Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức

Tiểu luận triết học
LờI NóI ĐầU
Tiến lên chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cách mạng lớn lao nhất và quan
trọng nhất của Đảng và nhân dân ta hiện nay vì chỉ có thực hiện đợc mục tiêu
này, chúng ta mới có thể xây dựng đợc một nớc Việt Nam mà theo cách nói của
Hồ Chí Minh là: dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
Và cũng chỉ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chúng ta mới có thể làm
thoả mãn ham muốn tột cùng, ham muốn cuối đời của Ngời đó là : Làm sao
cho dân ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đợc học hành

. Vậy chúng ta
phải làm thế nào để thực hiện mục tiêu trên? Từ thực tế hiện nay cùng với con
đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta là bỏ qua chế độ chủ nghĩa t bản, mà tại
đại hội VII của Đảng ta lần đầu tiên đã khẳng định: Chủ nghĩa Mác- Lênin, t t-
ởng Hồ Chí Minh là nền tảng t tởng, là kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng.
Tức là, chúng ta phải: dùng lập trờng, quan điểm, phơng pháp chủ nghĩa Mác -
Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng
đắn những đặc điểm của nớc ta. Có nh thế chúng ta mới có thể dần dần tìm hiểu
đợc quy luật phát triển của Cách mạng Việt Nam, định ra đợc đờng lối, phơng
châm, bớc đi cụ thể của Cách mạng xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình nớc
ta.
Làm đề tài tiểu luận này, vơí t cách là một sinh viên, một công dân của n-
ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt tôi muốn cùng mọi ngời tìm
hiểu sâu hơn và kĩ hơn về Triết học Mác - Lênin phần chủ nghĩa duy vật biện
chứng. Cụ thể hơn, đó là mối quan hệ biện chứng giữa vật chất với ý thức. Mặt
khác, tôi cũng muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự nghiệp
cách mạng lớn lao của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay- sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội- mà nền tảng t tởng là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là, mọi sách lợc,
chiến lợc cách mạng của chúng ta phải đợc xuất phát từ thực tế khách quan,
phát huy đợc tính năng động chủ quan và đồng thời chống chủ quan duy ý chí.
Đây đợc coi là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi nó quyết định sự thành công
hay thất bại trên con đờng đi tới chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Điều này sẽ đợc lý
giải rõ hơn trong phần nội dung của đề tài.
1
Tiểu luận triết học
1. Quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất với ý thức.
1.1. Vật chất quyết định ý thức.
Trớc tiên chúng ta phải đi tìm hiểu vật chất là gì? Theo Lênin thì Vật
chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan đợc đem lại cho
con ngời trong cảm giác và đợc cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại,
phản ánh lại và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác. nh vậy định nghĩa vật
chất của Lê-nin nổi lên một số nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, vật chất là cái tồn tại khách quan bên ngoài ý thứcvà không
phụ thuộc vào ý thức.
Thứ hai, vật chất là cái gây lên cảm giác ở con ngời khi bằng cách nào đó
(trực tiếp hay gián tiếp) tác động lên các giác quan của con ngời.
Thứ ba, vật chất cái mà cảm giác, t duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản
ánh của nó.
Qua đó, Lênin muốn khẳng định rằng, trong nhận thức luận, vật chất luôn
mang tính thứ nhất, là cái quyết định: vật chất quyết định sự hình thành ý thức,
quyết định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức và nó còn là
điều kiện để hiện thực hoá ý thức.
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên nhất là sinh lý học thần
kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính
của vật chất nhng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của
một dạng vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc ngời. Bộ óc ngời là cơ quan vật
chất của ý thức. Khoa học cũng đã chứng minh đợc rằng, thế giới vật chất nói
chung và trái đất nói riêng đã từng tồn tại rất lâu trớc khi xuất hiện con ngời và
bộ óc ngời, rằng ý thức ra đời là kết quả của sự phát triển lâu dài của giới tự
nhiên cho tới khi xuất hiện con ngời và bộ óc ngời. Hoạt động ý thức của con
ngời diễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ não ngời. Bộ não ngời
bao gồm khoảng 15 đến 17 tỉ tế bào thần kinh, các tế bào này tạo nên vô số các
mối liên hệ nhằm thu nhận, xử lý, truyền dẫn và điều khiển toàn bộ các hoạt
động của cơ thể trong quan hệ đối với thế giới bên ngoài qua cơ chế phản xạ
không điều kiện và có điều kiện.
2
Tiểu luận triết học
Không chỉ có thế, vận động của ý thức, t duy trên thực tế cũng là sản
phẩm của sự vận động của vật chất. Điều đó đợc chứng minh một cách khá rõ
ràng ở hình thức vận động xã hội của vật chất. Đó là sự thay thế lẫn nhau của
các hình thái kinh tế- xã hội, từ đó sớm hay muộn cũng dẫn đến sự thay đổi của
ý thức, của cách nghĩ, bởi tồn tại xã hội bao giờ cũng quyết định ý thức xã hội.
Vai trò cơ sở, quyết định của vật chất còn đợc thể hiện ở chỗ nó quyết
định nội dung phản ánh, quyết định sự biến đổi của ý thức.
Từ nội dung thứ hai trong định nghĩa vật chất của Lênin rằng: Vật chất
mà cái cảm giác, t duy, ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó, mà ta thấy
rằng nội dung phản ánh của ý thức là thế giới bên ngoài, là hiện thực khách
quan. Hay nói nh chủ nghĩa duy vật macxit : ý thức là sự phản ánh thế giới
khách quan vào trong bộ óc của con ngời. Chính vì vậy mà thế giới khách quan
nh thế nào thì ý thức phản ánh nh thế ấy, không nên phản ánh một cách xuyên
tạc, h ảo, bóp méo sự thật về thế giới khách quan nh việc tô vẽ hình tợng các vị
thần linh. Nói cách khác, nội dung phản ánh của ý thức phải lấy cái khách quan
làm tiền đề và bị cái khách quan quy định.
Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức. Do ý thức là chức năng của
bộ não ngời. Hoạt động ý thức không diễn ra ở đâu ngoài những hoạt động sinh
lý thần kinh của bộ não. ý thức phụ thuộc vào hoạt động của bộ não, do đó khi
bộ não bị tổn thơng thì hoạt động ý thức sẽ không đợc bình thờng hoặc bị rối
loạn.
Mặt khác, trong hoạt động của con ngời, nhu cầu vật chất bao giờ cũng
giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định mục đích hoạt động bởi vì con ngời
trớc hết phải đợc thoả mãn nhu cầu vật chất tối thiểu : ăn, ở, mặc rồi mới nghĩ
đến vui chơi, giải trí, các hoạt động tinh thần.Tức là, hoạt động nhận thức của
con ngời trớc hết hớng tới mục tiêu cải biến tự nhiên để thoả mãn nhu cầu sống.
Cuộc sống tinh thần của con ngời phụ thuộc và bị chi phối bởi nhu cầu vật chất
và những điều kiện vật chất hiện có. ý thức con ngời không thể tạo ra các đối t-
ợng vật chất, cũng không thay đổi đợc quy luật vận động của nó. Do đó, mọi
3
Tiểu luận triết học
mục tiêu ớc muốn của con ngời không dựa trên điều kiện vật chất hiện có, trên
mảnh đất hiện thực đều là ớc mơ chủ quan, không tởng.
Ví dụ: Vận dụng trong sự nghiệp công nhiệp hoá, hiện đại hoá của nớc
ta. Trớc kia do không nhận thức đợc rằng mọi chủ trơng đờng lối đều phải dựa
trên điều kiện vật chát hiện có mà chúng ta đã chủ trơng phát triển công nghiệp
nặng trong khi mọi tiền đề vật chất thì cha có. Do đó, chúng ta đã bị thất bại.
Không chỉ có thế, tính thứ nhất của vật chất so với tính thứ hai của ý thức
còn đợc thể hiện ở chỗ vật chất là điều kiện để hiện thực hoá ý thức. Nó quy
định khả năng các nhân tố tinh thân có thể tham gia vào hoạt động của con ng-
ời. Nó tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần này hoặc nhân tố tinh thần khác biến
thành hiện thực và qua đó quy định mục đích, chủ trơng, biện pháp mà con ngời
đề ra cho hoạt động của mình bằng cách chọn lọc, sửa chữa, bổ sung, cụ thể hoá
các mục đích, chủ trơng biện pháp đó.
Khi khẳng định vai trò cơ sở, quyết định trực tiếp của vật chất đối với ý
thức, chủ nghĩa duy vật macxit đồng thời cũng vạch rõ sự tác dộng trở lại vô
cùng quan trọng của ý thức đối với vật chất.
1.2. ý thức tác động trở lại vật chất.
ý thức do vật chất sinh ra song sau khi ra đời, ý thức có tính độc lập t-
ơng đối nên có sự tác động trở lại to lớn đối với vật chất thông qua hoạt động
thực tiễn của con ngời.
ý thức đúng đắn là ý thức dựa trên quy luật khách quan của con ngời. Do
đó nó có tác động tích cực, làm biến đổi hiện thực, vật chất khách quan theo
nhu cầu của mình.
ý thức sai lầm, trái quy luật khách quan của con ngời có tác động tiêu
cực thậm chí phá hoại các điều kiện khách quan, hoàn cảnh khách quan, kéo lùi
lịch sử. Bởi mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ tác động qua lại.
Không nhận thức đợc điều này sẽ rơi vào quan niệm duy vật tầm thờngvà bệnh
nảo thủ trì trệ trong nhận thức và hành động.
4
Tiểu luận triết học
Nói tới vai trò của ý thức về thực cất là nói tới vai trò của con ngời bởi ý
thức là ý thức của con ngời.
Trái với các nhà triết học duy tâm muốn biến ý thức của con ngời thành
động lực của lịch sử, Cácmac và Ph.Ăngghen đã khẳng định: Xa nay, t tởng
không thể đa ngời ta vợt ra ngoài trật tự thế giới cũ đợc, trong bất cứ tình
huống nào, t tởng cũng chỉ có thể đa ngời ta vợt ra ngoài phạm vi t tởng của
trật tự thế giới cũ mà thôi. Thật vậy, t tởng căn bản không thể thực hiện đợc
cái gì hết. Muốn thực hiện t tởng thì cần có những con ngời sử dụng lực lợng
thực tiễn. Điều đó cũng có nghĩa là con ngời muốn thực hiện các quy luật khách
quan thì phải nhận thức, vận dụng đúng đắn các quy luật đó, phải có ý chí và
phơng pháp để tổ chức hành động. Nh vậy vai trò của ý thức là ở chỗ nó giúp
con ngời đề ra chủ trơng, đờng lối, chính sách, những mục đích, kế hoạch, biện
pháp, phơng hớng phù hợp với thực tế khách quan. Nói nh vậy có nghĩa là cũng
có những ý thức khoa họcvà những ý thức không khoa học so với hiện thực
khách quan, tơng ứng với nó là hai tác động trái ngợc nhau tích cực và tiêu cực
của ý thức đối với vật chất.
Vai trò tích cực của ý thức, t tởng không phải ở chỗ nó trực tiếp tạo ra
hay thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức thế khách quan từ đó hình thành
đợc mục đích, phơng hớng, biện pháp đúng đắn đồng thời có ý chí, quyết tâm
cần thiết cho hoạt dộng của mình. Sức mạnh cuả ý thức con ngời không phải ở
chỗ tách rời điều kiện vật chất, thoát ly hiện thực khách quan, mà là biết dựa
vào điều kiện vật chất đã có, phản ánh đúng quy luật khách quan để cải tạo thế
giới khách quan một cách chủ động, sáng tạo với ý chí và quyết tâm cao nhằm
phục vụ lợi ích của con ngời và xã hội. Con ngời nhận thức và phản ánh thế giới
thế giới khách quan càng đầy đủ chính xác bao nhiêu thì cải tạo chúng càng có
hiệu quả bấy nhiêu. ở đây vai trò năng động sáng tạo của ý thức, của nhân tố
chủ quan của con ngời có vị trí hết sức quan trọng. Bảo thủ trì trệ hoặc tiêu cực
thụ động, ỷ lại ngồi chờ chính là kìm hãm sự phát triển, triệt tiêu tính năng động
tích cực sáng tạo của ý thức.
5
Tiểu luận triết học
Mặt khác, do có tính vợt trớc, nên ý thức giúp cho hoạt động của con ng-
ời trở nên tự giác, tích cực, chủ động hơn nh trong việc dự báo, lập kế hoạch, đề
ra đờng lối, phơng pháp hành động.
Vai trò của ý thức còn thể hiện ở vai trò của tri thức, trí tuệ, tình cảm và ý
chí. Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động
lực của thực tiễn. Không có sự thúc đẩy của tình cảm, ý chí, hoạt động thực tiễn
sẽ diễn ra một cách chậm chạp, thậm chí không thể diễn ra đợc. Nhờ ý chí và
tình cảm, ý thức quy định tốc độ và bản sắc của hoạt động thực tiễn. Tinh thần,
dũng cảm, dám nghĩ dám làm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm, tình yêu, niềm say
mê với công việc, khả năng sáng tạo và vợt qua khó khăn nhằm đạt tới mục tiêu
xác định đều có ảnh hởng to lớn đến hoạt động thực tiễn làm cho nó diễn ra
nhanh hay chậm. Tuy nhiên, ý chí, tình cảm chỉ là động lực mà không thể là
kim chỉ làm cho hoạt động thực tiễn. Bởi vì, sự thành công hay thất bại của hoạt
động thực tiễn, tác dụng tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển
của tự nhiên và xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo ý thức. Chính vì
vậy phải biết kết hợp giữa tri thức, trí tuệ, khoa học với ý chí, tình cảm. Bởi tri
thức càng đợc tích luỹ, con ngời ngày càng đi sâu vào bản chất sự vật và cải tạo
sự vật có hiệu quả hơn.
Tuy nhiên cơ sở cho việc phát huy tính năng động chủ quan của ý thức là
việc thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất, của các quy luật tự
nhiên và xã hội. Nếu nh thế giới vật chất với những thuộc tính và quy luật
vốn có của nó tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con ngời thì
trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, lấy
thực thể khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình. Chính vì vậy,
Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, không đợc lấy ý muốn chủ quan của mình
làm chính sách, không đợc lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lợc và
sách lợc cách mạng. Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, nếu lấy ý chí áp đặt
cho thực tế, lấy ảo tởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc phải bệnh chủ quan duy ý
chí.
6
Tiểu luận triết học
Không chỉ có thế, khi vai trò chỉ đạo của ý thức phạm sai lầm thì tinh
thần, dũng cảm, lòng nhiệt tình, chí quyết tâm cũng làm cho hoạt động thực tiễn
thất bại một cách nhanh chóng.
Qua những điều vừa trình bày ở trên về mối quan hệ giữa vật chất với ý
thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chúng ta có thể rút ra một ý nghĩa hết
sức quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con ngời nh sau: Mọi hoạt động
của con ngời ( cả hoạt động nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn) đều phải xuất
phát từ thực tế khách quan, phát huy đợc tính năng động sáng tạo của ý thức, t t-
ởng, của nhân tố chủ quan của con ngời và đồng thời chống chủ quan duy ý chí.
2. Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa vật chất
với ý thức vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay
2.1. Xuất phát từ thực tế khách quan từ đó đề ra đờng lối, chủ trơng, chính
sách, kế hoạch, phơng hớng, mục tiêu đúng đắn cho sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay.
Chúng ta khẳng định: Chủ nghĩa xã hội nhất định sẽ thay thế chủ nghĩa t
bản nh chủ nghĩa t bản đã thay thế chế độ phong kiến. Đó là quy luật khách
quan của lịch sử loài ngời. ở nớc ta, chủ nghĩa xã hội cũng nhất định sẽ đợc xây
dựng thành công trong sự gắn bó giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Xuất phát từ đâu và đi theo con đờng nào? Chỉ có thể và phải xuất phát từ
những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nớc Việt Nam và con ngời
Việt Nam, của dân tộc và lịch sử trong bối cảnh khu vực thế giới hiện đại, theo
quy luật chung mà chủ nghĩa Mac Lênin đã nêu ra.
Thực tế là, chúng ta bớc vào con đờng xã hội chủ nghĩa từ một xuất phát
điểm về kinh tế xã hội rất thấp - nhất là lực lợng sản xuất. Đó là tình trạng sản
xuất nhỏ, kinh tế tự nhiên, kinh tế hiện vật còn khá phổ biến, kỹ thuật thô sơ,
thủ công nửa cơ khí. Sản xuất hàng hoá còn cha trở thành phổ biến, thị trờng bị
chia cắt, thậm chí có nơi, có lúc khép kín kể cả trong kinh tế đối ngoại. Phơng
thức tổ chức, quản lý nền kinh tế dựa trên lĩnh vực kinh tế của chúng ta là tập
trung lực lợng sản xuất, đổi mới phơng thức, tổ chức quản lý, phân phối sản
phẩm.
7
Tiểu luận triết học
Muốn phát triển lực lợng sản xuất, chúng ta phải đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá trên cả quy mô bề rộng lẫn chiều sâu, tạo đờng băng để đất n-
ớc cất cánh một cách hiện thực hớng tới năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp hoá chứ không dừng lại ở phơng hớng chung. Nghĩa là,
phải xây dựng một chơng trình khả thi cho cả công nghiệp, nông nghiệp và các
ngành kinh tế khác, chú trọng cho phát triển nông nghiệp, cho các vùng kinh tế
xã hội trọng điểm, cho vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng

Trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2001 2010 của
Đảng ta đã khẳng định : con đờng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nớc ta cần
và có thể rút ngắn thời gian so với các nớc đi trớc, vừa có những bớc tuần tự vừa
có những bớc nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nớc, tận dụng mọi khả
năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và
công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và
phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, bảo đảm cho
khoa học và công nghệ thật sự trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp và động lực
chủ yếu trong phát triển kinh tế xã hội, khắc phục nguy cơ tụt hậu về khoa
học và công nghệ. Trong thời đại cách mạng thông tin hiện nay, chúng ta không
có sự lựa chọn nào khác
là phải tiếp cận nhanh chóng với tri thức và công nghệ mới của thời đại để từng
bớc phát triển kinh tế trí thức. Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần
của ngời Việt Nam, coi phát triển giáo dục và đào tạo là nền tảng và động lực
của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bởi nhân tố con ngời đóng vai trò
hết sức quan trọng trong sự phát triển lực lợng sản xuất.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: Con đờng
đi lên của nớc ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t
bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập hệ thống chính trị của quan hệ sản
xuất và kiến trúc thợng tầng t bản chủ nghĩa, nhng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà mà nhân loại đã đạt đợc dới chế độ t bản chủ nghĩa, đặc biệt là về
khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lợng sản xuất, xây dựng nền
8
Tiểu luận triết học
kinh tế hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa, tạo
ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó
khăn, phức tạp cho nên phải trải qua một thời kì quá độ lâu dài với nhiều chặng
đờng, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ. Trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái mới và cái
cũ.
Khi khẳng định: chúng ta phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân
loại đã đạt đợc dới chế độ t bản chủ nghĩa, tức là, chúng ta lựa chọn, sử dụng
những thành tựu có lợi cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên phơng
diện này cần phải xem chủ nghĩa t bản không chỉ là một đối trọng mà quan
trọng hơn đồng thời là một đối tác.
Đây là một vấn đề rất quan trọng đối với nớc ta đi lên chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa. Muốn chủ nghĩa xã hội thành công thì không thể
không sử dụng chủ nghĩa t bản với t cách là một nấc thang văn minh nhân loại.
Nh Mac đã nói: chúng ta đau khổ vì chủ nghĩa t bản và cũng đau khổ vì
không có nó. Tức là, chúng ta đau khổ vì quan hệ sản xuất sở hữu t nhân t bản
chủ nghĩa về t liệu sản xuất, nhng có lẽ chúng ta còn đau khổ hơn nếu nh không
có lực lợng sản xuất khổng lồ của nó, đó chính là: Tiền đề thực tiễn tuyệt đối
cần thiết (C.Mác và Ph.Ăngghen).
Định hớng và tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội tất yếu phải kế thừa
và sử dụng lực lợng sản xuất do nhân loại tạo ra và phát triển trong điều kiện
của xã hội t bản chủ nghĩa, chẳng hạn đó là: thành tựu khoa học, kỹ thuật, và
công nghệ môi trờng, là cơ chế thị trờngvới nhiều hình thức cụ thể tác động
vào quan điểm phát triển kinh tế, nhất là những mặt tích cực của nó. Nói nh vậy
không có nghĩa là lặp lại hoàn toàn quá trình xây dựng lực lợng sản xuất đó
trong lịch sử.
ở nớc ta, lực lợng sản xuất cần phát triển song hành hai phơng thức: tuần
tự (từ thủ công đến nửa cơ khí rồi cơ khí) và nhảy vọt theo lối đi tắt, đón đầu (từ
thủ công đi thẳng vào hiện đại) sao cho trong một thời gian ngắn, thậm chí rât
ngắn chúng ta đạt trình độ với các nớc tiên tiến trong khu vực
9
Tiểu luận triết học
Song chúng ta phải biết rằng, lực lợng sản xuất chỉ có thể phát triển gắn
liền với quan hệ sản xuất phù hợp. Vì vậy, Đảng và nhà nớc ta đã chủ trơng thực
hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trờng, có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Từ đó, phát triển lực lợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật
chất - kinh tế của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực
lợng sản xuất hiện đại tới mức xã hội hoá gắn liền với xây dựng quan hệ sản
xuất mới phù hợp trên cả 3 mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu,
nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nớc giữ vai trò chủ đạo, kinh tế
nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc. Kinh
tế thị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nớc. Nhà nớc
ta là nhà nớc xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật,
chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, sử dụng cơ chế thị trờng, áp dụng
các hình thức kinh tế và phơng pháp quản lý của kinh tế thị trờng để kích thích
sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy đợc mặt tích cực, hạn chế và khắc
phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trờng, bảo vệ lợi ích của ngời lao động, của
toàn thể nhân dân.
Muốn đảm bảo cho nền kinh tế thị trờng có điều kiện tồn tại và phát
triển, chúng ta phải thừa nhận sự tồn tại một cách tất nhiên và khách quan của
các quy luật: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh trong
nền kinh tế. Vì nó là cái khách quan nên chúng ta phải chú ý không nên đi ngợc
lại nếu không thì chẳng bao giờ có thể xây dựng nền kinh tế thị trờng theo định
hớng xã hội chủ nghĩa.
Nhng bên cạnh những mặt tích cực của nền kinh tế thị trờng là: phát triển
nhanh lực lợng sản xuất, nâng cao mức sống, mức thu nhập của ngời lao động
lên thì mặt trái của nó trong một vài năm trở lại đây đang đợc phát huy một
cách mạnh mẽ, sự chênh lệch thu nhập dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo trong
10
Tiểu luận triết học
lao động, tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo đức của một
số cán bộ, công chức nhà nớc
Trớc thực tế đó, Đảng và nhà nớc cần có những biện pháp phân phối hợp
lý, không chỉ có phân phối theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế mà còn phân
phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và
thông qua phúc lợi xã hội. Ngoài ra chúng ta cần có những biện pháp khuyến
khích làm giàu một cách chính đáng. Đối với thu nhập, nhà nớc cần có cơ sở
điều tiết thu nhập (thuế thu nhập), cải cách cơ bản chế độ tiền lơng. Đối với ng-
ời nghèo và có hoàn cảnh khó khăn cần có chính sách xã hội hợp lý: bàn cách
làm giàu mặt khác cần kiên quyết chống những thu nhập bất chính.
Đáng sợ hơn đó là tệ nạn quan liêu, tham nhũng, suy thoái phẩm chất đạo
đức của nhiều cán bộ, công chức nhà nớc nằm ngay trong bộ máy nàh nớc, nó
gây ra bất công xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của
Đảng, vào con đờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở vai trò của công tác xây dựng
Đảng, nhà nớc trong sạch, vững mạnh là hết sức quan trọng.
Nói chung, chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua việc xác lập hệ thống
chính trị của chủ nghĩa t bản không phải là không có kế thừa và chọn lọc những
quan hệ sản xuất, những hình thức kinh tế t bản chủ nghĩa khi nó cha hết tác
dụng tích cực ngya trong thời kỳ quá độ. Đây chính là những cây cầu nhỏ,
những bớc trung gian quá độ đa chúng ta tới phòng chờ trực tiếp đi và chủ
nghĩa xã hội.
Về nặt kiến trúc thợng tầng, chúng ta cũng kế thừa và chọn lọc để xây
dựng nhà nớc hiến pháp của xã hội chủ nghĩa điều khiển nền kinh tế thị trờng.
Chúng ta xác định mục tiêu: chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng
là một chế độ xã hội vì con ngời và do con ngời. Để tiến hành đến mục tiêu xây
dựng thành công xã hội chủ nghĩa phải gắn liền với tăng trởng kinh tế, với công
bằng xã hội, với tiến bộ xã hội, phải ra sức thực hiện các chính xác xã hội. Đảng
ta khẳng định: chính xác xã hội đúng đắn vì hạnh phúc con ngời là động lực
to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tại của nhân dân trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, bởi không có đầu t nào có lợi nh đầu t cho con ngời
11
Tiểu luận triết học
. Chính sách xã hội của Đảng đợc thể hiện trên tất cả các mặt của đời sống:
quan tâm chăm sóc đối với những ngời có công với cách mạng, chính sách đền
ơn đáp nghĩa (xây nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa). Trong kihn tế, tạo ra
nhiều công ăn việc là mới cho ngời lao động, cải cách chế độ tiền lơng theo h-
ớng xoá bỏ thu nhập bình quân, tiền tệ hoá tiền lơng, khuyến khích tài năng,
đâu t đúng mức cho các ngành: y tế, giáo dục, văn hoá- nghệ thuật, nghiên cứu
khoa học. Thực hiện chính sách dân số là một mục tiêu hết sức quan trọng trong
điều kiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta hiện nay.
Nhng dù sao đó mới chỉ là những chủ trơng, đờng lối đối với tình hình
trong nớc. Vậy còn quốc tế thì sao?
Thứ nhất, cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học tiếp tục có những bớc nhảy vọt, ngày càng trở thành lực
lợng sản xuất trực tiếp, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tri thức. Nớc ta một
mặt có cơ hội rút ngắn khoảng cách so với các nớc phát triển, cải thiện vị thế
của mình. Đồng thời đứng trớc nguy cơ tụt hậu xa hơn nếu không tranh thủ đợc
cơ hội, khắc phục đợc những yếu kém để vơn lên. Điều này đòi hỏi các nhà
doanh nghiệp phải hết sức nhanh nhạy nắm bắt thông tin, áp dụng những thành
tựu của khoa học công nghệ vào trong kinh doanh, có nh thế mới mong có cơ
hội phát triển.
Thứ hai, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn các nớc, bao
trùm hầu hết các lĩnh vực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và
tính tuỳ thuộc nhau giữa các nền kinh tế. Nớc ta cũng không thể nằm ngoài
vòng xoáy đó.
Vậy chúng ta phải làm thế nào để vừa có thể hội nhập kinh tế quốc tế,
tham gia vào xu thế toàn cầu hoá lại vừa có thể giữ vững đợc nền kinh tế độc lập
tự chủ.
Trớc tiên phải tính đến vai trò của bộ máy nhà nớc. Theo chỉ dẫn của
Lênin thì bộ máy nhà nớc cần phải vừa mềm dẻo vừa hết sức cứng rắn: Ngày
nay cần có sự mềm dẻo tối đa, mà muốn thế, muốn ứng biến một cách mềm
dẻo thì bộ máy phải thực sự cứng rắn. Phải mềm dẻo vì đây là thời kỳ quá độ,
12
Tiểu luận triết học
biện pháp quá độ. Phải cứng rắn vì đây là cuộc chiến tranh kinh tế, cuộc
chiến tranh ai thắng ai giữa chủ nghĩa t bản và chủ nghĩa xã hội. Bởi kẻ nào
nắm thống trị về kinh tế thì dần dần sớm muộn cũng sẽ thống trị cả về chính trị
(áp dụng mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thợng tầng).
Thứ hai, đó là chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội mang bản sắc dân tộc
vận hành trớc xu thế toàn cầu hoá, chủ động mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế
nhng phải giữ vững nền kinh tế độc lập tự chủ. Bởi vì không có bản lĩnh và
không có bản sắc độc đáo riêng đợc giữ gìn, bảo vệ và phát huy thì không thể
đứng vững trong giao lu hợp tác và hội nhập quốc tế. Phải làm cho văn hoá
thấm sâu vào tâm lý, ý thức dân chúng, là nội dung của kinh tế, chinh trị , xã
hội trong phát triển. Văn hoá ở trong kinh tế chính trị là vậy. Mà giá trị cao
nhất, sâu nhất của văn hoá lại là con ngời. Nó phải là chỗ quy tụ của mọi đờng
lối, chủ trơng, chính sách, cơ chế, giải pháp. Một lần nữa chúng ta khẳng định
vai trò của con ngời trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nớc ta. Vì vậy
nớc ta phải đầu t hơn nữa cho việc phát triển con ngời mà cụ thể là sự nghiệp
giáo dục- đào tạo phải đợc: đổi mới phơng pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học
từ mầm non tới sau đại học. Chú trọng đến giáo dục đào tạo ở bậc tiểu học và
trung học cơ sở. Bởi không có cái lợi nào bằng cái lợi đầu t cho con ngời.
Mặt khác, ta còn phải nâng cao năng lực và hiệu quả chủ động hội nhập quốc tế
theo hớng đẩy nhanh tốc độ và khả năng nội sinh hoá những sức mạnh bên
trong nhằm thâu thức, tích tụ và tăng cờng nội lực đất nớc để hội nhập một cách
mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc mà vẫn giữ đợc bản sắc Việt nam.
Hiện nay, các thế lực thù địch với những diễn biến hoà bình vẫn đang
đe dọa hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở nớc ta. Từ thực tế đó đòi hỏi Đảng
và nhà nớc ta phải ra sức tăng cờng an ninh quốc phòng, ra sức đổi mới hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nớc, của thời đại.
2.2. Phát huy vai trò của tính năng động chủ quan và chống chủ quan duy ý
chí.
Bên cạnh một số chính sách, biện pháp nhằm đa đất nớc ta vững bớc trên
con đờng xã hội chủ nghĩa nh đã trình bày ở trên, ta không thể không kể đến vai
13
Tiểu luận triết học
trò thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nnghĩa xã hội tiến nhanh và xa hơn đó là
tính năng động, chủ quan, đó là khối đại đoàn kết toàn dân và đó còn là ý chí,
nhiệt tình, quyết tâm thực hiện cho đợc xã hội xã hội chủ nghĩa trên đất nớc
Việt Nam.
Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ,
khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan,
của tính năng động chủ quan. Đó chính là những phát minh vĩ đại, những đờng
lối chính sách đứng đắn có tính chất quyết thắng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp sáng tạo vĩ đại của
đông đảo quần chúng. Không có ý chí, hoài bão lớn, nghị lực lớn thì không thể
thực hiện đợc những nhiệm vụ trọng đại, khó khăn phức tạp cha từng có trong
lịch sử dân tộc. Vấn đề là ở chỗ mọi nhiệt tình và ý chí cách mạng hiện nay phải
gắn liền với chi thức, hiểu biết, đặt trên cơ sở khoa học, sự phát triển tiềm lực trí
tuệ của cả dân tộc.
Không có khoa học, không có sự phát triển mạnh mẽ nguồn lực trí tuệ thì
không thể dẫn dắt xã hội đi tới văn minh, hiện đại. Do đó, phải quy tụ mọi tài
năng của công dân, tập hợp trí tuệ và phát huy sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc.
Đây phải đứng ở đỉnh cao và là chỗ kết tinh tài năng ý chí chỉ đạo, bản lĩnh giai
cấp và dân tộc, biểu hiện tinh thần thời đại.
Bớc vào thế kỷ XXI, chúng ta tin chắc vào thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, tin chắc chủ nghĩa xã hội nhất định
thành công, nhất định tiếp tục đi theo con đờng đã chọn, dù một thế kỷ hay lâu
hơn nữa cũng không nao núng. Đó phải chăng là sự khẳng định một ý chí lớn,
một niềm tin lớn, một quyết tâm lớn mà nếu không có thì sẽ không tiếp tục cụ
thể hoá và từng bớc đa vào cuộc sống những điều ghi trong cơng lĩnh xây dựng
đất nớc trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội cũng nh trong Đại hội Đảng
lần thứ IX.
Với ý chí quyết tâm đa nớc ta thoát khỏi nghèo làn, lạc hậu, thhì
không thể chậm chễ trong công nghiệp hoá, hiện đại hhoá đất nớc, để nhanh
chóng thu hẹp khoảng cách giữa nớc ta với các nớc phát triển.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét