Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

411 Vận dụng các chính sách Marketing trong kinh doanh tại Công ty du lịch Hà Nội 

Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
ờng quốc tế. Thông thờng, đó là lợi thế tơng đối của việc sản xuất sản phẩm
này so với sản phẩm khác trong quan hệ trao đổi với nớc ngoài. Tuy nhiên ta
cũng cần quan tâm đến nhu cầu thị trờng quốc tế về cả chất lợng và thị hiếu
đối với sản phẩm xuất kho đó. Trên thực tế, một nớc có nền kinh tế lạc hậu,
kếm phát triển vẫn có thể có sản phẩm bán ra thị trờng nớc ngoài, trong khi
đó một nớc có điều kiện đầy đủ để sản xuất ra một mặt hàng nào đó lại vẫn
nhập khẩu hàng hoá đó từ nớc ngoài. Năm 1887, nhà kinh tế học ngời Anh
David Ricacdo đã giải thích hiện tợng mâu thuẫn trên bằng học thuyết lợi thế
so sánh của mình là: Nếu một quốc gia nào có hiệu quả thấp so với quốc gia
khác trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể
tham gia thơng mại quốc tế để tạo ra lợi ích.
-Học thuyết về u đãi và yếu tố: Một nớc sẽ xuất khẩu hàng hoá mà việc
sản xuất nó cần nhiều yếu tố rẻ, tơng đối có sẵn của nớc đó và nhập khẩu loại
hàng hoá mà việc sản xuất cần nhiều yếu tố đắt, tơng đối khan hiếm ở nớc
đó. Tóm lai là một nớc giầu lao động sẽ xuất khẩu hàng hoá sử dụng nhiều
lao động và nhập khẩu hàng hoá sử dụng nhiều vốn.
Với học thuyết này cho thấy sự khác biệt về tính tơng đối phong phú
của các yếu tố. Điều này rất quan trọng đối với Việt Nam hiện nay bởi vì nớc
ta phong phú về lực lợng lao động, giá nhân công rẻ nhng lại bị hạn chế về
vốn.Với nền kinh tế nớc ta hiện nay có thể áp dụng học thuyết này để tìm ra
đợc mặt hàng sử dụng ít vốn nhng lại sử dụng nhiều lao động phù hợp với
điều kiện trong nớc, nhằm đạt hiệu quả cao và làm tăng kim ngạch xuất khẩu.
-Học thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm: Học thuyết này đợc
Raymond Vernon đa ra đầu tiên vào năm 1966, nhằm giải thích các mô hình
thơng mại quốc tế và đầu t nớc ngoài trực tiếp.
Theo khái niệm chu kỳ sống của sản phẩm da số các sản phẩm đều trải
qua chu kỳ buôn bán bao gồm các giai đoạn kế tiếp nhau và có ảnh hởng tới
khối lợng buôn bán quốc tế của một nớc. Theo học thuyết này ngời ta cho
rằng ở đầu chu kỳ sống của sản phẩm thì sản phẩm phải có công nghệ cao,
Khoa Kinh doanh Thơng mại
5
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
tiếp theo giai đoạn 2 khi mà công nghệ đã không còn là yếu tố hàng đầu nữa
thì ngời ta sẽ chú ý đến chi phí sản xuất ra sản phẩm dần dần khi sản phẩm đã
đuợc tiêu chuẩn hoá về chất lợng thì những sản phẩm này sẽ đuực chuyển
sang cho các nớc thứ 3 có u thế về lao động. Khi chuyển dịch theo chu kỳ
sống của sản phẩm, các yêu cầu về nhân tố đầu vào sẽ thay đổi vị trí của các
trung tâm sản xuất có lợi thế cùng thay đổi.

Hình 1: Chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
Các nước chậm phát triển
Các nước đang phát triển
Các nước tiên tiến

Sản phẩm mới
Chín

muồi

Tiêu chuẩn hoá
sản xuất
xuất khẩu
nhập khẩu
Hình 1: Chu kỳ sống của sản phẩm quốc tế
Khoa Kinh doanh Thơng mại
6
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
+Giai đoạn sản phẩm mới: Hầu hết các sản phẩm mới đợc phát
triển và sản xuất đầu tiên ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn( các n-
ớc tiên tiến). nguyên nhân chủ yếu của tình hình này là một số lợng lớn ngời
tiêu dùng có thu nhập cao, có mong muốn về các sản phẩm mới và nguồn
cung ứng phong phú những công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao
tạo ra một lợi thế tơng đối về năng lực R & D. Trong giai đoạn này hàng hoá
đợc tiêu dùng trong nớc và nhu cầu trên thị trờng ít đàn hồi so với giá, thiết
kế và sản xuất hàng hoá vãn ở giai đoạn thử nghiệm nên nơi nghiên cứu và
nơi sản xuất cần phải liên hệ chặt chẽ, thờng xuyên.
+Giai đoạn chín muồi: nhu cầu và khối lợng sản phẩm đợc sản xuất ra
tăng nhanh chóng, sản phẩm đồng dạng hơn, phơng pháp sản xuất sản phẩm
đợc chu trình hoá và cạnh tranh về giá trở nên quan trọng.
+Giai đoạn sản phẩm tiêu chuẩn hoá: Sản phẩm và công nghệ sản xuất
sản phẩm đó đợc tiêu chuẩn hoá, cạnh tranh về giá trở nên khốc liệt. Sản xuất
đợc chuyển sang các nớc chậm phất triển nơi có nhân công đầu vào thấp và
xuất khẩu sản phẩm từ các quốc gia chậm phát triển sang các quốc gia tiên
tiến ngày càng tăng nhanh.
Từ những học thuyết cơ bản về thơng mại quốc tế trên ta có thể tổng
hợp và hệ thống đợc một nguyên lý xuất khẩu không chỉ cho các nhà quản lý
kinh doanh nói chung mà còn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng, đó
là lợi thế hay thế mạnh của Việt Nam về lao động cũng nh các sản phẩm
truyền thống mang đậm nét phong cách Việt Nam, các doanh nghiệp Việt
Nam sẽ khai thác thế mạnh này để tạo ra những sản phẩm vừa có lợi
thế so sánh, vừa có lợi thế tơng đối lại tận dụng đợc sự u đãi của các yếu tố
sẵn có trong nớc, từ đó sẽ đạt đợc hiệu quả sản xuất và kinh doanh cao.
2. Vị trí, vai trò của xuất khẩu
a, Đối với nền kinh tế:
Kể từ sau khi xoá bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, nền kinh tế nớc ta đang có bớc tăng trởng
Khoa Kinh doanh Thơng mại
7
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
vợt bậc. Sở dĩ đạt đợc thành tựu to lớn nh vậy là do nớc ta đã thực hiện chính
sách mở cửa nền kinh tế, thiết lập quan hệ buôn bán với các nớc trên thế giới
và ngày càng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, Marketing
xuất nhập khẩu nói riêng và thơng mại quốc tế nói chung sẽ làm tăng mức
tiêu thụ hàng hoá, làm cho các hệ thống sản xuất ngày càng trở nên có hiệu
quả hơn vì chúng đợc hợp lý hoá để dạt mức chi phí thích hợp. Ngoài ra
chúng ta còn có thể thu đợc lợi thế phụ do sản xuất với quy mô lớn và do
chuyển giao kỹ thuật khi nền kinh tế cho phép Marketing xuất khẩu hoạt
động, thị trờng chính của nó cũng tăng lên về quy mô, làm cho nó có nhiều
thời cơ đẩy mạnh chuyên môn hoá và tăng hiệu quả sản xuất hơn trớc. Vì thế,
Marketing xuất khẩu và tăng trởng kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau
và nó là một phơng tiện để đạt đợc mục đích, mục đích đó là: sự phát triển xã
hội và nền kinh tế của một đất nớc. Thông qua marketing xuất khẩu hay th-
ơng mại quốc tế chúng ta có thể tạo nguồn vốn, nguồn ngoại tệ lớn từ việc
xuất khẩu hàng hoá góp phần quan trọng vào việc cải thiện cán cân ngoại th-
ơng, cán cân thanh toán tăng dự trữ ngoại tệ.
Thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, chúng ta có thể xuất khẩu những
mặt hàng có thế mạnh của đất nớc để phất huy lợi thế so sánh cuả quốc gia,
đồng thời học hỏi, trao đổi đợc các thành tựu khoa học tiên tiến mở đờng cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, có thể phát triển các ngành công
nghiệp chế tạo và chế biến hàng xuất khẩu có công nghệ tiên tiến mà tính
cạnh tranh cao trên thị trờng thế giới giúp cho đất nớc có đợc nguồn lực công
nghiệp mới, tăng năng xuất, chất lợng sản phẩm tiết kiệm chi phí cho lao
động xã hội.
Thông qua hoạt động xuất khẩu, chúng ta ngày càng mở rộng đợc quan
hệ kinh tế với nớc ngoài góp phần thay đổi đờng lối đối ngoại của đất nớc,
gắn chặt nền kinh tế nớc ta với phân công lao động thế giới.
Khoa Kinh doanh Thơng mại
8
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
b, Trong kinh doanh quốc tế:
Thông qua marketing xuất khẩu, các doanh nghiệp có điều kiện tốt để
học tập các kinh nghiệm để có thể đứng vững và ngày càng phát triển trên thị
trờng.
Thông qua marketing xuất khẩu sẽ phát huy cao bộ tính năng đông,
sáng tạo của mọi ngời, của các đơn vị cũng nh các tổ chức kinh doanh xuất
nhập khẩu. Xuất khẩu hàng hoá là một lĩnh vực khó khăn, mạo hiểm nhng lại
hứa hẹn những cơ hội phát triển và mang lại lợi nhuận cao vì thế nó đòi hỏi
mỗi cá nhân, mỗi tổ chức kinh doanh phải nhanh nhạy nắm bắt thị trờng, nắm
bắt tốt các thông tin và xử lý nhanh chóng, chính xác, bên cạnh đó còn tao
nên mối quan hệ tốt giữa các nhà sản xuất và các nhà nghiên cứu, tăng cờng
khả năng sử dụng chất xám cả trong và ngoài nớc.
Trong điều kiện kinh tế hàng hoá nhiều tành phần và mở cửa kinh tế
hội nhập với nớc ngoài, xuất nhập khẩu góp phần hình thành các liên doanh,
liên kết giữa các chủ thể trong nớc cũng nh trong nớc với nớc ngoài hình
thành lên công ty kinh doanh lớn tạo nên sự phát triển vững chắc cho doanh
nghiệp.
Thông qua marketing xuất khẩu, doanh nghiệp có thể phát huy đợc lợi
thế so sánh của đơn vị mình hay địa bàn mình hoạt động từ đó sẽ chuyên môn
hoá và phân công lao động hợp lý. áp dụng đợc khoa học kỹ thuật vào sản
xuất để sử dụng tốt các yếu tố đầu vào tiến tới sản xuất lớn đại trà, từ đó có
điều kiện nâng cao chất lợng sản phẩm và dần dần có thể hạ đợc giá thành
bán sản phẩm.
c, Đối với xã hội:
Nh đã trình bày ở trên, marketing xuất khẩu nói riêng và thơng mại
quốc tế nói chung có vai trò rất quan trọng đối với tất cả các quốc gia,thông
qua thơng mại quốc tế, các quốc gia có thể xuất khẩu các sản phẩm hàng hoá
mà quốc gia mình có lợi thế, thế mạnh đồng thời nhập khẩu những hàng hoá
mà trong nớc không có khả năng sản xuất.Sự trao đổi hàng hoá giữa các quốc
Khoa Kinh doanh Thơng mại
9
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
gia này không những làm cho các nớc có thể xích lại gần nhau hơn,hiểu biết
về phong tục tập quán, văn hoá của các quốc gia thông qua những nét đặc tr-
ng trên hàng hoá mà còn giúp cho tất cả các quốc gia thâm gia vào hoạt động
trao đổi này đều thu đợc lợi nhuận và điều quan trọng hơn là thúc đẩy nền
kinh tế thế giới cùng phát triển.
Thông qua thơng mại quốc tế, các quốc gia đều tận dụng đợc lợi thế
của mình, những nớc giầu có thì chuyển giao công nghệ và vốn sang các nớc
nghèo nhng lại rất dồi dào về lao động. Từ những nớc kếm phát triển hơn này
sẽ sản xuất các sản phẩm hàng hoá thủ công hoặc hàng hoá cần nhiều lao
động và xuất khẩu sang các nớc phát triển.
Nh vậy thơng mai quốc tế đã góp phần làm tăng lợi thế so sánh của tất
cả các quốc gia, làm cho khoảng cách về trình độ phát triển gữa các quốc gia
đợc thu ngắn lại để dần dần làm cho nền kinh tế thế giới trở thành một khối
thống nhất tiến tới tự do hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế trên toàn thế giới.
II. Quá trình marketing xuất khẩu ở doanh nghiệp
1. Khái niệm và quá trình Marketing xuất khẩu
Trớc khi đi vào khái niệm marketing xuất khẩu ta phải hiểu đợc khái
niệm về marketing:
-Theo Philip Cotter: Marketing là sự phân tích tổ chức kế hoạch hoá và
khả nâng thu hút khách của một công ty cũng nh chính sách và hoạt động với
quan điểm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa
chọn.
-Các nhà làm công tác marketing ở Việt Nam đã đúc kết và đa ra đợc
định nghĩa marketing phù hợp, đầy đủ và sát thực cho mình nh sau:
+ Marketing là chức năng quản lý công ty về tổ chức và quản lý toàn
bộ hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua của
ngời tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một loại hàng cụ thể đến việc đa
hàng hoá đó đến tận tay ngời tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty
Khoa Kinh doanh Thơng mại
10
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
thu đợc lợi nhuận cao nhất. Xuất phát từ khái niệm này ta có thể đa ra định
nghĩa về marketing xuất khẩu nh sau:
+Marketing xuất khẩu là việc thực hiện các hoạt động kinh doanh định
hớng dòng vận động hàng hoá và dịch vụ của các công ty tới ngời tiêu dùng
hoặc sử dụng ở nhiều quốc gia nhằm thu lợi nhuận cho công ty.
2. Bản chất và những đặc trng cơ bản của marketing.
2.1- Bản chất :
Nh đã trình bầy ở trên marketing đợc định nghĩa nh là các hoạt động
nhằm nắm bắt nhu cầu thị trờng để xác lập các biện pháp thoả mãn tối đa các
nhu cầu đó, qua đó mang lai lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Nh vậy,
marketing xuất khẩu thực chất chỉ sự vận dụng những nguyên lý, nguyên tắc,
các phơng pháp và kỹ thuật tiến hành của marketing nói chung trong điều
kiện của thị trờng nớc ngoài. Sự khác biệt của marketing xuất khẩu và
marketing nói chung chỉ ở chỗ là hàng hoá và dịch vụ dợc tiêu thụ không
phải trên thị trờng nội địa mà là ở thị trờng nớc ngoài. Cũng nh marketing nói
chung, marketing xuất khẩu xuất phát từ quan điểm là trong nền kinh tế hiện
đại vai trò của khách hàng và nhu cầu của họ có ý nghĩa quyết định đối với
mọi hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó chủ trơng rằng
chìa khoá để đạt đợc sự thành công của doanh nghiệp và mục tiêu của doanh
nghiệp là xác định nhu cầu và mong muốn của các thị trờng trọng điểm, đồng
thời phân phối những thoả mãn mà các thị trờng đó chờ đợi một cách hiệu
quả hơn đối thủ cạnh tranh.
2.2- Đặc trng của marketing xuất khẩu:
Các hoạt động marketing xuất khẩu không phải tiến hành ở trong nội
bộ của một quốc gia mà nó đơcj tiến hành trên phậm vi rộng từ hai quốc gia
trở nên.
- Các khái niệm về marketing, các quá trình, các nguyên lý marketing
và nhiệm vụ của nhà tiếp thị là giống marketing nội địa, tuy nhiên khi xâm
nhập vào thị trờng nớc ngoài, marketing xuất khẩu thờng gặp phải những rào
Khoa Kinh doanh Thơng mại
11
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
cản về luật pháp, sự kiểm soát của chính phủ ở những nớc công ty xâm nhập
vào.
- Nhu cầu thị trờng đa dạng hơn.
- Quan điểm về hoạt động kinh doanh ở từng thị trờng nớc ngoài là
khác nhau do đó tuỳ từng thị trờng mà ta vận dụng các quan điểm marketing
xuất khẩu phù hợp.
- Các điều kiện thị trờng có thể biến dạng, đây là đặc điểm khó nhận
biết khác về căn bản so với marketing nội địa với cùng một sản phẩm, các
điều kiện thị trờng có thể khác nhau về cơ bản giữa nớc này với nớc khác, thu
nhập, cơ cấu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng, môi trờng công nghệ, điều
kiện văn hoá xã hội và thói quen tiêu dùng, thói quen tiêu dùng ở cùng thị tr-
ờng rất khác nhau. Vì vậy mà sẽ không có một sản phẩm hay ngời tiêu dùng
duy nhất.
3. Mô hình marketing xuất khẩu:
Quá trình marketing xuất khẩu đợc khái quát trong mô hình sau:


Hình 2- Mô hình marketing xuất khẩu
Chi tiết hoá từng bớc trong mô hình marketing xuất khẩu.
Khoa Kinh doanh Thơng mại
12
Nghiên cứu Marketing xuất khẩu
Lựa chọn thị trường xuất khẩu
Xác định hình thức xuất khẩu
Xác lập các yếu tố Mar- Mix xuất khẩu
Vận hành và kiểm tra các nỗ lực Mar-Mix
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
a, Nghiên cứu marketing xuất khẩu:
Muốn kinh doanh thành công trên thi trờng nớc ngoài thì trớc khi xuất
khẩu hàng hoá sang thi trờng nớc ngoài, với bất kỳ một công ty kinh doanh
nào thì việc đầu tiên là phải tiến hành nghiên cứu marketing xuất khẩu, từ
khái niệm, đặc điểm, bản chất marketing xuất khẩu đã trình bầy ở trên, ta biết
rằng với các công ty kinh doanh xuất khẩu, nghiên cứu marketing xuất khẩu
là công việc đầu tiên và rất quan trọng bởi lẽ tất cả các công việc liên quan
đến hoạt động marketing của công ty đều gắn với thị trờng nớc ngoài. Do đó
nghiên cứu thói quen, tập quán sử dụng và thị hiếu của ngời tiêu dùng nớc
ngoài đối với loại sản phẩm mà công ty muốn xâm nhập vào. Không những
thế nghiên cứu marketing ở đây ngoài việc nghiên cứu tất cả các yếu tố giống
nh nghiên cứu marketing nội địa mà còn phải nghiên cứu yếu tố chính trị,
luật pháp và văn hoá của một quốc gia. Làm tốt công việc này chính là đã là
tạo tiền đề hay làm điểm tựa để phát triển các bớc tiếp theo.
b, Lựa chọn thị trờng xuất khẩu:
Sau khi đã nghiên cứu marketing xuất khẩu một cách kỹ càng, bớc tiếp
theo phải làm trong mô hình marketing xuất khẩu là lựa chọn thị trờng xuất
khẩu. Dựa vào các yếu tố đã nghiên cứu ở trên, lúc này công ty sẽ tiến hành
phân loại, gạn lọc và lựa chọn thị trờng xuất khẩu. Việc lựa chọn thị trờng xuất
khẩu nh thế nào là tuỳ thuộc từng công ty, từng mặt hàng mà công ty sẽ xâm
nhập vào thi trờng nớc ngoài, việc lựa chọn thị trờng xuất khẩu ở đây liên quan
đến một số vấn đề mà công ty phải quan tâm nh nhu cầu của thị trờng đó,
dung lợng thị trờng, tình hình cạnh tranh trên thị trờng vv.
Thông qua tất cả các yếu tố này, các công ty sẽ tiến hành lựa chọn thị
trờng xuất khẩu mà công ty đó cảm thấy có u thế nhất và có khả năng thành
công nhất.
Khoa Kinh doanh Thơng mại
13
Luận văn tốt nghiệ p Sinh viên Phạm
Thị Thu Hiền
c, Xác định hình thức xuất khẩu:
Đây là một công việc rất quan trọng và là một khâu không thể thiếu
trong mô hình marketing xuất khẩu, bởi vì nó chỉ ra hình thức xuất khẩu nào
mà các công ty kinh doanh xuất khẩu có thể sử dụng. Trên thực tế có hai hình
thức xuất khẩu cơ bản mà các công ty có thể lựa chọn sủ dụng đó là: Xuất
khẩu gián tiếp và xuất khẩu trực tiếp.
- Trong xuất khẩu gián tiếp thì có thể thông qua:
o Hãng buôn xuất khẩu đặt cơ sở trong nớc.
o Đại lý xuất khẩu đặt cơ sở trong nớc.
o Các tổ chức phối hợp.
- Trong xuất khẩu trực tiếp thì có thể thông qua:
o Các cơ sở bán hàng trong nớc.
o Đại diện bán hàng xuất khẩu.
o Chi nhánh bán hàng tại nớc ngoài.
o Các đại lý và các nhà phân phối đặt ở nớc ngoài.
d, Xác lập các yếu tố Mar- Mix xuất khẩu:
Giống nh Mar- Mix nội địa, Mar- Mix xuất khẩu cũng có 4 yếu tố cần
xác lập là: sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến bán trong đó tất cả các yếu tố
này đều phục vụ xuất khẩu hay nói cách khác là 4 yếu tố này đã đợc xác lập
đều để gắn với thị trờng nớc ngoài.
- Xác lập yếu tố sản phẩm xuất khẩu bao gồm :
o Cấu trúc về sản phẩm xuất khẩu.
o Kế hoạch hoá và phát triển sản phẩm mới.
o Quyết định chung về chủng loại sản phẩm xuất khẩu.
o Quyết định chung về tiêu chuẩn hoá và thích nghi.
o Quyết định về bao bì
o Quyết định về nhãn mác.
- Xác lập yếu tố giá xuất khẩu bao gồm:
Khoa Kinh doanh Thơng mại
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét