Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp hạn chế nợ khó đòi tại Sở giao dịch I- Ngân Hàng Công Thương Việt Nam

đảm bảo 71
II.6. Nâng cao trách nhiệm của cán bộ tín dụng nhất là trách nhiệm
đối với tài sản đảm bảo mà anh ta quản lý 71
II.7. Lựa chọn tài sản phù hợp hơn nữa đối với từng hình thức đảm bảo
cụ thể 71
II.8. Cần coi tài sản đảm bảo là một bộ phận cấu thành nguyên tắc tín
dụng nên thờng xuyên kiểm tra, đôn đốc và chú ý hơn nữa đến công
tác quản lý, điều hành việc xử lý 72
II.9. Đối với vấn đề phát mãi tài sản 73
II.10. Chú ý phân loại tài sản và lập quỹ dự phòng 73
.III Những kiến nghị về vấn đề hạn chế nợ khó đòi tại Sở giáo
dục I- Ngân hàng công thơng Việt Nam 73
III.1. Kiến nghị với nhà nớc 73
.III.1.1. Cần hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay 73
.III.1.2. Cần đa ra giải pháp về định giá tài sản đảm bảo 74
.III.1.3. Đơn giản hoá thủ tục đảm bảo 74
.III.1.4. Cần quy định mức cho vay với các loại tài sản đảm bảo phù
hợp hơn nữa 75
.III.1.5. Cần một chính về xử lý tài sản đảm bảo để hạn chế những bất
cập, giúp ngân hàng khi phát mại tài sản 76
.III.1.6. Toà án cần giúp ngân hàng trong việc phát mãi tài sản hơn
nữa 78
III.2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nớc (NHNN) 79
III.3. Kiến nghị với Ngân hàng công thơng Việt Nam, SGDI-NHCTVN
80
Kết luận 83
5
ch
ch
ơng I
ơng I
lý luận chung về nợ khó đòi tại ngân
lý luận chung về nợ khó đòi tại ngân
hàng th
hàng th
ơng mại
ơng mại
.I . Khái quát về tín dụng ngân hàng.
I.1. .1. Hoạt động tín dụng trong nền kinh tế thị trờng.
.I.1.1. Đặc trng của tín dụng ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một
bên là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp và cá nhân bằng cách ngân hàng
huy động vốn từ các nguồn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cung cấp cho bên kia
trong một khoảng thời gian nhất định. Đến thời hạn nào đó do hai bên thoả
thuận, ngân hàng sẽ nhận đợc vốn và một phần tăng thêm gọi là phần lời và đợc
tính theo lãi suất. Tín dụng ngân hàng có ba đặc trng sau:
1/. Sự tin tởng, tín nhiệm giữa khách hàng và ngân hàng: Phải có sự tin t-
ởng này thì quan hệ tín dụng mới đợc thiết lập. Nghĩa là nguời đi vay ngời đ-
ợc ngân hàng cấp vốn phải có uy tín, làm ăn có hiệu quả. Tất nhiên để có sự tin
tởng này, ngân hàng phải thực hiện việc điều tra , phân tích khách hàng, nhất là
những khách hàng mới có quan hệ tín dụng lần đầu.
2/. Tính thời hạn: Thời hạn tín dụng chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm luân
chuyển vốn của đối tợng vay, ngoài ra nó còn phụ thuộc vào thời hạn huy động
vốn của ngân hàng. Tính thời hạn đã thúc đẩy ngời vay có trách nhiệm, lo lắng,
quan tâm tới đồng vốn mà họ vay để sao cho có thể trả cả gốc và lãi cho ngân
hàng đúng hạn.
3/. Tính hoàn trả: Ngân hàng đặc biệt quan tâm tới tính này. Muốn vậy, tr-
ớc khi cho vay, ngân hàng cần xem xét, kiểm tra, đánh giá về khách hàng xem
có đủ điều kiện để cho vay hay không. Ngoài ra còn có những kiến thức tổng
6
hợp về tình hình xã hội để tham mu, t vấn cho khách hàng về hoạt động sản
xuất kinh doanh của họ để từ đó giúp ngân àng hạn chế đợc những rủi ro có thể
xảy ra với đồng vốn cho vay của mình.
.I.1.2. Ba nguyên tắc tín dụng cơ bản.
1/. Khoản vay phải đợc sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả.
Ngời vay phải có kế hoạch cụ thể, có đơn xin vay gửi tới ngân hàng. Trong
đơn xin vay phải nói rõ số lợng vốn vay, thời gian vay và mục đích sử dụng vốn.
Mục đích vay có ảnh hởng lớn tới chất lợng khoản vay. Hầu nh bất kỳ ngân
hàng nào cũng thích cấp một khoản tín dụng đúng đắn. Ngân hàng luôn luôn
thích cho vay để doanh nghiệp mua sắm các thiết bị cho doanh nghiệp hơn là để
mau một chiếc ô tô mới, đắt tiền cho lãnh dạo soanh nghiệp.
2/. Phải có tài sản đảm bảo: Khách hàng muốn đợc ngân hàng cấp một
khoản tín dụng trong một thời gian nào đó, anh ta phải có tài sản gì đó có giá trị
tơng đơng với khoản tín dụng làm tài sản đảm bảo. Khách hàng giao quền sở
hữu tài sản đó cho ngân hàng để trong trờng hợp xấu nhất trờng hợp mà
khách hàng không trả đợc nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ thanh lý tài sản
này để thu hồi vốn. Tài sản đảm bảo có thể gồm bất động sản, động sản, biên
nhận ký gửi hàng hoá, các khoản phải thu, nhà máy, trang thiết bị, các vận đơn
có thể bán đợc, các cổ phiếu , trái phiếu. Yêu cầu cơ bản của tài sản đảm bảo là
thuộc quyền sở hữu của đối tợng vay và có thể bán đợc.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh, để thu hút khách hàng,
không nhất thiết khách hàng phải có tài sản đảm bảo ngân hàng mới cho vay.
Một dự án cho vay có cơ sở vững chắc để thực hiện có hiệu quả là điều kiện
quan trọng đối với quyết định cho vay của ngân hàng. Ngân hàng sẽ cho vay khi
phơng án kinh doanh có hiệu quả, có khả năng thu đợc nợ.
Bất cứ lúc nào thì cho vay có tài sản đảm bảo là nguyên tắc hoàn toàn hợp
lý, cần thiết để đảm bảo cho ngân hàng đối phó với những tổn thất khi xuất hiện
nợ quá hạn khó đòi hoặc khách hàng không có khả năng thanh toán.
7
3./ Vốn vay phải đợc hoàn trả đúng thời hạn.
C.Mác viết: " Đem tiền cho vay với t cách là một vật có đặc điểm là sé
quay trở về điểm xuất phát của nó mà vẫn giữ đợc nguyên vẹn giá trị đồng thời
lại lớn lên thêm trong quá trình vận động.". Nguyên tắc này đảm bảo thực chất
của tín dụng. Quan hệ tín dụng là quan hệ vay mợn lẫn nhau, có hoàn trả cả gốc
và lãi sau một thời gian nhất dịnh . Tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu
nguyên tắc này không đợc thực hiện đầy đủ. Doanh nghiệp khi vay vốn phải
cam kết trả đủ vốn và lãi sau một thời gian nhất định ghi trong khế ớc vay nợ.
Hơn nữa , chất xúc tác của hoạt động cho vay là lãi suất. Thông thờng, lãi suất
tiền gửi nhỏ hơn lãi suất tiền vay, lãi suất tiền vay nhỏ hơn lợi nhuận bình quân
của doanh nghiệp. Đồng thời lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát. Điều này
đảm bảo quyền lợi ngời gửi tiền, lợi nhuận của ngân hàng và thúc đẩy doanh
nghiệp mở rộng sản xuất. Thêm vào đó ngân hàng cũng rất quan tâm đến thời
điểm trả nợ của khách hàng vì có ảnh hởng tới khả năng thanh toán, tình hình
cơ cấu nguồn vốn cũng nh tài sản của ngân hàng.
Các khoản vay của ngân hàng có thể đợc hoàn trả một lần hay trả góp.
Những khoản cho vay trả một lần thờng đợc quan niệm nh những khoản cho
vay: nghĩa là hợp đồng yêu cầu hoàn trả toàn bộ một lần vào thời gian gia hạn
cuối cùng. Cho vay trả góp thì việc hoàn trả theo định kỳ. Việc trả nợ nh vâỵ sẽ
không trở thành một gánh nặng cho doanh nghiệp.
.I.1.3. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng.
Cũng nh các doanh ngiệp khác , trong cơ chế thị trờng, hoạt động của ngân
hàng thơng mại (NHTM) phải chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách
quan, trong đó có quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng
luôn dẫn đến kết quả một vài ngời thắng và nhiều kẻ bại. Cạnh tranh là quá
trình diễn ra liên tục, các doanh nghiệp luôn phải cố gắng để là ngời chiến
thắng, ngợc lại, điều đó cũng thể hiện kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng
luôn tiềm ẩn những rủi ro, thất bại. NHTM trong nền kinh tế luôn phải đơng
8
đầu với áp lực của cạnh tranh và hoạt động của nó luôn chứa đựng khả năng xảy
ra rủi ro. Rủi ro có thể xảy ra với bất cứ loại hình hoạt động nào của NHTM nh
rủi ro về tín dụng, thanh toán, chuyển hoán vốn, lãi suất, hối đoái Trong đó,
rủi ro kinh doanh tín dụng là rủi ro mà hậu quả có thể tác động lớn đến các hoạt
động kinh doanh khác, thậm chí đe doạ sự tồn tại của NHTM. Rủi ro trong hoạt
động tín dụng NHTM xảy ra khi xuất hiện các biến cố làm cho bên đối tác
không thực hiện đợc nghĩa vụ trả nợ của mình đối với ngân hàng vào thời điểm
đáo hạn. Nói cách khác, rủi ro tín dụng là rủ ro mà gắn liền với khả năng không
thu đợc nợ đến hạn từ khách hàng của NHTM. Các khoản nợ đến hạn nhng
khách hàng không có khả năng trả ngay hay hết khả năng trả, thì ngân hàng sẽ
gặp một trong ba rủi ro là đọng vốn, khó đòi vốn hoặc xấu nhất là mất vốn.
Từ phân tích trên, ta nhận thấy, rủi ro trong kinh doanh tín dụng xuất phát
từ các khoản nợ mà khách hàng không trả đợc khi đến hạn. Vì vậy, muốn giảm
rủi ro tín dụng, trớc hết phải phòng ngừa, hạn chế khả năng xuất hiện nợ quá
hạn, nợ khó đòi. Vấn đề này sẽ đợc trình bày ở phần sau.
I.2. Nợ khó đòi trong hoạt động tín dụng.
.I.2.1. Nợ khó đòi là gì?.
Mối quan hệ tín dụng đợc gọi là hoàn hảo nếu đợc thực hiện với việc ngời
đi vay hoàn trả đợc đầy đủ gốc vá lãi đúng thời hạn. Tuy nhiên, trong thực tế
không phải mọi việc lúc nào cũng diễn ra một cách trôi chảy mà có nhiều trờng
hợp ngời đi vay không thực hiện đợc nghĩa vụ trả nợ của mình đối với chủ nợ do
các nguyên nhân khách quan hay chủ quan gây ra. Đó là các trờng hợp khi đến
hạn hoàn trả vốn vay, ngời đi vay không thể thực hiện đợc việc trả nợ cho ngân
hàng, dẫn đến các khoản nợ quá hạn. Sau đó, ngân hàng có thể tiến hành gia
hạn cho khoản nợ đó tuỳ vào mỗi trờng hợp .
Theo luật ngân hàng hiện nay, tất cả các khoản nợ đã quá hạn trên 360
ngày đều đợc coi là nợ khó đòi hay còn gọi là nợ xấu (bad dept), kể cả một số
trờng hợp " dễ đòi" mà sở dĩ khách hàng chậm trả một năm chỉ vì đồng vốn
đang phát huy tác dụng sinh lời mà anh ta cha muốn thu hồi đẻ trả nợ; d nợ tiền
9
cho vay tuy cha quá hạn nhng đã xác định đợc là bị mất vì ngời vay chết, mất
tích, doanh nghiệp phá sản, giải thể, bị khách hàng lừa đảo hay một bộ phận
của khoản nợ quá hạn mà ngân hàng phải trả thay cho khách hàng trong các
khoản bảo lãnh mở thế chấp hàng hoá trả chậm, đều đợc coi là nợ khó đòi.
Nợ khó đòi là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo. Trớc hết,
nó vi phạm đặc trng thứ nhất là tính thời hạn, hai là tính hoàn trả đầy đủ, gây
nên sự đổ vỡ lòng tin của ngân hàng đối với ngời nhận tín dụng.
Các đối tợng mắc nợ khó đòi thờng là các đơn vị vay vốn làm ăn bị thua lỗ
nặng, có nguy cơ bị phá sản hay đã phá sản, đối tợng đợc coi là mất tích
.I.2.2. Các nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi.
I.2.2.1. Các dấu hiệu của khoản vay có thể dẫn đến nợ khó đòi.
Khi tiến hành cấp tín dụng, các NHTM đều mong muốn khoản tín dụng đ-
ợc hoàn trả lại đúng thời hạn và đầy đủ nh đã thoả thận. Chính vì thế, sau khi
cấp tín dụng cho khách hàng, NHTM thực hiện việc theo dõi, giám sát chặt chẽ
việc sử dụng tiền vay của họ. Nếu phát hiện thấy có biểu hiện sử dụng vốn sai
mục đích hoặc có sự cố khác thờng có thể dẫn tới việc không hoàn trả đợc vốn
vay của khách hàng. Trớc hết để đánh giá khoản vay có thể bị quá hạn không ,
sau đó xem liệu có thể trở thành khó đòi không , để từ đó, ngân hàng tìm cách
ngăn ngừa , can thiệp kịp thời. Muốn vậy, phải nhận biết đợc đâu là dấu hiệu
của nợ quá hạn khó đòi.
Trong thực tế có nhiều dấu hiệu biểu hiện khoản vay sẽ gặp bất trắc. Tuy
nhiên, chúng ta không có một mô hình nào để nhận biết. Tuy vậy, trong hoạt
động tín dụng của ngân hàng thơng mại, một số dấu hiệu sau đây có thể đáng
tin cậy để dự đoán một khoản nợ sẽ trở thành khó đòi.
- Khoản nợ đã gia hạn nhiều lần.
- Khách hàng không những đã mắc nợ quá hạn (nợ quá hạn thông thờng,
nợ quá hạn có vấn đề) mà còn có đặc điểm sau đây:
+ Đề án kinh tế để làm cơ sở vay có dấu hiệu đến ngõ cụt, sản phẩm đã
10
bão hoà.
+ Thu nhập chững lại hay giảm sút mạnh.
+ Trì hoãn nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng, có biểu hiện thiếu
thiện chí trong mối quan hệ với ngân hàng.
+ Sử dụng vốn sai mục đích, phung phí hay mức độ rủi ro cao (theo kiểu "
năm ăn, năm thua").
+ Vốn bị trì trệ, số vong quay đồng vốn giảm rõ rệt so với đề án đã lập để
vay tiền.
+ Số d tiền gửi giảm nghiêm trong thậm chí âm.
+ Bị bạn hàng lừa đảo, hay bạn hàng bị phá sản không thể giải quyết đợc
khoản phải thu.
+ Bị kiện tụng trong lĩnh vực kinh tế.
+ Bị truy tố vì làm ăn phi pháp có nguy cơ hải bồi thờng một số tiền lớn.
+Hoạt động sản xuất kinh doanh đang gặp khó khăn to lớn do ngành nghề
không còn đợc xã hội chấp nhận nữa hoặc do bị báo chí tung tin xấu về tình
hình tài chínhkhiến cổ phiếu bị giảm giá nghiêm trọng.
+ Ban lãnh đạo bị thay đổi bất thơng một cách tiêu cực.
- Khách hàng tuy cha mắc nợ quá hạn song vì những lý do sau đây cũng có
thể là dấu hiệu của nợ khó đòi.
+ Do thiên tai gây ra nh bị bão lụt, hoả hoạn khiến tài sản bị thiệt hại nặng
nề.
+ Do địch hoạ gây ra nh trộm cớp, tham ô, phá hoại
+ Đứng trớc tình thế bị phá sản không thể cỡng nổi.
+ Các dấu hiệu trên đây là biểu hiện những khó khăn to lớn về mặt tài
chính từ phái ngời đi vay. Trong thực tế còn rất nhiều những dấu hiệu khác của
một khoản nợ có thể trở thành khó đòi mà mỗi một khách hàng là một trờng
11
hợp. Tuy nhiên, các dấu hiệu trên là cơ bản nhất, chúng là cơ sở để ngân hàng
tìm biện pháp điều chỉnh, ngăn ngừa kịp thời hay xử lý các khoản nợ quá hạn,
khó đòi.
I.2.2.2. Nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi.
* Từ phía khách hàng.
Nghuyên nhân từ phía ngời đi vay là một trong những nguyên nhân chính
và cổ điển nhất gây ra rủi ro tín dụng. Nhìn chung, nguyên nhân này có thể đợc
nắm bắt và các nhân hàng có thể có nhiều kinh nghiệm đối phó bằng cách tìm
hiểu, nắm vững khách hàng trớc, trong và sau khi cho vay, độ tin cậy trong quá
trình quan hệ, mục đích sử dụng tiền vay, hiệu quả của đề án vay vốn
- Rủi ro trong công việc kinh doanh của ngời đi vay.
Một quy trình tín dụng luôn bao gồm giai đoạn sử dụng tiền vay của ngời
đi vay, rủi ro nào trong quá trình kinh doanh( có sự tham gia của vốn ngân hàng
cấp) của doanh nghiệp cũng đều có ảnh hởn đến việc trả nợ ngân hàng. Rủi ro
này sẽ xảy ra nếu doanh nghiệp không thực hiện một cách khoa học trong việc
tính toán, triển khai dự án đầu t sản xuất; không tính toán chính xác các số liệu
về thị trờng. Tuy nhiên, mặc dù không mắc các lỗi trên nhng công việc đầu t
vẫn chứa đựng khả nảng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất ngờ, bất khả kháng
mà nó gây tác động xấu đến công việc làm ăn, gây tổn thất lớn lao cho doanh
nghiệp. Rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ảnh hởng đến khả năng trả
nợ cho ngân hàng ở các mức độ khác nhau.
Trên thị trờng đầu vào, doanh nghiệp chịu rủi ro về vấn đề nguyên vật liệu:
Ví nh giá cả NVL tăng mạnh, tăng liên tục, tăng lâu dài sẽ ảnh hởng to lớn tới
giá thành công xởng của sản phẩm. Nếu gí bán sản phẩm không đổi, nó sẽ làm
cho thu nhập tạo ra trên một sản phẩm giảm mạnh hoặc âm, ảnh hởng tới tổng
lợi nhuận thu đựoc của dự án và do đó tác động tiêu cực đến khả năng thanh
toán. Nếu để đảm bảo thu nhập của mình mà doanh nghiệp nâng giá bán sản
phẩm lên thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, thậm chí
không thể tiêu thụ đợc, thế là doanh nghiệp bị thua trên thị trờng. Ví nh NVL
phù hợp với dây chuyền công nghệ sẵn có của doanh nghiệp bị thiếu nghiêm
12
trọng , doanh nghiệp phải sử dụng NVL khác để thay thế mà thực ra nó không
thích nghi với dây chuyền công nghệ. Để khắc phục, doanh nghiệp phải thực
hiện gia công, chhế biến lại NVL hoặc thay thế, sửa đổi dây chuyền công nghệ,
điều đó làm cho chi phí sản xuất tăng vọt dẫn đến kết quả tơng tự nh trên. Nếu
các hiện tợng này diễn ra một cách thờng xuyên, liên tục hay không liên tục, lâu
dài thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn vô cùng to lớn mà hậu quả nhẹ thì thua lỗ,
nặng thì đình trệ, đóng cửa sản xuất, thậm chí bị phá sản. Đó là nguyên nhân
dẫn đến nợ khó đòi.
Trên thị trờng tiêu thụ doanh nghiệp chịu rủi ro về vấn đề tiêu thụ hàng
hoá: ví nh kông nắm đợc nhu cầu thị trờng mà sản xuất ồ ạt sản phẩm dẫn đến
việc ế ẩm hay sản xuất ra hàng hoá mà chất lợng không đợc thị trờng chấp
nhận. Đối phó với hai trờng hợp này thì doanh nghiệp hoặc phải hạ giá hoặc
phải tốn kém thêm chi phí quảng cáo, bảo hành , quà tặng , bảo quản hay những
chi phí nâng cao chất lợng sản phẩm. Trong hai trờng hợp này nếu doanh
nghiệp giải quyết trong một sớm một chiều thì không sao nhng nếu nó cứ diễn
ra thờng xuyên, lâu dài thì doanh nghiệp phải chuốc lấy nhiều hậu quả đáng kể
trong kinh doanh. Hơn nữa, còn đổ vỡ lòng tin nh vậy. Doanh nghiệp bị thua lỗ
là không tránh khỏi và việc chậm trả nợ một năm là hoàn toàn có thể xảy ra đó
là nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi
- Năng lực tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, khả năng thanh toán
yếu kém.
Các nguồn thu của doanh nghiệp rất hạn chế nhng đã mắc nhiều khoản nợ có
hạn, hoặc khoản nợ đến hạn có khối lợng quá lớn nh nợ ngân sách nợ công nhân
viên chức, nợ ngời bán nợ ngân hàng nợ các đối tợng khác. Cơ cấu về vốn đầu
t của doanh nghiệp hoàn toàn không hợp lý : quy mô của doanh nghiệp hoàn
toàn không thay đổi, thậm chí bị thu hẹp mà giá trị tài sản cố định tăng lên rất
nhanh. Tất cả nguyên nhân trên gây khó khăn rất lớn cho công tác trả nợ cho
doanh nghiệp tạo ra các khoản nợ quá hạn. Tình hình này ngày càng có xu hớng
xấu đi thì phát sinh nợ khó đòi cũng là điều không thể tránh khỏi . Đó cũng là
một nguyên nhân dẫn đến nợ khó đòi .
13
- Do ý muốn chủ quan của ngời đi vay không muốn trả nợ cho ngân hàng.
Nợ khó đòi sảy ra khi mà thời hạn đáo hạn đã quá 1 năm mà ngời đi vay không
thực hiện đợc nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Việc chầy bửa này có thể xuất
phát từ khả năng chi trả yếu kém, cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của
ngời đi vay không muốn trả nợ (dù có khả năng). Loại nguyên nhân này đợc
xếp vào loại nguyên nhân rủi ro về t cách đạo đức của ngòi đi vay . T cách đạo
đức của ngòi lãnh đạo doanh nghiệp tởng chừng ít có liên quan đến hoạt động
của doanh nghiệp và việc tài trợ vốn của ngân hàng, nhng thực tế đây là nguyên
nhân khá quan trọng gây nợ quá hạn, nợ khó đòi, rủi ro tín dụng. Đã có nhiều
vụ đổ bể do lừa đảo gây ra .
- Một số nguyên nhân khác gây ra nợ khó đòi mà thuộc về phía khách hàng nh
việc khách hàng gặp ruỉ ro nh thiên tai, địch hoạ, gây ra khiến khách hàng bị
thiệt hại kinh tế lớn.
* Từ phía ngân hàng.
- Nguyên nhân bao trùm từ phía ngân hàng chính là nhân tố chính sách
cho vay của ngân hàng. Đó là việc mà chính sách cho vay không phù hợp với
đặc điểm thực trạng nền kinh tế. Trải qua thực tế, kinh nghiệp cho thấy, Nếu
ngân hàng có một chính sách cho vay đúng đắn đợc soạn thảo bởi hội đồng
quản trị thì có hiêụ quả hơn nhiều so với việc trao quyền quyết định cho giám
đốc chi nhánh. Chính sách cho vay ở đây phải đợc hiểu theo nghĩa đầy đủ bao
gồm định hớng cho vay, chính sách về tín dụng ngắn, trung thực, dài hạn; các
quy định về đảm bảo cho vay, về nhóm đối tợng khách hàng mà ngâng hàng
quan tâm, về ngành nghề đợc u tiên Chính sách cho vay của một ngân hàng là
kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó .Chính sách cho vay
đúng đắn sẽ xác định phơng hớng đúng đắn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện
nghĩa vụ của mình, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ngợc lại, một
chính sách không đúng sẽ tạo định hớng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn
đến việc cấp tín dụng không đúng đối tợng, tạo kẽ hở cho ngòi sử dụng vốn. Đó
là nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn, nợ khó đòi
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét