Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

đánh giá và biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường các khu vực nuôi thủy sản

- Đối với giao thông vận tải và du lịch bằng đường thủy thì nước bề mặt
là yếu tố tất yếu gồm: sông ngòi, kênh, rạch, biển, đại dương, hồ ao, hồ vịnh,
…[1]
1.2. Các dạng môi trường nước trong tự nhiên
1.2.1. Phân loại môi trường nước
1.2.1.1. Nước ngọt
Nước là một nhân tố đối với đời sống sinh vật, vì nó là thành phần quan
trọng của chất nguyên sinh, cho nên cả về mặt ý nghĩa và về mặt số lượng, có
thể nói sự sống đều phụ thuộc vào nước. Người ta chia thủy vực nước ngọt làm
hai loại:
+ Thủy vực nước đứng là môi trường tĩnh
+ Thủy vực nước chảy là môi trường động
Nhìn chung, đầm - hồ - ao thuộc các thủy vực nước đứng, đặc điểm
chung của chúng là chịu sự bồi tụ bởi các vật liệu rắn. Còn sông, suối là các
thủy vực nước chảy, đặc điểm chung của chúng là bề mặt lòng sông, suối ngày
càng ăn sâu vào đất do bị xói mòn.
So với biển thì các thủy vực nước ngọt nhỏ hơn nhiều, nhưng nó lại vô
cùng quan trọng với đời sống sinh vật và đặc biệt đối với con người như nước
dùng trong sinh hoạt, trong tưới tiêu, nước dùng trong công nghiệp, nước dùng
trong sản xuất điện năng. Nếu con người sử dụng hợp lý nguồn nước ngọt thì
sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho đời sống, ngược lại nước sẽ trở thành yếu tố
giới hạn chủ yếu đối với con người cũng như đối với các loài sinh vật.
Các nhân tố sinh thái đóng vai trò quan trọng trong môi trường nước
ngọt như: nhiệt độ, độ trong, tốc độ dòng chảy, hàm lượng oxy, hàm lượng khí
cacbonic, hàm lượng muối biogen như nitrat và photphat,… bởi vì chúng là
nhân tố giới hạn trong môi trường nước [1].
1.2.1.2. Nước biển
Biển rất rộng lớn và có ở tất cả các vùng khác nhau của trái đất (từ vùng
xích đạo, á nhiệt đới, ôn đới, đến hàn đới) nên bề mặt sinh thái học rất đa dạng
và phức tạp. Biển chiếm 70% diện tích bề mặt Trái Đất, vì vậy nó ảnh hưởng

5
tới toàn bộ sinh thái Trái Đất. Chiều sâu của biển rất lớn và khác nhau giữa các
vùng, vùng sâu nhất tới 11.000m, mỗi một độ sâu đều có sự sống tồn tại.
Môi trường biển mang tính liên tục, không bị chia cắt như môi trường
cạn và môi trường nước ngọt. Tất cả các đại dương (Thái bình Dương, Đại Tây
Dương, Ấn Độ Dương,…) đều liên thông với nhau; nhưng nhiệt độ, độ sâu, độ
mặn,… của biển là những chướng ngại vật chính cho sự di chuyển tự do của
sinh vật biển.
Một trong những tính chất quan trọng của môi trường nước biển là độ
mặn. Độ mặn trung bình của biển là 3,5% (trong khi đó độ mặn của nước ngọt
là 0,05%); gần 2,7% là muối NaCl, còn lại là muối Magiê, Canxi, Kali. Trong
nước biển các muối tồn tại dưới dạng các ion mà ion dương có tính điện li lớn
hơn ion âm khoảng 2,3 mili đương lượng nên nước biển thường hơi kiềm (pH
tương đương 8,2).
1.2.1.3. Nước lợ
Vùng sinh thái nước lợ có giới hạn nồng độ muối hoà tan từ 1 – 30‰,
bao gồm các vùng ven cửa sông, ven biển hoặc có khi cả vùng biển bị nước
trong lục địa tràn ra làm giảm nồng độ muối. Đây là vùng sinh thái có đặc tính
thủy lý hóa và thủy sinh vật rất phức tạp và đặc sắc. Nồng độ muối trong các
thủy vực ở vùng sinh thái nước lợ rất không ổn định, luôn thay đổi theo mùa,
mùa mưa giảm đi và tăng dần vào mùa khô. Tuỳ thuộc vào nồng độ muối hoà
tan mà phân chia thành các vùng sinh thái khác nhau: Vùng sinh thái nước lợ
nhạt có nồng độ muối từ 1 - 5‰, vùng sinh thái nước lợ vừa giới hạn nồng độ
muối từ 5 - 18‰, vùng sinh thái nước lợ mặn có giới hạn nồng độ muối từ 18 -
30‰. Nhìn chung, thành phần hóa học của nước trong vùng sinh thái nước lợ
rất phức tạp, vừa mang đặc tính của vùng sinh thái nước ngọt, vừa mang đặc
tính của vùng sinh thái nước mặn.
Ơ vùng nước lợ hàm lượng các chất dinh dưỡng cao, nhiều chất phù sa
lơ lửng, tạo ra nhiều thực vật đơn bào phong phú, nhiều phù phiêu sinh vật,
tôm cá,…


6
1.2.2. Chu trình nước trong tự nhiên
Nước trong tự[ nhiên luôn vận động và thay đổi trạng thái. Chu trình
nước là sự vận động của nước trên trái đất một cách tự nhiên theo năm dạng:
Mưa – dòng chảy – thấm – bốc hơi – ngưng tụ – mưa
Nước vận động trong chu trình là nhờ bức xạ sóng ngắn của mặt trời tới
mặt đất, chúng bị hấp thụ một phần và chuyển đổi thành nhiệt năng làm cho
những tầng thấp của khí quyển nóng lên. Chính nhờ năng lượng này đã hâm
nóng lớp nước mặt của đại dương và đất liền trong các thể lỏng khác nhau và
làm chúng bốc hơi. Hơi nước bốc lên với không khí nóng tới tầng cao khí
quyển thì ngưng tụ thành mưa hay tuyết lại rơi xuống mặt đất.
Mức độ bốc hơi và ngưng tụ của nước thay đổi theo vĩ độ địa lý. Ở
quanh vùng xích đạo và vùng nhiệt đới lượng mưa trung bình hằng năm lớn
hơn cả, vùng ít mưa nhất là quanh hai cực [1].
1.3. Tài nguyên nước
Tài nguyên nước rất phong phú và đa dạng song ta có thể phân chúng
thành những nhóm sau:
Nước trên hành tinh tồn tại ở ba trạng thái (rắn, lỏng, hơi). Mặc dù nó là
tài nguyên vô hạn (nhờ tuần hoàn nước trong tự nhiên), song việc sử dụng
nước của con người đã làm cho sự phân bố nước ở các vùng khác nhau trên
hành tinh có sự thay đổi rất lớn, và gây ra những hậu quả to lớn ngoài ý muốn
của con người. Hiện nay nhiều vùng trên hành tinh đã và đang thiếu nước ngọt,
bởi vì yêu cầu sử dụng nước của con người ngày càng tăng, nhưng ngược lại
khả năng dẫn nước của sông ngòi lại giảm, thêm vào đó khu vực nước bị ô
nhiễm ngày càng tăng nhanh.
Tài nguyên nước phân bố không đồng đều, thay đổi theo mùa, năm và
vùng địa lý:
+ Nước biển và đại dương: 97%
+ Băng ở các cực: 2,08%
+ Nước ngầm: 0,29%
+ Nước hồ: 0,009%

7
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với bờ biển dài hơn 3000
km, có nhiều sông, rạch, ao, hồ, đầm, phá và diện tích mặt nước nội thủy rộng
lớn là những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành kinh tế thủy sản. Thực
hiện chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản thời kỳ 1999 - 2010 với mục
tiêu đảm bảo an toàn thực phẩm, tạo việc làm và hàng hóa xuất khẩu. Qua 5
năm thực hiện chương trình, nghề nuôi trồng thủy sản đạt được nhiều kết quả
quan trọng. Diện tích nuôi trồng (chưa kể diện tích sông, hồ chứa, mặt nước
biển sử dụng nuôi trồng thủy sản) đạt khoảng 902.000 ha, sản lượng nuôi trồng
và khai thác thủy sản nội địa tăng trung bình 16,1 %/năm. Kim ngạch xuất
khẩu thủy sản tăng nhanh chóng từ 900 USD năm 1999 đến 2,5 tỉ USD vào
năm 2005 (Nguồn: Bộ Thủy sản), góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước. Theo
thống kê của ngành thủy sản hiện nay nuôi trồng thủy sản nước ta phát triển ở
cả ba vùng nước lợ, ngọt, mặn.
Diện tích nuôi trồng thủy sản trên toàn quốc hiện nay là 1.065.000 ha
tăng thêm khoảng 10% so với năm 2007. Nuôi trồng thủy sản góp phần quan
trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo an toàn thực phẩm, tạo công
ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và góp phần đưa ngành thủy sản thực sự trở
thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của cả nước.
+ Về chất lượng nước của sông ngòi nước ta thoả mãn các nhu cầu kinh
tế xã hội do độ khoáng thấp, phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu, thuộc loại
nước mềm.
+ Về số lượng các sông ngòi Việt Nam có khả năng cung cấp ổn định
cho các ngành kinh tế một lượng khoảng 100 - 150km
3
/năm nếu không kể đến
lượng nước từ nước ngoài chảy vào.
1.4. Chất lượng nước trong nuôi trồng thủy hải sản
1.4.1. Tiêu chuẩn chất lượng nước trong nuôi trồng thủy sản.
Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường đã ra quyết định số 229/QD-
TDC này 25/3/1995 ban hành tiêu chuẩn giá trị giới hạn cho phép về nồng độ
các chất ô nhiễm trong nước mặt và nước biển ven bờ áp dụng để đánh giá
mức độ ô nhiễm của một nguồn nước (TCVN 5942 – 1995 và TCVN 5943-

8
1995). Theo đó, Bộ Thủy Sản đã ban hành tiêu chuẩn quy định giá trị giới hạn
cho phép về nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển vùng nuôi trồng thủy
sản và trong vùng nước ngọt nuôi thủy sản.
Tuy nhiên, khi triển khai nuôi một đối tượng cá hoặc tôm (một loài cụ
thể nào đó) để đảm bảo cho quá trình nuôi thành công, người ta phải nghiên
cứu để xác lập được tiêu chuẩn chất lượng nước cho đối tượng đó.
Tiêu chuẩn chất lượng nước nuôi thủy sản là giới hạn hoặc nồng độ
thích hợp về các yếu tố thủy lý, thủy hóa của nước thủy vực phù hợp cho mục
đích nuôi thủy sản.
Ví dụ: Để nuôi tôm sú (P.monodon) thành công, người ta đã thực
nghiệm và xác định được các giới hạn và phạm vi biến động tối đa cho phép để
vật nuôi đạt được sự sinh trưởng tốt nhất.
1.4.2. Các thông số môi trường cho ao nuôi tôm:
Thông số Giới hạn tối ưu Đề nghị
pH
Độ mặn
Oxy hoà tan
Độ kiềm
Độ trong
H
2
S
NH
3

7.5 – 8.5
10 – 30%o
5 – 6ppm
>80mg CaCO
3
/lit
30 – 40cm
<0.03ppm
<0.1ppm
Dao động hàng ngày <0.5
Dao động hàng ngày <5%
o

Không <4ppm
Phụ thuộc vào dao động của pH

Tính độc khi pH thấp
Tính độc khi pH và nhiệt độ cao
(Nguồn: Quản lý sức khoẻ nuôi trong ao nuôi, P. Chanratchakool, 2000).
1.5. Tính chất vật lí của môi trường nước
1.5.1. Ánh sáng và môi trường nước
Năng lượng mặt trời khi truyền qua khí quyển đến mặt đất thì năng
lượng giảm dần do sự hấp thụ của khí quyển và vât chất trên bề mặt quả đất.
Năng lượng mặt trời được truyền ở hai dạng sóng ánh sáng, ánh sáng khả kiến
và bất khả kiến.
Khi chiếu tới mặt nước ánh sáng không hoàn toàn xâm nhập vào cột
nước mà một phần bị phản xạ lại không khí. Khả năng xâm nhập của ánh sáng

9
vào môi trường nước phụ thuộc vào tính phẳng lặng của mặt nước và góc tới
của tia sáng so với mặt nước. Những tia sáng chiếu gần thẳng góc với mặt
nước sẽ xâm nhập vào nước nhiều nhất. Cường độ ánh sáng sẽ giảm khi xuyên
qua cột nước vì bị phân tán và hấp thu bởi cột nước. Đối với nước tinh khiết,
chỉ 53% cường độ ánh sáng biến đổi thành nhiệt và triệt tiêu khi xuyên qua
một mét nước đầu tiên của cột nước. Các tia sáng có bước sóng dài (đỏ, cam)
và ngắn (hồng ngoại, tím) thì bị triệt tiêu nhanh hơn các tia sáng có bước sóng
trung bình (lục, lam và vàng). Nước thiên nhiên có nhiều tạp chất ngăn cản quá
trình xâm nhập của ánh sáng vào môi trường nước [8]
1.5.2. Nhiệt độ của nước
Tôm cũng như tất cả các động vật sống dưới nước thuộc loại máu lạnh
(cold-blooded, poikilothermic) trái với loại thân nhiệt (warm-blooded,
homoiothermic) như con người chúng ta. Tôm, cá thay đổi nhiệt độ theo môi
trường bên ngoài, còn chúng ta vẫn giữ nguyên nhiệt độ 37.5C dù môi trường
bên ngoài có thể lạnh như vùng Bắc cực hoặc nóng như miền sa mạc. Nhiệt độ
ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hô hấp, tiêu thụ thức
ăn, đồng hóa thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng, Nhiệt độ
thay đổi theo khí hậu mỗi mùa, vì thế tại miền Nam Việt Nam có thể nuôi tôm
quanh năm trong khi miền Bắc chỉ khai thác được vào mùa nóng. Nhiệt độ của
mặt trời làm nóng lớp nước trên mặt nhanh hơn lớp dưới sâu, trong khi đó
chúng ta biết tỷ trọng nước giảm đi nếu nhiệt độ gia tăng, vì vậy lớp nước trên
mặt nhẹ hơn và có khuynh hướng không pha trộn với lớp nước ở dưới. Điều
này đưa tới kết quả là sự hình thành của tầng thermal stratification.
Nhiệt độ thích hợp cho tôm loại Penaeus spp. Tại các ao hồ vùng nhiệt
đới khoảng 28-30
0
C. Tôm sú có thể chịu được nhiệt độ 28
0
C tôm lớn tương đối
chậm, trên 30
0
C tôm lớn nhanh hơn nhưng rất dễ mắc bệnh, nhất là bệnh MBV
(Monodon baculovirus) mà Đài Loan là nạn nhân của tình trạng này năm 1987.
Các trại nuôi tôm ở Đài Loan năm đó đã đưa nhiệt độ nước lên 33
0
C để tôm
lớn mau hơn, tuy mùa đó tôm có lớn nhanh hơn thật nhưng ngay sau đó tôm đã

10
bị bệnh rất trầm trọng và chết rất nhiều đến nỗi sau đó chính phủ Đài Loan đã
phải ra luật lệ cấm nuôi tôm với nhiệt độ nóng hơn 30
0
C.
Các thí nghiệm ở Hawaii cũng cho thấy tôm P. vannamei sẽ chết nếu
môi trường nước thấp hơn 15
0
C cao hơn 33
0
C trong 24 giờ hoặc lâu hơn nữa.
Tôm sẽ ngạt nêu nhiệt độ khoảng 15-22
0
C và 30-33
0
C. Với tôm P. vannamei,
nhiệt độ chấp nhận được là 23-30
0
C, trong khoảng nhiệt độ này độ lớn của tôm
cũng tùy giai đoạn tăng trưởng của tôm; Thí nghiệm cho biết lúc còn nhỏ
(1gr), tôm lớn nhanh hơn trong nước ấm (30
0
C), tới khi tôm lớn hơn (12-18gr),
tôm lại lớn nhanh nhất ở nhiệt độ nước 27
0
C thay vì 30
0
C như lúc còn nhỏ. Khi
tôm lớn hơn nữa, mà nhiệt độ lại cao hơn 27
0
C thì môi trường nước này hoàn
toàn bất lợi cho sự tăng trưởng [9].
Các thủy vực tự nhiên, đặc biệt là các thủy vực nước tĩnh, sự phân tầng
thường xảy ra khi có sự chênh lệch nhiệt độ giữa tầng mặt và tầng đáy. Do tác
động của gió và sóng, nhiệt độ từ mặt nước được truyền xuống sâu 1m đến vài
trăm mét thành một tầng nước có nhiệt độ đồng nhất, tầng này gọi là tầng mặt
(surface mixed layer). Từ độ sâu 200 – 3000m, nhiệt độ bắt đầu giảm rất mạnh
đến độ sâu 1000m. Tầng nước này gọi là tầng giữa (thermocline). Nhiệt độ có
thể giảm đi 20
0
C qua tầng nước này. Dưới tầng “thermocline”, nhiệt độ nước
giảm chậm lại và ổn định ở vùng đáy sâu [8, 19].
1.5.3. Độ đục, độ trong
Độ đục là khả năng cản những tia nắng mặt trời và độ trong của nước là
khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nước. Hai tính chất này của nước tỉ lệ
nghịch với nhau và phụ thuộc vào lượng keo khoáng, vật chất hữu cơ lơ lửng,
sự phát triển của các vi tảo, sóng gió thủy triều và lượng nước mưa đổ vào thủy
vực. Ở những thủy vực khác nhau nguyên nhân gây ra độ vẩn đục khác nhau.
Độ đục và độ trong của nước có ảnh hưởng đến cường độ chiếu sáng của
mặt trời vào thủy vực nên có ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của thực vật
phù du. Khi độ trong thấp (độ đục cao), lượng ánh sáng xâm nhập vào thủy
vực ít – cường độ quang hợp của thực vật phù du giảm. Nhưng độ trong quá
cao, nước nghèo dinh dưỡng, sinh vật phù du phát triển kém, hạn chế thành

11
phần thức ăn tự nhiên của cá, năng suất cá nuôi giảm. Độ trong được đo bằng
đĩa Secchi có đường kính bằng 20cm, độ đục được đo bằng độ hấp thụ ánh
sáng hoặc hàm lượng tổng chất rắn lơ lửng.
Nguồn gốc độ đục
− Bên ngoài: nguồn nước, nước rửa trôi, bụi phóng xạ từ không khí.
− Bên trong: chất lơ lửng nền đáy – tạo ra do chuyển động của dòng nước
và cá; thức ăn thừa, chất thải của tôm cá nuôi [1,5,8].
1.5.4. Màu nước
Nước sạch sẽ không có màu, chỉ có lớp nước dày mới có màu xanh lơ.
Trên thực tế, nước thiên nhiên các thủy vực thường có màu do sự xuất hiện của
các hợp chất vô cơ và hữu cơ hòa tan hay không hòa tan, hay sự phát triển của
tảo. Trong ao nuôi thủy sản thường có các màu sau:
− Nước màu xanh nhạt (đọt chuối non): nước có màu xanh nhạt do sự phát
triển của tảo lục (Chlorophyta
− Màu xanh đậm (xanh rêu): nước có màu xanh đậm do sự phát triển của
tảo lam (Cyanophyta)
− Màu vàng nâu (màu nước trà): nước có màu vàng nâu do sự phát triển
của tảo silic (Bacillariophyta)
− Màu vàng cam (màu rỉ sắt): màu này thường xuất hiện ở các ao nuôi mới
xây dựng trên vùng đất phèn.
− Màu đỏ gạch (màu đất đỏ): nước có nhiều phù sa đo đất cát bị xói mòn
từ vùng thượng nguồn được dòng nước mang đến vùng hạ lưu.
− Màu nâu đen: nước có màu nâu đen do trong nước chứa nhiều chất hữu
cơ. Trường hợp này hàm lượng oxy hòa tan rất thấp.
− Màu trắng đục: nước có màu trắng đục do trong nước có chứa nhiều hạt
keo đất
− Nước trong: do nước nghèo dinh dưỡng hoặc nước bị nhiễm phèn.
1.5.5. Mùi
Nước thiên nhiên trong các thủy vực thường có mùi do có sự hiện diện
của các vi khuẩn, các hợp chất vô cơ, hữu cơ hòa tan hay không hòa tan gây ra.

12
Các hợp chất hựu cơ đang bị phân hủy sẽ hình thành các hợp chất có mùi rất
khó chịu.
− Mùi tanh và hôi: có vi khuẩn phát triển
− Mùi tanh: nước có nhiều sắt
− Mùi chlorine: do quá trình khử khuẩn
− Mùi trứng thối: do có nhiều khí H
2
S
− Mùi bùn: do tảo lục phát triển mạnh
− Ngoài ra, các tảo lam như Anabaena, Nostoc thường tiết ra nhiều độc tố
thuộc loại polypeptite, polysacharit, acid hữu cơ, nhất là phytonxite
(aldehyd và acid hữu cơ bay hơi) làm cho nước có mùi rất tanh và độc
hại đối với thủy sinh vật, nhiều loài sinh vật không xương sống ở nước
chết hay không sinh sản do bị nhiễm độc bởi các chất thải của tảo [1,9].
1.5.6. Vị
Nước thiên nhiên có vị là do sự có mặt một số muối hay các khí hòa tan
trong nước gây ra. Vị của nước phụ thuộc vào số lượng và thành phần hóa học
của các chất chứa trong nước, nhiệt độ của nước (nhiệt độ thấp vị khó phát
hiện) và độ nhạy cảm người thử. Có thể phân biệt 4 loại vị cơ bản của nước:
mặn, ngọt, đắng, chua.
− Vị mặn: do muối NaCl hòa tan > 500mg/l
− Vị ngọt: do nhiều khí CO
2
hòa tan
− Vị đắng, chát: do nhiều Mg
2+
(lớn hơn 1g/l), Na
2
CO
3
, MgSO
4
, MgCl
2

− Vị chua: do muối nhôm và sắt.
1.6. Đặc tính hóa học của môi trường nước
1.6.1. Thành phần hóa học của nước thiên nhiên
Các hợp chất vô cơ và hữu cơ trong nước tự nhiên có thể tồn tại ở dạng
ion hòa tan, khí hòa tan hoặc rắn hoặc khí. Chính sự phân bố của các hợp chất
này quyết định bản chất của nước tự nhiên: nước ngọt, nước lợ hay nước mặn;
giàu dinh dưỡng hay nghèo dinh dưỡng; nước cứng hoặc nước mềm; nước bị ô
nhiễm nặng hay nhẹ,

13
Chúng ta có gặp trong nước thiên nhiên hầu hết các nguyên tố có trong
vỏ trái đất và trong khí quyển, song chỉ có một số nguyên tố có số lượng đáng
kể, nhiều nguyên tố này ta gọi là thành phần chính của nước thiên nhiên
(nguyên tố đa lượng). Những nguyên tố là thành phần chính của nước thiên
nhiên là: H, O, N, Na, Ca, Mg, I, Cl, S,K, Fe, Mn, Br, Si, P. Ngoài ra, còn có
nhiều nguyên tố khác với số lượng ít hơn (nguyên tố vi lượng): Al, Zn, Cu,
Mo, Co, B, Nước tự nhiên là dung môi tốt để tan hầu hết các acid, baz và
muối vô cơ.
Ta nhận thấy rằng tổng nồng độ các ion hòa tan trong nước biển cao hơn
so với trong nước sông. Sự hòa tan các chất rắn (ion) trong nước chính là các
yếu tố quyết định độ mặn của nguồn nước. Nồng độ các ion hòa tan càng cao
độ dẫn điện (EC) của nước càng cao. Độ mặn được định nghĩa là tổng chất rắn
hòa tan (TDS) trong nước. Do vậy độ mặn có thể đo bằng đơn vị micro
Siemen/cm (S/cm).
1.6.2. pH
pH là một trong những nhân tố môi trường ảnh hưởng rất lớn trực tiếp
và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật như: sinh trưởng, tỉ lệ sống, sinh sản
và dinh dưỡng. pH thích hợp thủy sinh vật là 6,5 – 9. Khi pH môi trường quá
cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển của thủy sinh
vật. Tác động chủ yếu của pH khi quá cáo hay qua thấp là làm thay đổi độ
thẩm thấu của màng tế bào dẫn đến làm rối loạn quá trình trao đổi muối - nước
giữa cơ thể và môi trường ngoài. Do đó, pH là nhân tố quyết định giới hạn
Biện pháp quản lý pH
- Ở vùng đất phèn không phơi đáy ao nứt nẻ
- Tránh trường hợp đất phèn tiếp xúc với không khí (đất đào ao bị phơi
khô)
- Trước những cơn mưa đầu mùa cần bón vôi xung quanh bờ ao (đối với
ao mới đào)
- Ao mới đào nên trao đổi nước nhiều , bón vôi (CaCO
3
hay Dolomite) và
bón phân

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét