giác này có sự kết hợp của nhiều yếu tố nhƣ các cảm giác;
trạng thái tâm lý, kinh nghiệm của chủ thể; điều kiện và hoàn cảnh xung quanh và cơ sở sinh
lý thần kinh nhất là cơ chế nhìn bằng hai mắt…Đôi khi gặp những ảo giác trong loại tri giác
này, ví dụ nhìn cái thìa trong cốc nƣớc nhƣ bị gẫy; nhìn hai đƣờng thẳng song song trên nền
các đƣờng chéo cắt nhau, chúng không còn song song nữa.
- Tri giác các thuộc tính thời gian: cho biết diễn biến tồn tại nhanh, chậm, liên tục của sự vật
hiện tƣợng.Chịu sự chi phối của nhiều yếu tố nhƣ quá trình sinh học , nhịp điệu sinh học của
cơ thể ( hô hấp, tuần hoàn, đói no, thức ngủ:). Chịu sự chi phối của chu kỳ thiên nhiên của
môi trƣờng.
Các ảo giác thời gian : “Ngày vui ngắn chẳng tày gan
Ba thu dồn lại một ngày dài ghê”
Trong cùng một khoảng thời gian, nếu sự vật diễn biến muôn hình, muôn vẻ có nhiều hoạt
động hấp dẫn thì cảm giác thời gian trôi nhanh; trái lại, nếu công việc buồn tẻ, hoặc phải chờ
đợi…thì ta lại thấy thời gian trôi chậm chạp.
- Tri giác các thuộc tính vận động : cho biết sự vận động của sự vật hiện tƣợng, mối quan hệ
giữa thời gian và không gian, phƣơng hƣớng, tốc độ của sự vật hiện tƣợng . Nó quan hệ chặt
chẽ với tri giác thời gian, không gian và phụ thuộc vào sự chuyển độngcủa đối tƣợng, của chủ
thể, của thể giới xung quanh.
Các ảo giác tri giác vận động thƣờng gặp khi nhìn 2 máy bay ở cùng tốc độ nhƣng chiếc ở độ
cao hơn dƣờng nhƣ bay chậm hơn .
Ba loại tri giác trên đây thƣờng có liên quan mật thiết , bổ sung cho nhau giúp con ngƣời tri
giác trọn vẹn sự vật hiện tƣợng và thế giới khách quan. Sự phát triển các loại tri giác này phụ
thuộc vào kinh nghiệm và hoạt động thực tiễn của con ngƣời.
2.3 Quy luật tri giác
- Qui luật tính đối tƣợng: Hình ảnh tri giác một mặt phản ánh đặc điểm của đối tƣợng, mặt
khác nó là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan. Con ngƣời tạo ra hình ảnh tri giác bằng
những cảm giác khách quan kết hợp với vốn hiểu biết của mình làm cho hình ảnh tri giác
mang đầy đủ các thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tƣợng. Tính đối tƣợng giúp con ngƣời
định hƣớng, điều chỉnh hành động của mình trong thế giới sự vật hiện tƣợng.
- Quy luật tính trọn vẹn: Tri giác có khả năng phản ảnh sự vật hiện tƣợng một cách trọn vẹn
bằng cách tổng hợp các thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tƣợng theo một cấu trúc hoàn chỉnh
nhất định.
- Quy luật tính lựa chọn:Tri giác có khả năng tách đối tƣợng ra khỏi bối cảnh xung quanh để

13
lựa chon đối tƣơng cần thiết . Trong trƣờng hợp này bối cảnh xung quanh là nền của đối
tuợng . Sự vật hiện tƣợng càn khác với bôi cảnh tri giác thì tri giác càng lựa chọn dễ dàng.
Tính lựa chọn của tri giác thể hiện thái độ tích cực của con ngƣời đối với sự vật hiện tƣợng
đang đƣợc tri giác . Nhờ có tính chất này mà hiệu quả của tri giác đƣợc nâng cao và kết quả
tri giác càng phù hợp với hoạt động của chủ thể. Bản chất của qúa trình tri giác tích cực là quá
trình tách đối tƣợng ra khỏi bối cảnh xung quanh.
Tính đối tƣợng của tri giác phụ thuộc vào các yếu tố khách quan nhƣ đặc điểm vật
khích thích (cƣờng độ, nhịp điệu vận động, sự tƣơng phản ) đặc điểm của môi trƣờng xung
quanh ( ánh sáng, khoảng cách, tác động của ngƣời khác ) và còn phụ thuộc vào yếu tố chủ
quan nhƣ nhu cầu, hứng thú, tình cảm, xu hƣớng, tâm trạng, kinh nghiệm sống, tuổi tác, sức
khỏe, nghề nghiệp của chủ thể Tính lựa chọn giúp tri giác khắc phục cách nhìn sự vật hiện
tƣợng một cách phiến diện, định kiến.
- Quy luật tính có ý nghĩa của tri giác: Khả năng gọi tên, đặt tên sự vật hiện tƣợng và sắp xếp
chúng có ý nghĩa.Đây chính là tính ý nghĩa của hình ảnh tri giác. Tính ý nghĩa này phụ thuộc
vào vốn hiểu biết, kinh nghiệm, khả năng tƣ duy, ngôn ngữ của chủ thể và liên quan đến tính
trọn vẹn của tri giác ( tri giác càng đầy đủ các thuộc tính, bộ phận của sự vật, hiện tƣợng thì
việc gọi tên, chỉ ra công dụng của nó càng cụ thể, chính xác).
- Quy luật tính ổn định của tri giác: Khả năng phản ánh tƣơng đối ổn định sự vật hiện tƣợng
ngay cả khi điều kiện tri giác có thay đổi nhất định. Ví dụ, trong ánh sáng trắng hay ánh sáng
đỏ, ngƣời bác sĩ vẫn tri giác đó là cái ống nghe.
Tính ổn dịnh của tri giác khi ta tri giác độ lớn, hình dạng, màu sắc của đối tƣợng. Nó phụ
thuộc trƣớc hết vào cấu trúc ổn định của đối tƣợng trong một thời gian nhất định và phụ thuộc
vào cơ chế tự điều chỉnh đặc biệt của hệ thần kinh.Ngoài ra tính ổn định còn phụ thuọc vào
kinh nghiệm, vốn sống…của chủ thể vào đối tƣợng tri giác.
- Quy luật tính tổng giác: Khả năng sử dụng hệ thống các giác quan, toàn bộ các hoạt động
tâm lý, đặc điểm nhân cách của chủ thể khi tri giác. Là năng lực nhận thức và hoạt động thực
tiễn của con ngƣời giúp nhận thức thế giới ngày càng tinh vi, sâu sắc và tổng thể.
Các quy luật tri giác có liên quan chặt chẽ, bổ sung cho nhau và làm cho tri giác con
ngƣời trở nên tích cực, nhạy bén và sinh động.
2.4 Rối loạn tri giác
- Ảo tƣởng: Là tri giác sai lệch về toàn bộ một sự vật hiện tƣợng có thật của thế giới khách
quan. Ví dụ: nhìn đoạn dây thừng tƣởng là con rắn, nhìn hình nộm tƣởng con ngƣời.
Trong lâm sàng thƣờng gặp những loại tri giác sai với thực tại nhƣ tri giác sai lệch thị giác,
thính giác, vị giác Có nhiều loại tri giác sai lệch gắn với trạng thái cảm xúc, gắn với lời nói
(do lo âu, trầm cảm, hƣng phấn )
Ảo ảnh kỳ lạ là một dạng đặc biệt của tri giác sai với thực tại, nó thƣờng xuất hiện ngoài ý
chí, không liên quan tới cảm xúc của ngƣời bệnh nhƣ trong trạng thái mê sảng, mơ màng Ví
dụ: bệnh nhân nhìn bức tranh hoặc vào đám mây thấy biến đổi dần dần thành ngƣời có khuôn
mặt kỳ dị quái lạ.
- Ảo giác: Là những tri giác nhƣ có thật về một sự vật hiện tƣợng không hề có trong thực tại
khách quan nhƣ ảo thanh, ảo thị, ảo giác xúc giác Những ảo giác này xuất hiện hoặc mất đi
ngoài ý muốn ngƣời bệnh và thƣờng đi kèm với các rối loạn ý thức, tƣ duy của ngƣời bệnh.
Có 2 loại ảo giác.
+ Ảo giác thật: Là những ảo giác đƣợc ngƣời bệnh chấp nhận nhƣ những sự vật hiện tƣợng có
thực trong hiện thực khách quan, không phân biệt đƣợc giữa ảo giác và sự thật.
+ Ảo giác giả : Là ảo giác mà ngƣời bệnh nhận ra nhƣ những sự vật hiện tƣợng lạ lùng, không
giống với hiện thực khách quan và họ có thể phân biệt đƣợc giữa ảo giác và sự thật.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét