Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
thì không hoàn toàn giống nhau; mà nó tuỳ thuộc vào từng Nhà nước nhất định,
với tình hình kinh tế- xã hội nhất định và định hướng phát triển kinh tế cụ thể
trong từng thời kỳ lịch sử.
Hiện nay, tuỳ góc độ mà có các khái niệm khác nhau về thuế, đứng ở
góc độ pháp luật thì: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể
nhân và pháp nhân, được Nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp
luậ
t nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”. Đồng thời thuế là
công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt nhạy bén và hiệu quả. Tính hợp lý của các
hình thức và biện pháp thuế khiến cho thuế trở thành công cụ điều tiết sắc bén,
đa diện và thâm nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế.
1.2 BẢN CHẤT CỦA THUẾ:
Bản chất của thuế gắn liề
n với bản chất của Nhà nước. Nhà nước
mang bản chất nào thì thuế mang bản chất của giai cấp mà Nhà nước đó đại
diện. Trong xã hội phong kiến, Nhà nước vương quyền dùng thuế là phương
tiện bóc lột, vơ vét của nhân dân bị trị để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu theo ý
chí riêng của giai cấp mình mà không quan tâm đến lợi ích nhân dân. Đến xã
hội tư bản, cũng là xã hội có giai cấp đối kháng là tư sả
n- vô sản, thuế đã đóng
vai trò to lớn trong nền kinh tế xã hội, thực hiện được nhiều chức năng của nó
nhưng xét về bản chất vẫn phục vụ cho giai cấp tư sản- giai cấp thống trị. Nhà
nước ta là Nhà nước của dân do dân và vì dân nên thuế nước ta mục tiêu cuối
cùng cũng phục vụ lợi ích nhân dân. Quan điểm của Nhà nước ta về thuế là
việc động viên vào ngân sách Nhà nướ
c phải vừa hài hòa về lợi ích kinh tế và
xã hội, vừa đảm bảo nguồn thu tài chính để Nhà nước thực hiện các chức năng
điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ an ninh
quốc phòng.
1.2.1 Bản chất kinh tế:
Thuế là một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung để phục vụ
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Kinh tế là cơ
sở của thuế, thuế gắn chặt chẽ
với sản xuất, kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức và cá nhân để
động viên và điều hoà thu nhập, điều tiết kinh tế (điều tiết sản xuất và tiêu
dùng). Nguồn thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
5
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
nhanh trên cơ sở kinh tế được phát triển và đạt hiệu quả cao. Ngược lại, qua
thu thuế phải góp phần kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy thực
hành tiết kiệm về mọi mặt trong sản xuất và tiêu dùng một cách hợp lý để tạo
nguồn thu thuế ngày càng lớn hơn. Chính vì vậy nếu Nhà nước tăng mức động
viên thuế quá cao chỉ nhằm mục đích đơn thuần tăng thu ngân sách để
đáp
ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà bỏ qua yêu cầu đảm bảo sự tăng
trưởng kinh tế thì thường gặp thất bại, dễ dẫn đến hậu quả xấu về nhiều mặt.
1.2.2 Tính cưỡng chế của thuế:
Đây là một phạm trù độc đáo và có nét riêng. Tính cưỡng chế được thể
hiện thông qua các điều khoản pháp luật. Thuế không thể xây dựng trên và
dung hòa với tư tưởng tự nguyện; khoản thuế thu được không thể trông chờ
vào thiện chí hay nhiệt tình của dân chúng đối với Nhà nước. Thuế thể hiện ý
chí toàn dân chứ không riêng ai cả.
1.2.3 Tính không có đối giá trực tiếp:
Nộp thuế cho Nhà nước không giống chi tiền mua một sản phẩm hay
dịch vụ nào đó để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng riêng tư. Nộp thuế là một nghĩa
vụ không thể thoái thác và khối lượng các lợi ích mà người n
ộp thuế nhận
được từ Nhà nước không liên quan gì đến khối lượng thuế đã chi trả. Người
nộp thuế không nhận lại được lợi ích tương xứng với khoản họ đóng góp.
Khoản tiền từ thuế sẽ được Nhà nước sử dụng vào những mục tiêu chiến lược
và lâu dài, nó quay lại phục vụ cho người dân nhưng gián tiếp và rất khó nhận
thấy.
1.2.4 Thuế
được dùng vào chi tiêu công cộng:
Đặc tính này giảm nhẹ ý niệm cưỡng bức của thuế. Ngày nay, quyền lực
công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nước do dân chúng
điều khiển nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu thuế cũng do dân chúng quyết
định. Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ phận thuế thu
được chuyển giao lại cho người dân khi Nhà nước chi ngân sách cho văn hoá,
thông tin, thể dục thể thao,giáo dụ
c, y tế, bảo trợ xã hội cho các chương trình
nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi trường, chống tệ nạn xã hội…Ví dụ
như tổng thu trên địa bàn An Giang năm 2003 là 1.892.010 triệu đồng, trong đó
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
6
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
thu từ thuế, phí và lệ phí là 444.000 triệu đồng, chiếm 23,47% tổng thu ngân
sách Nhà nước của tỷnh. Số tiền phục vụ chi quản lý hành chính là 100 tỷ
đồng, chi giáo dục đào tạo là 359,5 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển 654,6 tỷ đồng,
chi y tế là 78 tỷ…Tổng chi lên đến 1.642,7 tỷ đồng, chiếm 86,82% so tổng thu.
Điều này cho thấy nguồn thu từ thuế chủ yếu phục vụ cho chi tiêu công cộng.
1.2.5 Tính vĩnh viễn:
N
ộp thuế cho Nhà nước không giống cho Nhà nước vay nên không thể
đòi lợi tức và vốn đáo hạn. Thuế được dùng vào tài trợ công chi, mà phần lớn
công chi là những khoản cấp phát, cho không. Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho
chính phủ là san sẻ một phần gánh nặng công chi.
Xét về bản chất, thuế là một hình thức tái phân phối thu nhập xã hội do
các doanh nghiệp và dân chúng sáng tạo hình thành nên ngân sách Nhà nước,
nhằm tài trợ các nhu cầu chi tiêu công cộng. Xét về hiện tượng thu
ế là quá
trình chuyển dịch một chiều thu nhập xã hội từ khu vực tư vào khu vực công
cộng. Như vậy nộp thuế thực chất là quá trình chuyển dịch chi tiêu tư thành chi
tiêu vì lợi ích chung.
Tái phân phối thu nhập xảy ra khi một tư nhân đóng một khoản tiền thuế
cho Nhà nước và nhận lại không tương xứng phần “lợi ích” từ công chi. Nếu tư
nhân đó nhận được “lợi ích” từ công chi tươ
ng xứng với số tiền thuế anh ta đã
nộp thì không có sự tái phân phối. Tái phân phối thu nhập xã hội gồm: tái phân
phối theo chiều dọc và tái phân phối theo chiều ngang. Tái phân phối theo
chiều dọc nhằm san sẻ thu nhập của các doanh nghiệp và cá nhân giàu; tái
phân phối chiều ngang nhằm điều hòa thu nhập của các doanh nghiệp và cá
nhân các ngành, lĩnh vực hoặc các giới khác nhau. Trên thực tế những khác
biệt giữa hai loại thuế là rất mờ nh
ạt.
Tóm lại, thuế là một đặc quyền chỉ thuộc Nhà nước và thể hiện sức
mạnh của Nhà nước trong dời sống xã hội. Nhà nước dùng thuế để tái phân
phối thu nhập xã hội và điều chỉnh kinh tế vĩ mô.
1.3 VAI TRÒ CỦA THUẾ
Nền kinh tế các nước trên thế giới hiện nay diễn ra đều có sự quản lý
của Nhà nước, mức động viên tùy từng quốc gia như
ng không ai có thể phủ
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
7
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
nhận vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Và tích cực hay tiêu cực thể hiện
trội hơn thì tuỳ từng phương thức điều hành, quản lý. Thuế cũng vậy, bản thân
thuế cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội tại; vai trò của thuế là rất to lớn, rất
quan trọng nhưng đến mức nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Vai trò của
thuế hiện nay vẫn t
ồn tại nhiều quan điểm, đôi khi trái ngược nhau. Nhưng nhìn
chung toàn bộ hệ thống thuế trong cơ chế thị trường có các vai trò cơ bản sau:
1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà
n ước:
Thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Thuế là
công cụ chủ yếu để tập hợp và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc đân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thuế được thu
dựa trên cơ sở thu nhập xã hội nên nền kinh tế phát triển ổn định thì nguồn thu
cũng ổn định. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải bao quát
hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng
xã hội để đảm b
ảo thu đầy đủ và hợp lý.
Như vậy, để đảm bảo thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách
Nhà nước thì cần có chính sách, hệ thống thuế phù hợp với khả năng của nền
kinh tế, với sức đóng góp của nhân dân và giúp thực hiện mục tiêu kinh tế tăng
trưởng cao và ổn định.
Điểm giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí:
Thuế, phí và lệ
phí giống nhau ở chỗ đều là khoản thu của ngân sách
Nhà nước ; đều là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân đóng góp cho Nhà
nước; đều chứa đựng tính quyền lực của Nhà nước…
Ngoài ra, thuế và phí, lệ phí về mặt kinh tế còn khác nhau về mục đích
sử dụng số tiền thu được và tính hoàn trả cho người nộp: mọi khoản thuế thu
được đều tập trung vào ngân sách Nhà nước nhằm đáp
ứng nhu cầu chi tiêu
chung của Nhà nước, nguồn thu cho mọi loại thuế không gắn với một mục đích
chi nhất định. Trong khi phí, lệ phí thường gắn với một mục tiêu chi cụ thể cho
một hoạt động cụ thể của Nhà nước. Mặt khác thuế không mang tính hoàn trả
trực tiếp và ngang giá như phí, lệ phí, chỉ khi được hưởng lợi ích hay dịch vụ
công cộng mới phải nộp phí, lệ phí và khi phát sinh nhu c
ầu thì mới thu.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
8
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Từ đó cho thấy, thuế là nguồn thu cơ bản của Nhà nước, các khoản thu
khác như phí, lệ phí chỉ mang tính hỗ trợ và được xem là khoản thu để giảm
chi.
1.3.2 Thuế góp phần điều chỉnh nền kinh tế:
Ngoài việc huy động cho thu ngân sách Nhà nước, thuế còn có vai trò
quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến
giá cả và thu nhập nên căn cứ vào t
ừng tình huống kinh tế, Nhà nước có thể sử
dụng thuế làm công cụ điều chỉnh nền kinh tế. Lúc nền kinh tế đang tăng
trưởng cao thì một chính sách tăng thuế sẽ ức chế sự phát triển ngay lập tức.
Ngược lại, trong hoàn cảnh kinh tế sa sút, sản xuất trì trệ thì việc hạ thấp thuế
sẽ có tác dụng nâng cao nhu cầu, xúc tiến phục hưng nền kinh tế. Đấ
y là
những ví dụ đơn giản về tác động của chính sách thuế đối với nền kinh tế.
Trong thực tế thì một cơ chế thuế có rất nhiều tác động đối với mọi thành phần
kinh tế. Do vậy, cần ban hành chính sách thuế trên tầm nhìn tổng quan có sự
tác động qua lại giữa các mặt kinh tế- chính trị- xã hội để Nhà nước có thể chủ
động phát huy vai trò điều hòa, thúc đẩy kinh tế phát tri
ển.
Các qui định về đối tượng, pham vi đánh thuế, thuế suất, điều kiện miễn,
giảm thuế… Xét về hiện tượng thì mang tính cưỡng chế nhưng bản chất là
nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế nhất định, nhằm khuyến khích hay hạn
chế đầu tư vào ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bởi đơn giản là,
ng
ười nộp thuế sẽ thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn.
Tóm lại, thông qua thuế Nhà nước tác động tích cực đến việc thúc đẩy
sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý mọi nguồn nhân lực,
vật lực của đất nước trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu và cơ cấu kinh tế.
1.3.3 Thuế góp phần đảm b
ảo bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế và công bằng xã hội:
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành
phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã
hội về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, không có những đặc quyền,
đặc lợi bất hợp lý cho đối tượng nào.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
9
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Sự bình đẳng và công bằng thể hiện thông qua chính sách động viên
giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những
điều kiện hoạt động giống nhau. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân có điều hoạt
động, hoàn cảnh khác nhau thì sự bình đẳng, công bằng phải được xét đoán
dựa trên nhiều yếu tố chứ không chỉ dựa vào mức thuế suất hay phạm vi đánh
thuế. Cầ
n phân biệt rõ giữa công bằng xã hội và bình quân chủ nghĩa- mọi
người nộp thuế như nhau mới là công bằng thì không đúng. Ví dụ như đánh
thuế cao lên người có thu nhập cao nhưng đồng thời cần có những qui định
khác để khuyến khích họ đầu tư chất xám, đầu tư vốn, cải tiến kĩ thuật- công
nghệ để ngày càng nâng cao thu nhập thì đã là công bằng.
Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ
là đạo lý, lý thuyết mà phải được
biểu hiện bằng Luật pháp, chế độ, qui định rõ ràng của Nhà nước để buộc mọi
người phải tuân theo, điển hình là thuế. Công bằng còn thể hiện ở việc Nhà
nước có những biện pháp chống thất thu hiệu quả; chế độ miễn, giảm thuế hợp
lý; kiểm tra xử lý nghiêm minh những vụ vi phạm; khắc phục tình trạng cửa
quyền, móc ngoặc, tham ô… của cán bộ thuế;
1.4 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT THUẾ GIÁ TRỊ GIA
TĂNG, THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP:
1.4.1 Hệ thống thuế ở Việt Nam hiện nay:
Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc mở của và đổi mới nền kinh
tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990- một hệ
thống thuế được hình thành bao gồm chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế.
Giai đoạn này đã có được một hệ thống thuế tương đối hoàn chỉnh. Đến nay,
hệ thống pháp luật về thuế đã được hoàn thiện hơn, gồm các luật thuế chủ yếu
như: luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; luật thuế giá trị gia tăng; luật thuế
tiêu thụ đặc biệt; luật thuế thu nhập doanh nghệp; luật thuế thu nhập đối với
người có thu nhập cao; luật thuế tài nguyên; thuế nhà đất; thuế chuyển quyền
sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp; một số hình thức thu phí và lệ phí.
Phân theo góc độ người nộp thuế thì có thể chia thuế làm 2 loại:
thuế trực thu và thuế gián thu:
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
10
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế.
Thuế trực thu có bản chất kinh tế là người nộp thuế đồng thời là người chịu
thuế, thường là thuế thu nhập, thuế tài sản…Thuế trực thu có những ưu điểm
như: động viên thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập nên đảm bảo
được công bằng xã hội, ng
ười có thu nhập cao thì nộp nhiều và ngược lại. Mặt
khác, thuế trực thu cũng có những tồn tại như: tính toán phức tạp; dễ bị phản
ứng tiêu cực từ phía người nộp; diện quản lý thu thuế rộng nên thường tốn
nhiều công sức nhưng hiệu quả thấp…
Thuế gián thu là loại thuế Nhà nước thu vào người tiêu dùng nhưng
không trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà thu giá tiếp qua ngườ
i
bán hàng hóa, dịch vụ. Bản chất kinh tế của thuế gian thu là người nộp thuế
không phải là người chịu thuế mà người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ. Thuế gián thu thường là thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt…Thuế gián thu có những ưu điểm như: nghiệp vụ tính thuế và thu
thuế đơn giản; người tiêu dùng khó nhận biết là mình nộ
p thuế nên ít phản ứng
hơn. Trái lại, thuế gián thu có nhược điiểm là tính lũy thoái của nó. Vì thuế gián
thu đánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu
thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập
thì người giàu chịu thấp hơn người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ
nộp thuế gián thu trên thu nhập càng thấp.
Chính vì vậy, để động viên thu
ế từ tất cả mọi người trong xã hội, người
ta sử dụng thuế gián thu cùng với thuế trực thu hợp thành hệ thống thuế thống
nhất, trong đó các loại thuế vùa thực hiện nhiệm vụ chính của mình vừa hỗ trợ
nhau để phát huy tác dụng đồng bộ của cả hệ thống thuế.
Một số loại thuế điển hình và tác dụng của chúng:
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có tác dụng góp phần thực
hiện công bằng xã hội; điều tiết một phần thu nhập từ người có thu nhập cao
sang người có thu thấp hoặc không có thu nhập thông qua các công tác an sinh
xã hội.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
11
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Thuế tiêu thụ đặc biệt có tác dụng là nguồn thu quan trọng của ngân
sách; là công cụ để Nhà nước hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của xã hội theo
hướng có hiệu quả; hạn chế, tiết kiệm đối với những hàng hóa xa xỉ…
Thuế tài nguyên có tác dụng góp phần bảo vệ, khai thác, sử dụng tài
nguyên theo hướng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả; góp phần bảo vệ môi trường
và bảo vệ tài nguyên quố
c gia; dùng nguồn thu này để thực hiện các biệp pháp
bảo vệ và tái tạo tài nguyên thiên nhiên.
1.4.2 Thuế giá trị gia tăng:
Thuế giá trị gia tăng có hiệu lực hiện nay ở Việt Nam thay cho Thuế
doanh thu trước đây. Nước ta áp dụng thuế giá trị gia tăng đặt căn bản trên
hóa đơn. Có ý kiến cho rằng thuế giá trị gia tăng nên được coi là một phương
pháp đánh thuế mới hơn là một sắc thuế độ
c lập, bởi vì theo giáo sư Mel Kraus
của trường đại học Amsterdam và Petet O’Brien, nhà kinh tế học tại Geneva
thì:” Khái niệm thuế giá trị gia tăng có liên quan đến phương pháp hành thu chứ
không liên hệ đến một thứ thuế riêng biệt thuộc một nhóm đặc biệt hay một
hoạt động kinh tế đặc biệt theo như nhiều người vẫn tưởng…Về bản chất,thuế
giá trị gia tăng không phải là một thứ thu
ế đánh trên chi phí tiêu thụ mà cũng
không phải là một thứ thuế đánh trên lợi tức xuất phát từ các yếu tố sản xuất,
nó vốn là một cách thức đánh thuế trên căn bản từng cái một, từng giai đoạn
một nhằm tránh cách đánh thuế hai lần”.
Vậy, “thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên khoản
giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ
sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Thực chất đó là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất
lưu thông hàng hóa kể từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến thành phẩm và
cuối cùng là cho đến giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà có người gọi đó là
thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước.Thuế giá trị gia
tăng được phép tính cộ
ng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng
gánh chịu.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
12
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ chịu thuế (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và
tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hóa chịu thuế (gọi chung là người nhập
khẩu).
Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: là hàng hóa, dịch vụ dùng
cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất
Giá tính thu
ế được xác định dựa trên đặc điểm, tính chất, hay phương
thức bán hàng… của hàng hóa, dịch vụ. Các qui định đưa ra được dựa sát
vào thực tế kinh doanh của từng ngành, nghề cụ thể nên đảm bảo công bằng,
hợp lý đối với từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể.
Thuế suất hiện nay có các mức khác nhau, mức thuế suất thấp hay cao
tuỳ vào mức khuyến khích của Nhà n
ước đối với những ngành, nghề, loại
hàng hóa, dịch vụ khác nhau nhiều hay ít. Diển hình như đối với hàng xuất
khẩu, mức thuế suất hiện nay là 0% do Nhà nước đặc biệt khuyến khích xuất
khẩu bởi nguồn thu từ xuất khẩu đóng góp rất lớn cho tổng thu nhập quốc dân,
cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Phương pháp tính thuế:
Thuế giá trị gia tăng mà các c
ơ sở kinh doanh phải nộp được tính theo 2
phương pháp: phương pháp khấu trừ thuế và phương pháp trực tiếp trên giá trị
gia tăng. Sở dĩ cần có 2 phương pháp là vì có những cá nhân, tổ chức kinh
doanh chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn, chứng từ để
làm căn cứ xác định thuế giá trị gia tăng đầu ra và thuế giá trị gia tăng đầu vào
để tính theo ph
ương pháp khấu trừ.
♦ Phương pháp khấu trừ thuế:
Theo phương pháp này, số thuế giá trị gia tăng phải nộp được xác định
bằng thuế giá trị gia tăng đầu ra trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Thuế giá trị
gia tăng đầu vào được xác định căn cứ vào hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ
để kinh doanh của cơ sở kinh doanh. Còn thuế giá trị gia tăng đầu ra thì
dựa trên hóa đơn bán hàng.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
13
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Số thuế phải nộp= Thuế giá trị gia tăng đầu ra –
Thuế giá trị gia tăng đầu vào
Thuế giá trị gia tăng đầu ra=
Giá tính thuế hàng hóa dịch vụ bán ra x Thuế suất
Thuế giá trị gia tăng đầu vào
= Tổng số thuế giá trị gia tăng đã thanh toán được
ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa,
dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng
hàng hóa nhập khẩu
♦ Phương pháp trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Theo phương trực tiếp trên giá trị gia tăng thì số thuế giá trị gia tăng phải
nộp được xác định bằng giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra nhân với
thuế suất thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ đó. Để tính được số thuế
phải nộp theo phương pháp này thì phải tính được giá trị gia tă
ng của hàng
hóa, dịch vụ bán ra. Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ bán ra xác định dựa
trên doanh thu và chi phí. Chúng được xác định như sau:
Số thuế phải nộp= Giá trị gia tăng hàng hóa, dịch
vụ x Thuế suất thuế giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ
= Giá thanh toán hàng - Giá thanh toán của
hóa dịch vụ, bán ra hàng hóa, dịch vụ
mua vào tương ứng
Các cơ sở kinh doanh phải tuân thủ các điều luật về đăng ký nộp
thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế như:
Đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng với cơ quan thuế trực tiếp quản lý theo
hướng dẫn của cơ quan thuế.
Kê khai thuế giá trị gia tăng từng tháng và nộp tờ khai thuế cho cơ quan
thuế trong 10 ngày đầu của tháng tiếp theo.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét