thiệu khá nhiều các tác giả, tác phẩm của nớc ngoài với nhiều thể loại văn học(thơ,
truyện, tiểu thuyết, kich ) của Trung Quốc, Nga, Anh, Mĩ, Pháp Chúng ta không
thể phủ nhận những giá trị to lớn, sức hấp dẫn mà những tác phẩm này đa đến. Tuy
nhiên, để nhận thức và hiểu biết hết những cái hay, cái đẹp của các tác phẩm không
phải đơn giản, đặc biệt là các tác phẩm hài kịch. Nghe đến hài kịch ngời ra ngời ta
thấy ẩn chứa ở ngay bản thân nó là tiếng cời. Những tiếng cời ấy có ý nghĩa gì
không? Cời nh thế để làm gì? Hẳn không phải ai cũng dễ dàng hiểu đợc điều đó,
đặc biệt đối tợng đó lại là học sinh THCS.
Chính vì điều đó mà vịêc tiếp nhận một tác phẩm hài kịch không hề đơn
giản. Điều đó đồng nghĩa với việc dạy học, tiếp nhận tác phẩm một cách khó khăn.
Trong chơng trình ngữ văn THCS mới, phần kịch nói chung và kịch nói
riêng, chúng ta thấy một tên tuổi với những cống hiến rất to lớn với t cách là ngời
sáng lập ra hài kịch cổ điển Pháp và đa nó đến đỉnh cao. Đó là Mô - li - e với trích
đoạn "Ông giuốc - đanh mặc lễ phục" trích từ vở kịch "Trởng giả học làm sang"
Văn bản này đã đợc đa vào trờng Phổ thông bậc THCS, nhng việc đọc hiểu
tác phẩm này vẫn còn nhiều vấn đề. Để khẳng định nhận thức trên, chúng tôi đã
thực hiện khảo sát ở học sinh khối lớp 8 và các thầy cô giáo tại trờng THCS Xuân
Thợng huyện Xuân Trờng. Trong tổng số 59 em đợc khảo sát sau khi học bài thơ
này thì có 15 em (chiếm tỷ lệ 25,4%) thấy học và thích đọc tác phẩm. Có 32 em
không hiểu tác phẩm(chiếm tỷ lệ 54,2%) còn lại không thích và không có ý
kiến(8,5%). Theo các em giáo viên dạy tác phẩm này cha hay, cha rõ kịch tính, cha
hấp dẫn, cách dạy còn buồn, ít t liệu tham khảo.
Về phía giáo viên 2/4 đồng chí khi đợc hỏi thì cho rằng phơng pháp dạy tác
phầm kịch khó(chiếm tỉ lệ 50%).
Từ thực trạng đó, chúng tôi qyuết định lựa chon đề tài này để làm sáng tỏ
hơn cách đọc hiểu trích đoạn: "Ông giuốc - đanh mặc lễ phục" giúp giáo viên và
học sinh có thể tham khảo thêm khi trên lớp, tạo hứng thú cho học sinh khi học tác
phẩm, nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao chất lợng dạy học môn Ngữ văn ở tr-
ơng THCS nói chung và văn học nớc ngoài nói riêng. Ngoài ra, bản thân tôi cũng
vì lòng yêu quý tác giả, với hài kịch tính cách, mỗi nhân vật đều có thói xấu, một
thói xấu điển hình, một nét tính cách.
2. Lịch sử vấn đề:
5
Có thể thấy rằng có nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết đi vào khai
thác, tìm hiểu Hài kịch của Mô-li-e và trích đoạn "Ông giuốc - đanh mặc lễ
phục" từ kịch" Trởng giả học là sang" của ông, cụ thể:
- Sách giao viên do Nguyễn KHắc Phi làm tổng chủ biên phần lớn chỉ định
hớng khai thác vào nội dung văn bản.
- Sách thiết kế bài giảng Ngữ văn 8 do TS Nguyễn Văn Đờng làm chủ biên
trên cơ sở của sách giáo viên đã đa ra những bớc cơ bản nhất, những phơng pháp
cần sử dụng khi lên lớp để tiêp cận tác phẩm tuy nhiên nhiều chỗ vẫn cha đợc cụ
thể đặc biệ là về đặc trng thể loại.
- Sách Bình giảng ngữ văn 8 của nhóm tác giả Vũ Dơng Qúy, Lê Bảo chủ
yếu đi vào thẩm bình tác phẩm.
- Sách Bồi dỡng ngữ văn 8 của nhóm tác giả Nguyễn Kim Dung, Đỗ Kim
Hảo, Mai Xuân Miên, Trần Hà Nam, Trơng Tham chủ yêu đi vào phân tích nhân
vật.
Cần khẳng định rằng các ý kiến có trong những sách kể trên và một số sách
tham khảo khác rất có giá trị nhng cha đủ để làm sáng tỏ vấn đề này. Vì vậy, chúng
tôi thực hiện đề tài này mong muốn góp một tiếng nói riêng của mình để làm cho
vấn đề đợc sáng tỏ hơn.
3. Đối tợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tợng nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu của chúng tôi là: Vấn đề đọc và hiểu dạy hài kịch Mô-
li-e theo chơng trình THCS mới qua trích đoạn"Ông giuốc - đanh mặc lễ phục"
trích từ vở kịch "Trởng giả học làm sang".
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng văn bản: "Ông giuốc - đanh
mặc lễ phục", lấy từ SGK Ngữ văn 8, tâp 2, nhà xuất bản GD, Hà Nội, năm 2009.
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo thêm tác phẩm" Trởng giả học làm sang -
100 kiệt tác sân khấu thế giới", nhà xuất bản Sân khấu, Hà Nội, 2006.
Bên cạnh đó, chúng tôi còn tham khảo những tri thức liên quan đến tác giả,
thời đại, nền văn hoá.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
6
4.1. Mục đích nghiên cứu của bìa tập:
Mục đích của bài tập này là lam sán tỏ vấn đề dạy học và đọc hiểu hài kịch
Mô-li -e theo chơng trình THCS mới qua trích đoạn "Ông giuốc - đanh mặc lễ
phục" trích từ vở kịch "Trởng giả học làm sang".
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để thực hiện đợc mục đích trên, chúng tôi đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể
sau:
- Xác định cơ sở lý thuyết cho vấn đề.
- Định hớng đọc - hiểu văn bản.
- Định hớng dạy học.
5. Phơng pháp nghiên cứu.
Phơng pháp tiếp cận vấn đề của chúng tôi chủ yếu là tiếp cận hệ thống, lịch
sử văn hoá và thi pháp văn bản. Định hớng phơng pháp của chúng tôi là tích hợp
Ngữ văn.
Trong quá trình thực hiện bài tập, chúng tôi còn thực hiện một số phơng
pháp vụ thể nh:
- Phơng pháp tổng hợp, phân loại.
- Phơng pháp phân tích.
- Phơng pháp thống kê.
6. Cấu trúc của bài tập.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bài tập của chúng tôi chia là ba chơng:
- Chơng I. Cơ sở lý thuyết.
- Chơng II. Định hớng đọc hiểu.
- Chơng II. Định hớng dạy học.
7
Chơng I
Cơ sở lý thuyết.
1. Cơ sở lý thuyết thể loại.
1.1. Cách hiểu về kịch:
Theo cách Bêlinxkin, tác phẩm kịch" là sử dụng hợp của các yếu tố đối lập -
của chính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình" (8,243).
Kịch còn đợc hiểu ở hai cấp độ:
ở cấp độ loại hình: kịch là một trong ba phơng thức cơ bản của văn
học(kịch, tự s, trữ tình). Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học. Nó vừa để
diễn tả là chủ yếu lại vừa để đọc vì kịch bản chính là phơng diện văn học của kịch.
Song nói đến kịch là nói đến sự biểu diễn sân khấu của các diễn viên bằng hành
động, cử chỉ hành động và bằng lời nói(riêng kịch câm thì không diễn tả bằng lời).
Kịch đợc xây dựng trên những mâu thuẫn lịch sử, xã hội hoặc những xung
đột. Những xung đột ấy đợc thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặt chẽ qua
8
hành động của các nhân vật và tuân theo những quy tắc nhất định của nghệ thuật
kịch. Kịch thờng chứa đựng nhiều kịch tính, tức là những s căng thẳng do tình
huống tạo ra đối với nhân vật.
Về mặt kết cấu, vở kịch thờng đợc chia thành nhiều hồi, cảnh nhằm tạo ra s
trùng khớp giữa thời gian,địa điểm và hành động kịch, đồng thời làm cho cái đợc
trình diễn mang màu sắc xác thực của đời sống.Trên toàn bộ loại hình, kịch bao
gồm nhiều thể loại nh bi kịch, hài kịch, chính kịch, cùng nhiều tiểu loại và kiến
thức khác nhau.
ở cấp độ thể loại: kịch đợc dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị
trí tơng đơng với bi kịch và hài kịch. Với ý nghĩa này, kịch cũng đợc gọi là chính
kịch.
Kịch hình thành nh một thể loại vào nửă sau thế kỷ 18 qua sáng tác của các
nhà khai sán ở Đức và Pháp nh Đi -đơ - rô(1713- 1784), Bô - mác -se(1732-
1799) Nó hớng về những lợi ích tinh thần đạo đức, về lý tởng của các lực lơng
dân chủ tiến bộ đơng thời. Trong quá trình phát triển của kich, tính kịch bên trong
của nó ngày càng cô đọng và dồn nén hơn. Nó cũng tiếp nhận những thủ pháp nghệ
thuật, những phơng tiện biểu đạt của các thể loại văn học sân khấu khác nh bi hài
kịch, kịch hề để tằng thêm sức hấp dẫn và tác động nghệ thuật củâ nó đối với công
chúng.
1. 2. Cách hiểu về hài kịch
"Arixtop cho rằng "chỉ có thói xấu không đau đớn " mới gây nên tiếng cời làm cho
cơ sở cho hài kịch. Letxing thấy chức năng của hài kịch"ở việc luyện tập cho chúng
ta năng lực nhận ra cái lố bịch đáng cời". Căng thì chú ý đến mâu thuẫn giữa cái th-
ợng và cái nhỏ nhen. Hêghen nhấn mạnh đến sự đối lập giữa hình thức và ý niệm
tuyệt đối Secnsepxkin thì cho" đó là sự trống rỗng, hèn kém bên trong đợc che đậy
bằng một vẻ ngoài có tham vọng làm thành cái có nội dung và ý nghĩa thực tế" "cái
xấu chỉ trở thành hài hớc khi nào nó cố tình tỏ ra là đẹp" Một nhà lí luận khác còn
cho rằng xung đột hài kịch bắt nguồn từ sự không tơng ứng giã khả năng và ý đồ,
sự bắt trớc cái nghiêm túc, sự mù quáng trong nhữn ớc muốn đặc biể xuất phát từ
quan điểm duy vật lịch sử, Mác đã phát hiện tính chất hài kịch ở những lực lợng xã
hội phải tiến hoá. Đó trớc hết là những chế độ lỗi thời, cổ hủ đã sông dai dẳng quá
đời mình(8, 266).
9
Có thể thấy hài kịch phản kháng và đánh giá những thế lực xã hội, những
hiện tợng đời sồng, những tính tình, những tập tục, những hoạt động và tác phong
của con ngời hoàn toàn không phù hợp, mâu thuẫn với tính quy luật khách quan của
sự phát triển, lịch sử và lí tởng xã hội thẩm mĩ tiên tiến, từ đó gây nên sự phê phán
bằng hình thức chế diễu. Gô Ngô có nói về hài kịch trong tác phẩm của
mình:"trong quan thanh tra tôi đã tập vào một chỗ tất cả những điều tồi tệ ở nớc
Nga mà hồi ấy tôi biết, tất cả những gì phi nghĩa bất công mà chỉ một lần cời chế
nhạo tất cả". Tiếng cời trong hài kich do đó có tác dụng giải thoát cho con ngời
khỏi những tệ nạn xã hội vf thói xấu cá nhân khỏi những điều ti tiện và thị hiếu tầm
thờng có tác dụng lớn lao trong giáo dục t tởng, đạo đức và thẩm mĩ tiên tiến. Tiếng
cời này cũng có nhiều cung bậc và tính chất cho nên cũng có nhiều loại hài kịch
khác nhau. Sự đánh giá thẩm mĩ các tình huống, các quan hệ va tính chất buồn cời,
mù quáng nhng thể sửa chữa đợc là cơ sở cùa hái kịch châm biếm. Còn hài kịch
kại biểu lộ sự mỉa mai sâu cay chế giễu công khai nhằm tẩy chay những tệ nạn xã
hội.
Qua đây chúng ta hiểu hài kịch là "thể loại kịch trong đó có tính cách, tình
huông và hành động đợc thể hiện dới dạng buồn cời hoặc ẩn chứa cái hài nhằm
giễu cợt, phê phán cái xấu, cái lố bịch, cái lỗi thời để tống tiễn nó một cách vui vẻ
ra khỏi đời sống xã hội. Hài kịch cho đến thến kỷ XVII đợc coi nh thể loại đối lập
với bi kịch, và tác phẩm của nó kết thúc nhất thiết phải có hậu".(10,137)
Hài kịch hớng vào sự cời nhạo cái xấu xa, lố bịch đối lập với lí tởng xã hội
hoặc chuẩn mực đạo đức. Nhân vật của hài kịch thờng không có sự tơng xứng giữa
thực chất bên trong với danh nghĩa bên ngoài của mình nên đã trở thành lố bịch.
Cái tính cách trong hài kịch thờng đợc mô tả một cách đậm nét, cận cảnh và ở
trạng thái tĩnh, nhất là những nét gây cời. Phạm vi phản ánh của hài kịch hết sức
rộng lớn: từ những vấn đề chính trị xã hội đến những thói xấu trong sinh hoạt hàng
ngày. Trong hài kịch cũng có thể mô tả nỗi đau khổ của con ngời, song chỉ có thể
cho phép ở mức độ nhất định cho nỗi đau không lấn át cái cời để từ đó mà hài kịch
chuyển thành chính kịch.
Nhân vật của nó, theo nguyên tắc, thuộc về tầng lớp bình dân. Trong cuốn
sách về thi pháp nghệ thuật thơ ca, N.Boa-lô đã xác định hài kịch là một "thể loại
bậc thấp"(đối trọng với bi kịch). Trong văn học ánh sáng(thế kỉ XVIII), quan niệm
10
này không còn thích hợp nữa, do sự xuất hiện của một thể loại mới đợc coi là"thể
loại bậc trung", đó là"kịch thị dân", hình thức đầu tiên của chính kịch.
Do nội dung, tính chất, cung bậc của tiếng cời, hài kịch chia thành nhiều tiểu
loại khác nhau nh hài kịch tinh cách, hài kịch tình huống tình huống, hài kịch sinh
hoạt, hài kịch trào phúng
2. Cơ sở phơng pháp.
2.1. Phơng pháp đọc - hiểu.
Trong đổi mới phơng pháp dạy học Ngữ văn, mỗi phân môn chịu sự quy
định của nhiều cấp độ phơng pháp, bao gồm: những quy định của phơng pháp dạy
học phân môn và những yêu cầu về phơng pháp dạy học theo thể loại. Nhiệm vụ
chủ yếu của phân môn văn học trong môn học Ngữ văn ở trờng THCS là dạy học -
đọc hiểu văn bản. Hoạt động dạy học: đọc - hiểu văn bản sẽ tuân thủ theo những
định hớng chung. Đó là đổi mới phơng pháp dạy học theo những yêu cầu của quan
điểm dạy học tích cực, tích hợp và tơng tác trong lí luận dạy học ngày nay.
2.1.2. Dạy học theo quan điểm tích hợp.
Chơng trình sách giáo khoa Ngữ văn mới đợc xây dựng theo hớng tích hợp,
tạo điều kiện cho giáo viên dạy theo quan điểm này dễ dàng và linh họat hơn. Tuy
nhiên, để thực hiện tốt, ngời giáo viên cần tìm ra những yếu tố quy đồng giữa các
phân môn để có thể tích hợp trong từng thời điểm, theo từng vấn đề.
Tích hợp "trong từng thời điểm" là tích hợp ngang, còn tích hợp "theo tng
vấn đề" là tích hợp dọc, ở đây, nội dung bài giảng ở mỗi phân môn có liên quan
đến các nội dung khác đã dạy hoặc sẽ dạy ở hai phân môn kia hoặc ở chính phân
môn ấy. Đối với kiến thức đã dạy, giáo viên cần tận dụng điều này để củng cố, ôn
tập đồng thời qua đó rèn luyện cho học sinh ý thức và kỹ năng vận dụng mọi kiến
thức đã học để xử lý các vấn đề trơcd mắt. Đối với kiến thức sẽ dậy, có thể giới
thiệu ở chừng mực cần thiết cho sự hiểu biết tối thiểu về khía cạnh đang đề cập, qua
đó khơi gợi trí tò mò, tinh thần ham hiểu biết của học sinh và đặt cơ sở thuận lợi
cho việc trình bày các kiến thức sẽ học ở sau. Quan điểm tích hợp phải đợc quán
triệt trong mọi khâu kể cả khâu đánh giá, kiểm tra.
2.1.2. Dạy học theo quan điểm tích cực.
2.1.2.1. Quan điểm chung:
11
Quan điểm dạy học theo hớng tích cực đã đợc diễn đạt bằng nhiều mệnh đề
hoạt động học tập của học simh" Những cách diễn đạt ấy cho thấy dạy tích cực là
ngời dạy tìm cách tổ chức việc cho học sinh, học tích cực là ngời học tự mình
chiếm lĩnh bài học dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên. Tích cực của ngời học
đáp ứng bằng các hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo ở tất cả các khâu từ
chuẩn bị bài dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên. Tích cực của ngời học là tự
mình đáp ứng bằng các hoạt động học tập, phát huy tính sáng tạo ở tất cả khâu từ
chuẩn bị bài, su tầm tài liệu, phát biẻu trong tổ, nhóm, tự đánh giá và đánh giá
bạn Đích của dạy học tích cực là đạt tới mục tiêu của bài học cả về kiến thức, kỹ
năng và thái độ.
2.1.2.2. Dạy học văn theo quan điểm tích cực.
Dạy học phân môn văn học trong môn ngữ văn là dạy học - hiểu văn bản.
Các văn bản trong sách giáo khoa chủ yếu là văn bản nghệ thuật, do đó đối tợng
đọc hiểu là các tác phẩm văn học. Đọc văn là hoạt động tiếp nhận văn học. Văn bản
nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận động trong cảm thụ của ngời đọc.
Mỗi ngời đọc văn, học văn bằng vốn sống, vốn văn hoá và thẩm mĩ riềng sẽ có đợc
hình cụ thể về tác giả, tác phẩm. Gắn liền với cá tính và đợc xác định bằng cá tính
tiếp nhận. Đó là đặc thù của hoạt động tiếp nhận tác phẩm văn học. Đọc văn là hoạt
động tiếp nhận văn học. Văn bản nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận
động trong cảm thụ của ngời đọc. Mỗi ngời đọc văn, học văn bằng vốn sống, vốn
văn hoá và thẩm mĩ riêng sẽ có đợc hình về tác giả, tác phẩm. Gắn liễn với cá tính
và đợc xác định bằng cá tính tiếp nhận. Đó là đặc thù của hoạt động của hoạt động
tiếp nhận tác phẩm văn học, đó cũng là hoạt động đọc hiểu. Đổi mới phơng pháp
dạy học văn học đặc biệt đề cao các giải pháp dạy học văn học, đó cũng là đặc thù
của hoạt động đọc hiểu. Đổi mới phơng pháp dạy học văn đặc biệt đề cao các giải
pháp s phạm tích cực nhăm tạo quyền cho ngời đọc"tự bộc lộ" các năng lực đọc -
hiểu cùa mình đối với tác phẩm.
Quy luật tiếp nhận đó cho thấy quan điẻm dạy học tích cực đặc bịêt phù hợp
với hoạt động đọc hiểu văn bản của phân môn văn. Trong phân môn văn, quan điểm
dạy học tích cực tri phối các mặt hoạt động đọc - hiểu, từ khâu thiết kế đến vận
hành bài hành bài học trên lớp và chuẩn bị bài học ở nhà của cả hai chủ thể dạy và
học.
12
Theo quan điểm dạy học tích cực thì giáo án không còn là phơng án trình
diễn hoạt động giảng dạy của giáo viên mang tới cho học sinh các kết luận có sẵn
mà là bản thiết kế các hoạt động dạy học xuất phát từ nhiệm vụ học tập của học tập
của học sinh, khơi dậy năng lực tự học của các em, giúp các em có cơ hội tự mình
chiếm lĩnh các tri thức và kỹ năng trong bài học.
Trong quá trình đôie mới phơng pháp dạy học, ta thấy xuất hiện nhiều khái
niệm phản ánh các hình thức cụ thể của hoạt động dạy học nh: các biện pháp dạy
học, các cách tổ chức cụ thể của hoạt động dạy học, các tổ chức các hoạt động dạy
học, các phơng tiện dạy học." Các khái niệm này có thể đặt trong một phạm trù
khái quát hơn"(2,31)
Nằm trong hệ thống các môn học trong nhà trờng và chịu ảnh hởng của các
yếu tố s phạm, môn Ngữ văn sẽ sử dụng các hình thức dạy học trong hoạt động
riêng của nó: dạy học đọc - hiểu văn bản. Đó có thể là hình thức học cá nhân, bằng
nôc lực riêng, mỗi học sinh tự mình tham gia học tập tiếp nhận tri thức của bài học.
Đó có thể là hình thức học tập theo nhóm nhằm hợp tác giải quyết nhiệm vụ do
giao viên và kết quả sẽ đợc đại diện nhóm nhằm báo cáo trớc lớp. Hình thức đàm
thoại đợc thực hiện bằng hệ thống câu hỏi khai thác tri thức của bài học. Các trò
chơi dạy học cũng có thể đa vào trong quá trình đọc - hiểu văn bản. Các phơng tiện
dạy học truyền thống(SGK, bảng, vở, tranh, ảnh ). Bên cạnh các hình thức dạy
học chung, môn ngữ văn cụ thể là môn Văn cũng có những hình thức dạy học đặc
thù nh giảng, giải,bình, đàm thoại
Nh vậy, đa dạng hoá các hình thức dạy học đọc - hỉêu văn bản sẽ là tự sáng
tạo trong lựa chọn và liên kết mọi hình thức dạy học thông dụng với các hình thức
dạy học tập trung chuyên biệt của môn văn để tạo ra bài học thoả mãn mục tiêu,
kiến thức, kỹ năng Ngữ văn, đồng thời tăng hứng thú cho ngời học văn trong hoạt
động đọc - hiểu văn bản.
"Tích cực hoá" trong dạy học, là một quan niệm hiện đại. Dạy học tích cực
đề cao cả hai chủ thể, ở đó năng lực tự học của giáo viên kết hợp với khả năng tổ
chức hớng dẫn của giáo viên sẽ tạo cơ hội cho hoạt động chiếm lĩnh tri thức và kỹ
năng của bài học. Năng lực tự học của của mối học sinh luôn đợc bộc lộ ngay trong
các hoạt động học bằng các hình thức tơng ứng. Cũng nh thế, sự lựa chọn và tổ
chức một sáng tạo các hình thức tơng ứng. Cũng nh thế, sự lựa chọn và tổ chức một
13
cách sáng tạo các hình thức dạy học trong các biểu hiện cụ thể cua nó sẽ thuộc về
khả năng mới của ngời giáo viên biết"tích cực hoá" hoạt động dạy học của mình
nhằm"tích cực hoá" hoạt động học tập của học sinh. Nh vậy, dạy học theo quan
điểm tích cực là một xu thế tất yếu hiện nay.
2.2. Phơng pháp dạy hoc.
2.2.1.Phơng pháp chung trong dạy học văn.
2.2.1.1. Đọc diễn cảm(phơng pháp đọc sáng tạo)
Đọc diễn cảm là một phơng pháp truyền thống trong nhà trờng từ xa đên
nay. Đọc diễn cảm không phải là một thủ thuật mà là một hoạt động sáng tao nghệ
thuật. Nếu nhà văn đi từ t tởng đến ngôn từ thì ngời đọc lại đi từ ngôn ngữ đến t t-
ởng. Đọc diễn cảm có ý nghĩa quan trọng đối với vịêc giảng dạy văn học vì con đ-
ờng đi vào tác phẩm nhất thiết là phải đọc. Đọc là một hình thức hoạt động học tập
có tính chất đặc thù của nhận thức về văn học. Tiếng nói của nhà văn gửi gắm cho
bạn đọc thông qua hệ thống của ngôn ngữ tạo nên hình tợng của tác phẩm, nhng tr-
ớc mắt bạn đọc nó chỉ là những tín hiệu chết."đọc sẽ làm âm vang lên những tín
hiệu của cuộc sống mà nhà văn định gửi gắm"(6,194). Âm vang của lời đọc kích
thích quá trình tri giác, tởng tợng và tái hiện hình ảnh. Cảm xúc bắt đầu từ đọc và
đợc t duy phát triển trong quá trình đọc. Nhập thân vào tác phẩm chỉ có thể bắt đầu
từ đọc diễn cảm. Đọc kích thích quá trình tâm lý cảm thụ, tri giác tởng tợng, xúc
cảm. Đọc đa ngời đọc vào thế giới của tác phẩm.
Việc đọc tác phẩm văn học khác với việc đọc các tác phẩm khoa học. Ngời
đọc phải làm sống dậy những tình cảm, t tởng của tác giả gửi gắm vào tác phẩm
qua s đồng cảm của ngời đọc. Đồng thời ngời đọc phải truyền cảm xúc đến cho ng-
ời nghe. Chính vì vậy trong quá trình đọc, ngời đọc phải xác lập đợc không khí giao
hoà, giao cảm giữa ngời nghe và tác giả. Ngời đọc truyền đến cho ngời nghe điều
nhà văn gửi gắm cho bạn đọc. Nếu không làm đợc điều này thì việc đọc sẽ không
có ý nghĩa .
Ngữ điệu trong đọc diễn cảm thay đổi tuỳ theo giọng điệu của nhà văn mà
ngời đọc phải thể hiện đợc. Bằng sức mạnh riêng của đọc diễn cảm, ngời giáo viên
dẫn dắt học sinh đi vào thế giới của tác phẩm một cách dễ dàng, phù hợp với quy
luật cảm thụ văn học. Tuỳ theo yêu cầu, giáo viên có thể đọc dới nhiều hình thức,
nhiều mức độ khác nhau: đọc cả bài, đọc từng đoạn, đọc để gây không khí, đọc đẻ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét