Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng HSXKD tại Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện Phù Cừ

thấp và sử dụng số tiền đó để đầu t nhằm thu lợi nhuận thông qua chênh lệch lãi
suất.
Thông thờng lợng vốn thuộc sở hữu Ngân hàng thờng rất nhỏ bé so với nhu
cầu vay vốn của khách hàng, do đó Ngân hàng thơng mại phải huy động vốn từ
nhiều nguồn khác nhau trong xã hội. Nguồn vốn mà Ngân hàng huy động đợc là cơ
sở để Ngân hàng thơng mại đầu t lại cho nền kinh tế. Đây chính là nguồn gốc của
tín dụng.
Tín dụng đợc hiểu là một quan hệ kinh tế giữa một bên là Ngân hàng và một
bên là khách hàng của Ngân hàng trong đó có sự chuyển nhợng tạm thời một lợng
giá trị (dới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ Ngân hàng sang cho khách hàng sử
dụng để sau một thời gian thu hồi về lợng giá trị lớn hơn lợng giá trị ban đầu với
những điều kiện mà hai bên thoả thuận với nhau.
Nh vậy, Tín dụng thể hiện các đặc trng cơ bản nh: có sự chuyển nhợng giá
trị từ ngời cho vay sang ngời đi vay, sau một thời gian thu hồi về một lợng giá trị
lớn hơn lợng giá trị ban đầu, việc chuyển nhợng đợc thực hiện trên cơ sở có sự tin t-
ởng của ngời chuyển nhợng đối với ngời sử dụng về việc sử dụng có hiệu quả và
hoàn trả đúng kỳ hạn. Đồng thời tín dụng cũng có khả năng rủi ro cao do mất vốn
và lãi, tính chất bảo đảm của tín dụng chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh, quy
luật cung cầu, quản lý lu thông tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.2.Vai trò của tín dụng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Ngân hàng là ngời cho vay chủ yếu đối với hàng triệu hộ tiêu dùng (cá
nhân, hộ gia đình) và hầu hết các chính quyền địa phơng (tỉnh, thành phố). Hơn
nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ ở địa phơng, từ ngời bán rau quả đến ngời kinh
doanh hàng hoá, Ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụng cơ bản phục vụ cho việc
mua hàng hoá dự trữ để sản xuất hay mua hàng hoá trng bày. Lịch sử của ngành
Ngân hàng cũng đã chứng minh rằng hoạt động tín dụng là bản chất, là gốc rễ của
hoạt động Ngân hàng.
Khi ta nói đến tín dụng là nói đến Ngân hàng. Theo pháp luật Mỹ thì bất kỳ
một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho phép khách hàng rút tiền theo yêu
cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thơng mại sẽ đợc xem là
một Ngân hàng. Hoạt động tín dụng gắn liền với một chức năng cơ bản của Ngân
hàng là điều hoà vốn trong nền kinh tế. Thông qua hoạt động nhận gửi và cho vay,
5
Ngân hàng đóng vai trò là một kênh dẫn vốn từ ngời tạm thời thừa vốn sang những
ngời có nhu cầu về vốn. Nếu không thông qua hoạt động tín dụng, chẳng những
Ngân hàng không thực hiện đợc chức năng của mình mà hoạt động tài chính trên thị
trờng nếu chỉ thông qua tài chính gián tiếp cũng không thể đạt đợc hiệu quả tối u.
Chính vì vậy việc cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình là một trong những hoạt
động Ngân hàng tiêu biểu để phân biệt Ngân hàng với các tổ chức tài chính khác. Và
luật Ngân hàng cũng đã quy định NHTM là một tổ chức tài chính duy nhất đợc thực
hiện cả hai mặt hoạt động tín dụng là huy động vốn và cho vay.
Hoạt động tín dụng dù ở bất kỳ thời kỳ nào cũng đều là nghiệp vụ cơ bản của
Ngân hàng và luôn là mảng kinh doanh mang lại phần lớn doanh thu và lợi nhuận
cho Ngân hàng. Từ việc đầu tiên chỉ là nhận giữ hộ tiền, nhận gửi rồi huy động và
cho vay, cho đến nay các hoạt động của Ngân hàng đã đợc mở rộng ra rất nhiều bao
gồm cả một số lĩnh vực nh thanh toán hộ khách hàng, bảo lãnh, kinh doanh ngoại
tệ, tài trợ xuất nhập khẩu. Nhng tín dụng cha bao giờ đánh mất đi vai trò của nó là
hoạt động chủ yếu và không thể thiếu cuả một Ngân hàng.
1.1.3. Một số hình thức tín dụng.
1.1.3.1.Căn cứ vào thời hạn tín dụng.
Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn cho vay đến 12 tháng và
thờng đợc sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các
nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thơng mại, tín dụng ngắn
hạn thờng chiếm tỷ trọng cao nhất.
Cho vay trung hạn: Loại cho vay này thờng có thời hạn từ trên 12 tháng đến
60 tháng và thờng đợc sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới công
nghệ, sử dụng cho các dự án có quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
Cho vay dài hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ trên 60 tháng trở lên nhng
không vợt quá thời hạn hoạt động còn lại của đơn vị kinh doanh theo quyết định
thành lập và không vợt quá 15 năm đối với các dự án phục vụ đời sống. Tín dụng
dài hạn là loại tín dụng nhằm đáp ứng vốn cho các nhu cầu vốn dài hạn nh xây dựng
nhà ở, mua sắm các thiết bị, phơng tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí
nghiệp mới để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống.
Nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng thơng mại là cho vay ngắn hạn
nhng từ những năm 70 trở lại đây các Ngân hàng có xu hớng chuyển sang kinh
6
doanh tổng hợp và một trong những nội dung đổi mới là nâng cao tỷ trọng cho vay
trung và dài hạn trong tổng d nợ của Ngân hàng.
1.1.3 2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
Cho vay bất động sản : Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nh nhà ở ,đất đai , bất động sản trong lĩnh vc công nghiệp ,thơng
mại , dịch vụ.
Cho vay công nghiệp và thơng mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp thơng mại và dịch
vụ .
Cho vay nông nghiệp : Loại cho vay này nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu
dùng nh mua sắm các vận dụng đắt tiền ,cho vay để trang trải các chi phí thông th-
ờng của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
1.1.3.3. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
Cho vay không có bảo đảm: Loại cho vay này không có tài sản thế chấp,
cầm cố hay sự bảo lãnh của bên thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản
thân khách hàng. Hình thức cho vay này chỉ áp dụng đối với những khách hàng tốt,
trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có hiệu quả.
Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay đợc Ngân hàng cung ứng khi khách
hàng vay phải có tài sản thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên
thứ ba có năng lực hoàn trả. Sự bảo đảm này là cơ sở pháp lý để Ngân hàng có thể
bảo đảm an toàn nguồn vốn cho vay của mình. Hình thức cho vay đợc Ngân hàng
áp dụng đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với Ngân hàng.
1.1.3.4. Căn cứ vào phơng thức hoàn trả
Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi
theo định kỳ. Loại cho vay này đợc áp dụng chủ yếu trong cho vay bất động sản nhà
ở, cho vay tiêu dùng đối với những ngời kinh doanh nhỏ, cho vay trang thiết bị kỹ
thuật trong công nghiệp.
Cho vay phi trả góp: Là loại cho vay đợc thanh toán một lần theo kỳ hạn đã
thoả thuận.
Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp đến ngời có nhu cầu, đồng
thời ngời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng.
7
Cho vay gián tiếp: Khoản cho vay đợc thực hiện thông qua việc mua lại các
khế ớc hoặc chứng từ nhận nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các
Ngân hàng thơng mại cho vay gián tiếp thông qua chiết khấu thơng mại, mua lại
các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp, mua lại các khoản
nợ của doanh nghiệp.
1.2. Tín dụng đối với sự mở rộng và phát triển kinh tế hộ sản xuất.
1.2.1. Khái niệm hộ sản xuất.
Theo Nghị quyết 10 Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, Hộ
sản xuất đợc hiểu là một đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh
doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và là thành phần kinh tế
cơ bản ở nông thôn, có quyền bình đẳng với các thành phần kinh tế khác trớc pháp
luật.
Hộ sản xuất đợc Nhà nớc giao đất sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản
xuất nông nghiệp, thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm và 50 năm đối với cây
trồng lâu năm (cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và cây rừng). Các hộ sản xuất
sử dụng đất đợc hởng các quyền nh: chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê, cho thuê
lại, thừa kế, thế chấp và tính giá trị sử dụng đất để góp vốn khi tham gia liên doanh.
Cùng với việc giao đất, Nhà nớc cũng có những chính sách hỗ trợ nông dân
phát triển kinh tế nh mở rộng các hoạt động tín dụng trong nông thôn, tăng cờng
khuyến nông - lâm- ng nghiệp. Đã khuyến khích nông dân phát triển khả năng sẵn
có về đất đai, sức lao động, tiền vốn, đẩy mạnh sản xuất tạo ra những thành quả hết
sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
1.2.2. Phân loại hộ sản xuất.
Hộ có thu nhập khá.
Là những hộ có vật t tiền vốn, có sức lao động, có kỹ thuật trong sản xuất
làm dịch vụ, biết tổ chức và thuê mớn ngời làm. Hay nói cách khác đó là những hộ
có môi trờng sản xuất và biết tổ chức sản xuất, biết thu hút lao động tạo công ăn
việc làm cho ngời lao động. Vì thế hộ này có nhu cầu vay vốn lớn trong quá trình
sản xuất và tạo ra nhiều lợi nhuận.
Hộ có thu nhập trung bình.
Loại hộ này trong quá trình sản xuất chăn nuôi trồng trọt có thu hoạch sản
phẩm nhng chỉ đủ mức sinh hoạt cho gia đình vì trong quá trình sản xuất hộ có vật
8
t tiền vốn, có sức lao động nhng bớc đầu cha tổ chức đợc sản xuất, cha áp dụng và
cải thiện kỹ thuật vào sản xuất. Vì vậy, đời sống của hộ còn gặp nhiều khó khăn,
cha đủ sức chuyển biến làm thay đổi bộ mặt nông thôn.
Loại hộ nghèo.
Ta thấy loại hộ này ở nông thôn chiếm nhiều nhất, họ có thể thiếu sức lao
động, thiếu vật t tiền vốn, cha biết tổ chức sản xuất, nên hiệu quả sản xuất thu lại
thấp, thậm chí trong sản xuất còn để thất thoát vốn. Hộ này thờng không đủ ăn cha
nói đến có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng.
1.2.3. Đặc điểm của vốn cho vay hộ sản xuất.
1.2.3.1. Vốn cho vay hộ sản xuất thờng có chi phí cao.
Đó là do món vay nhỏ, phân tán và đặc biệt là rủi ro lớn do các nguyên nhân
nh thiên tai, hạn hán, dịch bệnh, giá cả các mặt hàng nông sản thờng xuyên biến
động. Trong khi đó Chính phủ cha có chính sách trợ giá cụ thể, khuyến khích sản
xuất cho ngời nông dân. Vì vậy, về nguyên tắc, lãi suất tín dụng nông thôn thờng
cao hơn ở đô thị, trong khi đó thu nhập của nông dân thờng thấp và dễ bị tổn thơng.
Vấn đề đặt ra là Nhà nớc cần phải có chính sách lãi suất nh thế nào để hỗ trợ cho
nông dân và đảm bảo hoạt động Ngân hàng an toàn hiệu quả trong môi trờng kinh
doanh đặc thù nh vậy.
1.2.3.2. Vốn đầu t cho hộ sản xuất chủ yếu là vốn trung và dài hạn.
Vì hộ sản xuất chủ yếu vay để đầu t chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và
đa dạng hoá sản phẩm trong nông nghiệp cần có thời gian nên phải cần vốn đầu t từ
3-5 năm.
1.2.3.3.Vốn cho vay hộ sản xuất thờng quy định thời gian cho vay theo chu kỳ
sản xuất cây trồng vật nuôi và thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu t.
Nguồn thu nhập chính của hộ là từ sản phẩm sau thu hoạch đợc đem bán trên
thị trờng. Hầu hết nông sản đều có thời gian sinh trởng và phát triển nhất định nên
nguồn vốn cho vay cũng phải tuân theo chu kỳ sản xuất đó mới đảm bảo thu đủ và
thu đúng thời hạn khoản tiền vay Ngân hàng của hộ.
1.2.3.4. Để vốn cho vay hộ sản xuất đạt kết quả cao thì Ngân hàng không chỉ
cung cấp vốn bằng tiền mà còn phải hỗ trợ vốn, kiến thức, việc làm, môi trờng
làm ăn và nhiều hỗ trợ khác.
9
Vì vậy, đặc điểm của vốn cho vay hộ sản xuất có sự vận động ăn nhịp tổng
thể của các mối quan hệ kinh tế xã hội khác. Trong những năm qua việc đầu t tín
dụng đến hộ sản xuất đều có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Ngân hàng với các Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thuỷ sản và Hội Nông dân cùng tìm kiếm
và giới thiệu các chơng trình dự án phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả, tạo
ra sản phẩm hàng hoá có chất lợng cao, tiêu thụ nhanh trên thị trờng.
1.2.4. Vai trò của tín dụng đối với kinh tế HSX.
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế, đất nớc ta đã trải qua những giai đoạn
khó khăn nhng Đảng và Nhà nớc luôn chú trọng đến việc phát triển kinh tế Nông
nghiệp nông thôn, nhằm phát huy tối đa nội lực của các hộ kinh tế, khai thác hết
các tiềm năng về lao động và đất đai một cách hợp lý và có hiệu quả nhất, khắc
phục tình trạng phân hoá giàu nghèo cùng với tình trạng cho vay nặng lãi. Để thực
hiện vấn đề này HSX cần phải có đủ vốn cần thiết để tiến hành SXKD và không
ngoài ai khác chỉ có tín dụng mới có đủ khả năng cung cấp vốn trực tiếp đến từng
HSX. Qua quá trình hoạt động thực tế của mình hệ thống các NHTM, các quỹ tín
dụng đã thể hiện vai trò to lớn của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế HSX cụ thể
là.
Tín dụng cung cấp vốn đến từng HSX trên cơ sở nhu cầu vay vốn giúp Ngân
hàng cung cấp vốn cho từng HSX giúp họ tận dụng khai thác mọi tiềm năng đất đai,
lao động và tài nguyên thiên nhiên từ đó đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú
hơn hàng hoá để cung cấp cho sản xuất công nghiệp xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu
lơng thực thực phẩm cho toàn xã hội
Tín dụng đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn trong Nông nghiệp
nông thôn, tạo điều kiện duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, phát
triển các nghề mới nhằm giải quyết công ăn việc làm cho từng hộ, giúp họ tăng thu
nhập, cải thiện đời sống.
Tín dụng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nông thông, tăng tính hàng
hoá của sản phẩm Nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trờng theo định
hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta nh mô hình kinh tế (VAC) mô hình kinh tế trang trại
đã thực sự đánh dấu một bớc ngoặc trong việc phát triển kinh tế Nông nghiệp
nông thôn, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của ngời nông dân, tạo
điều kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen tốt trong hoạt động kinh tế
cho phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc.
10
Tín dụng là công cụ tài trợ phát triển cơ sở hạ tầng ở Nông thôn, tạo điều kiện
cho từng HSX tiếp thu công nghệ mới vào SXKD. Với phơng châm "Nhà nớc và
nhân dân cùng làm" việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho nông thôn đã và đang đợc
thực hiện.
Tín dụng không những tham gia vào quá trình sản xuất bằng hình thức cho
vay vốn lu động mà còn đầu t vốn trung và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ
thuật tiến tiến phục vụ cho sản xuât và đời sống của ngời dân nông thông nh: Xây
dựng mạng lới điện, trạm bơm, hệ thống thuỷ lợi, đờng xá, cải tiến công cụ lao
động và đầu t dịch vụ phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Trong sản xuất hàng hoá, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình thì bất cứ một
đơn vị SXKD nào cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để sản phẩm của mình đợc
thị trờng chấp thuận và kinh doanh có lãi, các HSX nớc ta chủ yếu là nông dân nên
phần lớn có thói quen với suy nghĩ "Lấy công làm lãi" thờng tiến hành sản xuất
trong khi hiệu quả SXKD cha đợc coi trọng đúng mức. Vài năm gần đây NH đã có
sự quan tâm hơn tới các HSX, các hộ đợc vay vốn của Ngân hàng song phải thực
hiện nguyên tắc hoàn trả cho Ngân hàng đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi .Do đó đòi
hỏi các hộ phải tính toán hiệu quả sử dụng vốn vay có mục đích để sau khi trả nợ
gốc, lãi cho Ngân hàng các hộ vẫn còn phần thu nhập của mình.
Tín dụng hạn chế cho vay nặng lãi trong Nông thôn. Tình trạng cho vay nặng
lãi ở nông thôn đã tồn tại từ lâu và có tác động rất lớn đến sản xuất và đời sống của
nhân dân với mức lãi suất quá cao nó là nguyên nhân gây ra những tiêu cực ở Nông
thôn. Bởi vậy Tín dụng thâm nhập sâu vào đời sống Nông thôn đã hạn chế đợc đáng
kể nạn cho vay nặng lãi, tạo điều kiện cho kinh tế HSX vơn lên và thực tế các
NHTM đã và đang trở thành ngời bạn đồng hành trên con đờng đi lên của các hộ
nông dân.
Tín dụng thúc đẩy quá trình huy động vốn trong nền kinh tế và đáp ứng nhu
cầu vốn nhằm phát triển và mở rộng sản xuất hàng hoá.
Tín dụng cung cấp vốn cho HSX, một phần sản phẩm của họ sẽ trở thành
hàng hoá, đồng thời thông qua thị trờng họ có thể định hớng cho sản xuất của mình
sao cho sản phẩm sản xuất ra đáp ứng đợc nhu cầu đa dạng của ngời mua. Để đáp
ứng ngày càng tốt những nhu cầu đa dạng đó buộc họ phải mở rộng Quy mô sản
xuất, tìm mọi biện pháp nâng cao chất lợng sản phẩm để tiêu thụ nhanh, với lợi
nhuận cao. Nh vậy nhờ có tín dụng mà tính chất sản xuất hàng hoá ngày càng tăng
lên trong cách làm, cách nghĩ của ngời nông dân.
11
1.2.5. Quy trình thủ tục cho vay đối với hộ sản xuất
Có thể là hộ sản xuất đến trụ sở Ngân hàng xin vay trực tiếp; hoặc cho vay
thông qua doanh nghiệp đợc áp dụng đối với các đối tợng nhận khoán của các
doanh nghiệp đã thực hiện giao khoán, doanh nghiệp có thể vay trực tiếp Ngân hàng
để chuyển tải vốn cho hộ nhận khoán hoặc Ngân hàng nơi cho vay ký hợp đồng với
doanh nghiệp làm dịch vụ vay vốn cho hộ sản xuất và Ngân hàng cung ứng vốn trực
tiếp đến hộ sản xuất; nhng hình thức cho vay áp dụng phổ biến đối với hộ sản xuất
hiện nay là thông qua tổ vay vốn. Khi thực hiện theo phơng thức này đối với hộ sản
xuất vay vốn không phải bảo đảm bằng tài sản thì hồ sơ vay vốn phải có giấy đề
nghị vay vốn. Còn những trờng hợp hộ sản xuất khác thì hồ sơ vay vốn gồm: giấy
đề nghị vay vốn; dự án, phơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ; hồ sơ bảo đảm tiền
vay theo quy định; ngoài ra còn có biên bản thành lập tổ vay vốn, hợp đồng làm
dịch vụ.
Quy trình thủ tục cho vay hộ sản xuất
(thông qua tổ vay vốn)
(1)

(3) (2)
(1)Tổ viên gửi cho tổ trởng giấy đề nghị vay vốn và các giấy tờ khác theo
quy định.
(2)Tổ trởng nhận giấy đề nghị vay vốn của tổ viên, tổ chức họp bình xét
điều kiện vay vốn, sau đó tổng hợp danh sách tổ viên có đủ điều kiện vay vốn, đề
nghị Ngân hàng xét duyệt cho vay.
(3)NHNo Huyện mà đại diện là cán bộ phụ trách địa bàn nhận hồ sơ vay
vốn của hộ sản xuất từ tổ trởng tại các thôn xã trong huyện và tập hợp về trụ sở
Ngân hàng, xin ý kiến của trởng phòng tín dụng và phó giám đốc phụ trách tín
dụng. Cho vay hay không cho vay cán bộ tín dụng đều phải thay mặt Ngân hàng
thông báo cho hộ vay biết cụ thể. Nếu cho vay CBTD sẽ làm thủ tục và mời hộ vay
lên ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với NHNo Huyện.
1.3. Chất lợng tín dụng đối với hộ sản xuất.
12
Hộ sản xuất Tổ vay vốn
Ngân hàng Nông nghiệp Huyện
1.3.1. Khái niệm chất lợng tín dụng.
Trong nền kinh tế thị trờng bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra cũng
đều phải mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản phẩm sản xuất ra đều
phải có chất lợng. Các nhà kinh tế đã nhận xét rằng: chất lợng là sự phù hợp với
mục đích huặc sử dụng hay chất lợng là năng lực của một sản phẩm huặc một dịch
vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của ngời sử dụng.
Tín dụng là một trong những sản phẩm chính của Ngân hàng. Đây là hình
thức sản phẩm mang hình thái phi vật chất, là dịch vụ đặc biệt. Sản phẩm này chỉ có
khả năng đánh giá đợc chất lợng sau khi khách hàng đã sử dụng, do vậy có thể quan
niệm chất lợng tín dụng là việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu
phát triển Ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Chất lợng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể( thể hiện qua các chỉ tiêu có
thể tính toán đợc nh kết quả kinh doanh, nợ quá hạn ) vừa trừu tợng (thể hiện qua
khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế )
Nh vậy chất lợng tín dụng thể hiện qua các điểm sau.
Chất lợng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi
của NHTM với sự thay đổi của môi trờng bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh của một
Ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại.
Chất lợng tín dụng đựơc xác định qua nhiều yếu tố: Thu hút đợc khách hàng
tốt, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn của vốn tín dụng.
Chất lợng tín dụng không tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quy trình kết
hợp hoạt động giữa con ngời trong một tổ chức, giữa các tổ chức với nhau vì một
mục đích chung.
1.3.2. Quan điểm chất lợng tín dụng.
Chất lợng tín dụng là vốn tín dụng đầu t vào các thành phần kinh tế, phát
huy hiệu quả an toàn vốn và tạo ra lợi nhuận cho NHTM và hạn chế rủi ro sảy ra.
Tín dụng đợc hiểu theo đúng nghĩa là vốn cho vay của Ngân hàng đợc khách hàng
sử dụng đa vào quá trình SXKD dịch vụ để tạo ra một số tiền lớn hơn vừa để hoàn
trả Ngân hàng gốc và lãi và trang trải chi phí khác và có lợi nhuận. Nh vậy qua một
quá trình chu chuyển vốn nh trên Ngân hàng sẽ thu hồi vốn gốc và lãi còn khách
hàng sử dụng vốn có hiệu quả, đúng mục đích tạo ra của cải vật chất cho nền kinh
tế xã hội góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hay nói một cách khác chất lợng
13
tín dụng phải đảm bảo hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng về 2 mặt là khả năng
sinh lời và giảm tối thiếu rủi ro về sử dụng vốn. Đồng thời hoạt động tín dụng tốt
phải dựa trên nguyên tắc là thoả mãm nhu cầu về vốn của khách hàng ( ngời đi vay).
Do đó các NHTM cần xác định đợc khách hàng mục tiêu, hiểu rõ hơn nhu cầu của
khách hàng để có chính sách phục vụ tốt.
1.3.2.1. Đối với Ngân hàng.
Chất lợng tín dụng là phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với
thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo đợc tính cạnh tranh trên thị trờng, an
toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.
1.3.2.2. Đối với khách hàng.
Chất lợng TD đứng trên góc độ khách hàng đợc quan niệm.
Tín dụng phải đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu về vốn cho các doanh
nghiệp, cá nhân đảm bảo quá trình SXKD của khách hàng đợc trôi trẩy, không ách
tắc mất thời cơ vì thiếu vốn.
Lãi suất cho vay phải phù hợp, đảm bảo cho khách hàng SXKD có lãi. Bao
giờ khách hàng cũng mong muốn đợc vay NH với lãi suất thấp hơn là vay ngoài.
Chính vì vậy chính sách lãi suất của các NHTM cũng chính là một công cụ để các
NHTM cạnh tranh với nhau trên thị thờng
Thời hạn nợ đợc xác định phù hợp với chu kì SXKD. Việc định kì hạn nợ của
NH có một vị trí rất quan trọng đối với khách hàng. Nếu Ngân hàng định kì hạn nợ
ngắn hơn chu kì SXKD sẽ là một khó khăn rất lớn cho khách hàng. Bởi chu kì
SXKD của họ cha hoàn thành, sản phẩm cha hoàn thiện dẫn đến cha có sản phẩm
để tiêu thụ do đó họ không có khả năng trả nợ Ngân hàng. Ngợc lại nếu Ngân hàng
xác định kì hạn nợ vợt quá chu kì sản xuất, sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng
số tiền đáng ra là để trả nợ cho Ngân hàng vào mục đích khác. Do đó khi đến thời
hạn trả nợ khách hàng không còn khả năng trả nợ, buộc các Ngân hàng phải chuyển
nợ quá hạn cho khách hàng, mà khách hàng lại rất sợ phải chịu phạt lãi suất nợ quá
hạn
Thủ tục cho vay gọn nhẹ, không quá rờm rà và phải thuận lợi trong quá trình
thực hiện tránh tình trạng vì thủ tục hồ sơ vay vốn quá phức tạp mất thời gian làm
chậm mất cơ hội đầu t sản xuất kinh doanh của khách hàng.
Thái độ phục vụ của Ngân hàng: Khách hàng bao giờ cũng muốn lựa chọn
những Ngân hàng có phong cách phục vụ tận tình chu đáo để vay vốn, chính vì vậy
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét