quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng
cáo” của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền.
- Bên nhượng quyền thương mại và bên nhận quyền thương mại
luôn tồn tại “ quyền kiểm soát và trợ giúp” rất gắn bó và mật thiết. Đây
được coi là một đặc điểm nổi bật của nhượng quyền thương mại so với
các hoạt động thương mại khác. Nhượng quyền thương mại thực chất là
việc mở rộng mô hình kinh doanh đã thành công trên thị trường bằng cách
chia sẻ quyền kinh doanh thương mại cho các thương nhân nhận quyền.
Tuy nhiên việc mở rộng mô hình kinh doanh, bên nhượng quyền thương
mại luôn phải đối mặt với nguy cơ giảm uy tín thương mại nếu bên nhận
quyền không thực hiện đúng cam kết. Điều này đòi hỏi bên nhượng quyền
phải kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền, khiến bên nhận quyền
phải tuân thủ chặt chẽ mô hình kinh doanh của bên nhượng quyền, qua đó
bảo vệ được thương hiệu của mình.
- Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ nhượng quyền thương mại
chính là hợp đồng nhượng quyền thương mại, chính hợp đồng thương mại
thể hiện việc thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoậc chấm
dứt quyền và nghĩa vụ trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Theo
Điều 285 Luật Thương mại 2005 thì “ hợp đồng thương mại phải được
lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương
đương.”
3. Bản chất
Trong thời gian trước đây ở Việt Nam nhượng quyền thương mại
được coi như là một dạng hoạt động chuyển giao công nghệ và chịu sự
điều chỉnh của luật về chuyển giao công nghệ. Tuy nhiên về bản chất
nhượng quyền thương mại và chuyển giao công nghệ là hai hoạt động
khác biệt. Nhượng quyền thương mại chính là việc nhượng quyền kinh
doanh kèm theo đó là uy tín, nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, khẩu
hiệu, biểu tượng kinh doanh cũng như các kiến thức, bí quyết kinh doanh
5
dây truyền thiết bị công nghệ cho một thương nhân. Trên cơ sở đó thương
nhân nhận quyền thương mại phát triển một cơ sở kinh doanh mới, một cơ
sở có thể bán, sản xuất kinh doanh một loại hàng hóa nhất định hoặc cung
cấp các dịch vụ có cùng chất lượng, hình thức, phương thức phục vụ như
thương nhân nhượng quyền và dưới thương hiệu của thương nhân nhượng
quyền. Hay nói cách khác “nhượng quyền thương mại là hoạt động
thương mại nhằm mở rộng hệ thống kinh doanh của bên nhượng quyền
thông qua việc chia sẻ quyền kinh doanh trên cùng một thương hiệu cho
bên nhận quyền”. Ngược lại chuyển giao công nghệ thực chất là việc
chuyển giao các kiến thức kỹ thuật từ người có kiến thức cho một người
khác, trên cơ sở đó người nhận kiến thức khai thác các giá trị của công
nghệ sản xuất ra hàng hóa sản phẩm theo ý kiến chủ quan của mình chứ
không phải theo một khuôn mẫu, quy định nào từ phía bên chuyển giao
công nghệ. Xuất phát từ sự khác biệt về bản chất đó, cho nên khi sử dụng
các văn bản pháp luật về chuyển giao công nghệ điều chỉnh việc nhượng
quyền thương mại đã tạo ra một số vấn đề bất cập trong thực tiễn, nhận
thức được những vấn đề bất cập đó, đồng thời để đáp ứng được yêu cầu
của thực tiễn cuộc sống và tiến trình hội nhập, Luật Thương mại 2005 đã
chính thức bổ sung thêm một số hoạt động thương mại vào phạm vi điều
chỉnh đó là nhượng quyền thương mại. Đây là chế định góp phần hoàn
thiện pháp luật về thương mại nói chung và nhượng quyền thương mại
nói riêng. Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại độc lập, có
những nét đặc thù so với chuyển giao công nghệ.
Dưới góc độ kinh doanh, nó là một hình thức tiếp thị và phân phối
hàng hóa, dịch vụ rất hiệu quả, theo đó, bên nhận quyền được cấp quyền
kinh doanh một loại sản phẩm hoặc dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn,
hệ thống, phương thức đã được bên nhượng quyền thiết lập với sự trợ
giúp, huấn luyện và kiểm soát của bêm nhượng quyền. Đổi lại, bên nhận
quyền phải trả phí nhượng quyền và phí bản quyền cho bên nhượng
quyền.
6
4. Ý nghĩa của hoạt động nhượng quyền thương mại
* Đối với bên nhượng quyền:
+ Mở rộng được hệ thống kinh doanh mà không phải đầu tư nhiều và
vẫn nằm trong sự điều tiết, kiểm soát của mình. Do tính đặc thù của
nhượng quyền thương mại là bên nhận quyền thương mại luôn chịu sự
kiểm soát của bên nhượng quyền thương mại.
+ Thu được một khoản lợi nhuận không nhỏ từ việc nhượng quyền cho
bên nhận quyền vì khi nhượng quyền, bên nhận quyền phải trả tiền bản
quyền thuê thương hiệu và tiền phí để được kinh doanh với tên và hệ
thống của bên nhượng quyền. Đồng thời bên nhận quyền phải mua sản
phẩm, nguyên liệu của bên nhượng quyền nhờ đó mà bên nhượng quyền
có thể tối đa hoá thu nhập của mình.
+ Cải thiện được hệ thống phân phối.
+ Thúc đẩy việc quảng bá thương hiệu. Khi sử dụng hình thức nhượng
quyền, bên nhượng quyền sẽ tạo được những lợi thế trong việc quảng cáo,
quảng bá thương hiệu của mình. Mở rộng kinh doanh và sự xuất hiện ở
khắp nơi của chuỗi cửa hàng sẽ đưa hình ảnh về sản phẩm đi sâu vào tâm
trí khách hàng một cách dễ dàng hơn.Bên cạnh đó, vì chi phí quảng cáo sẽ
được trải rộng cho rất nhiều cửa hàng, cho nên, chi phí quảng cáo cho một
đơn vị kinh doanh là rất nhỏ. Điều này giúp bên nhượng quyền xây dựng
được một ngân sách quảng cáo lớn. Đây là một lợi thế cạnh tranh mà khó
có đối thủ cạnh tranh nào có khả năng vượt qua. Hoạt động quảng cáo
càng hiệu quả, hình ảnh về sản phẩm, thương hiệu càng được nâng cao,
giá trị vô hình của công ty càng lớn sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho bên
nhận quyền khi sử dụng nhãn hiệu, thương hiệu của bên nhượng quyền.
Và như thế cả bên nhượng quền và bên nhận quyền ngày càng thu được
nhiều lợi nhuận từ việc áp dụng hình thức kinh doanh nhượng quyền.
+ Hạn chế khả năng cạnh tranh của các đối thủ.
7
* Đối với bên nhận quyền:
+ Tận dụng được nguồn lực, tiết kiệm được chi phí và thời gian trong
việc xây dựng một mô hình kinh doanh đào tạo đội ngũ quản lý hay xây
dựng một thương hiệu trên thị trường.
+ Giảm thiểu rủi ro: Mục đích chủ yếu của nhượng quyền chính là
giảm thiểu rủi ro. Việc mở cửa hàng, cơ sở kinh doanh mới có rất nhiều
rủi ro và tỷ lệ thất bại cao. Lý do chính của tỷ lệ thất bại cao là do người
quản lý là những người mới bước vào nghề, không có kinh nghiệm và phải
mất nhiều thời gian cho việc học hỏi các đặc trưng riêng của từng loại
hình kinh doanh. Khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền, bên nhận
quyền sẽ được huấn luyện, đào tạo và truyền đạt các kinh nghiệm quản lý,
bí quyết thành công của các loại hình kinh doanh đặc thù mà bên nhượng
quyền đã tích luỹ được từ những lần trải nghiệm trên thị trường tức là họ
kinh doanh theo một mô hình quản lý có sẵn. Bên nhận quyền không phải
trải qua giai đoạn xây dựng và phát triển ban đầu. Bên nhượng quyền sẽ
hướng dẫn bên nhận quyền các nguyên tắc chung.
+ Được mua nguyên liệu, sản phẩm với giá ưu đãi: bên nhượng quyền
luôn có những ưu đãi đặc biệt về cung cấp sản phẩm, nguyên liệu cho bên
bên nhận quyền. Do đó, bên nhận quyền được mua sản phẩm hoặc nguyên
liệu với khối lượng lớn theo một tỷ lệ khấu hao đầy hấp dẫn. Giá của các
sản phẩm, nguyên liệu đầu vào thấp sẽ là một trong những lợi thế cạnh
tranh lớn. Nếu trên thị trường có những biến động lớn như việc khan hiếm
nguồn hàng thì bên nhượng quyền sẽ ưu tiên phân phối cho bên nhận
quyền trước. Điều này giúp cho bên nhận quyền ổn định đầu vào, tránh
được những tổn thất từ biến động thị trường.
+ Rất phù hợp với những thương nhân có quy mô kinh doanh vừa và
nhỏ vì mức cạnh tranh của các thương nhân này nếu tự mình xây dựng các
thương hiệu cho riêng mình thì sẽ rất khó khăn.
8
II. THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1. Trên thế giới
Nhượng quyền thương mại được thế giới nhìn nhận là khởi nguồn
tại Mỹ nhưng thực tế đã hình thành trước đó tại Trung Quốc với hình thức
có 2 – 3 điểm bán lẻ cùng hình thức tại một số địa điểm khác nhau cùng
kinh doanh. Năm 1840, các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một vài
quán bia quyền bán sản phẩm của họ. Năm 1851, lần đầu tiên trên thế giới
nhà sản xuất máy khâu Singer của Mỹ ký cho thực hiện hợp đồng nhượng
quyền kinh doanh. Singer đã ký hợp đồng nhượng quyền và trở thành
người tiên phong trong việc thoả thuận hình thức nhượng quyền. Năm
1880 bắt đầu nhượng quyền bán sản phẩm cho các đại lý độc quyền trong
lĩnh vực xe hơi, dầu lửa, gas. Trong thời gian này, phạm vi hoạt động
nhượng quyền chỉ là chuyển quyền phân phối và bán sản phẩm của các
nhà sản xuất. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hình thức này đã thực sự phát
triển rất mạnh mẽ. Sự bùng nổ dân số sau chiến tranh đã kéo theo sự tăng
vọt nhu cầu về các loại sản phẩm và dịch vụ và lúc này, nhượng quyền đã
trở thành mô hình kinh doanh thích hợp để phát triển nhanh chóng trong
ngành công nghiệp thức ăn nhanh và khách sạn. Vào thập niên 60-70,
nhượng quyền bùng nổ và phát triển mạnh ở Mỹ, Anh và một số nước
khác.
Ngày nay, quá trình toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra rất nhanh,
mạnh trong tất cả các lĩnh vực. Hình thức nhượng quyền càng phát huy
vai trò của nó trên toàn thế giới. Theo các nghiên cứu mới nhất, cứ 12
phút lại có 1 hệ thống nhượng quyền mới ra đời. Ở Mỹ, 90% công ty kinh
doanh theo hình thức nhượng quyền thương mại tiếp tục hoạt động sau 10
năm trong khi 82% công ty độc lập phải đóng cửa và cũng chỉ có 5%
công ty theo hợp đồng thương hiệu thất bại trong năm đầu tiên so với
9
38% công ty độc lập. Điều đó cho thấy sự bùng nổ hình thức này trên thế
giới là điều tất yếu.
Một số kết quả thực sự ấn tượng của hệ thống này mang lại trên thế
giới : Doanh thu từ hoạt động kinh doanh nhượng quyền trên toàn thế giới
năm 2000 đạt 1.000 tỷ USD với khoảng 320.000 DN từ 75 ngành khác
nhau. Nếu so sánh với GDP của Việt Nam cùng năm thì hệ thống này gấp
trên 28 lần và còn có dấu hiệu vượt hơn nữa trong những năm gần đây.
Tại Mỹ, hoạt động nhượng quyền chiếm trên 40% tổng mức bán lẻ, thu
hút được trên 8 triệu người lao động tứ là 1/7 tổng lao động ở Mỹ và có
hơn 550.000 cửa hàng nhượng quyền và cứ 8 phút lại có một cửa hàng
nhượng quyền mới ra đời.
Ở Châu Âu, tổng cộng có hơn 4.000 hệ thống nhượng quyền thương
mại; với 167.500 cửa hàng nhượng quyền thương mại, doanh thu đạt
khoảng 100 tỉ Euro. Tạo ra hơn 1.5 triệu việc làm. Ở Anh, nhượng quyền
thương mại là một trong những hoạt động tăng trưởng nhanh nhất của nền
kinh tế với khoảng 32.000 DN nhượng quyền, doanh thu mỗi năm 8,9 tỷ
bảng Anh. Khu vực nhượng quyền thương mại cũng thu hút một lượng
lao động lớn với khoảng 317.000 lao động và chiếm trên 29% thị phần
bán lẻ.
IFA cho hay, nhượng quyền kinh doanh thương hiệu riêng ở khu vực
châu Á đã tạo doanh thu hơn 50 tỷ USD mỗi năm.
Ở Thái Lan số hợp đồng nhượng quyền đang tăng rất nhanh, trong đó
có tới 67% thuộc khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, với số vốn ban đầu
cho mỗi hợp đồng 20.000-65.000 USD. Bộ thương mại công bố chương
trình khuyến khích và quảng bá thương hiệu nội địa ra thị trường quốc tế
qua nhượng quyền thương mại. Được hỗ trợ đào tạo trung và ngắn hạn về
công nghệ nhượng quyền thương mại. Bước đầu: năm 2004 đạt 25 triệu
Baht, năm 2005 tăng 10% tương tự các năm tiếp theo.
Tại Nhật Bản, nhượng quyền thương mại phát triển mạnh từ năm 1996,
đến năm 2004 đã có 1.074 hệ thống nhượng quyền thương mại và
10
220.710 cửa hàng nhận quyền thương mại, doanh thu từ công nghệ
nhượng quyền thương mại là khoảng 150 tỉ USD, tăng trưởng hàng năm
7%.
Từ năm 1980, nhượng quyền thương mại vào Trung Quốc. Đến năm
2004, nước này đã có 2.100 hệ thống nhượng quyền (nhiều nhất thế giới),
với 120.000 cửa hàng nhượng quyền trong 60 lĩnh vực khác nhau. Biểu
đồ tăng trưởng hoạt động nhượng quyền của Trung Quốc dựng đứng kể từ
khi nước này gia nhập WTO. Từ năm 2000, tại Trung Quốc, bình quân
mỗi năm hệ thống nhượng quyền tăng 38% vượt xa mức tăng trưởng
10%/năm của hàng tiêu dùng, các cửa hàng nhận nhượng quyền tăng
55%. Đặc biệt, hệ thống nhượng quyền thương mại của doanh nghiệp
Trung Quốc cạnh tranh ngang hàng với thương hiệu nhượng quyền nổi
tiếng của nước ngoài.
Ở Malaysia, nhìn thấy lợi ích của nhượng quyền thương mại từ 1992,
Chính phủ thành lập chương trình quốc gia về chuyển nhượng (Franchise
Development Programe - FDP) với 2 mục tiêu: Gia tăng số doanh nghiệp
bán / mua nhượng quyền thương mại; Thúc đẩy phát triển những sản
phẩm / dịch vụ đặc thù nội địa thông qua nhượng quyền thương mại.
Ở Úc, tổng cửa hàng nhượng quyền thương mại khoảng 54.000, đóng
góp 12% vào GDP và tạo hàng trăm ngàn việc làm cho người lao động.
2. Tại Việt Nam
Giữa thập niên 90, ở nước ta đã có một vài doanh nghiệp kinh doanh
thiết bị lọc nước do Việt kiều về đầu tư đã đưa ra hình thức nhượng quyền
thương mại, nhưng thị trường lúc bấy giờ chưa thực sự sôi động và bản
thân thương hiệu của các doanh nghiệp đó cũng chưa mấy nổi tiếng nên đã
không thành công. Mãi đến 3 - 4 năm trở lại đây, hình thức nhượng quyền
thương mại mới rục rịch trở lại với các thương hiệu tên tuổi như Kinh Đô,
Trung Nguyên, Lotteria, Phở 24 Theo ông Patrick Ho Lock Yin - Phó
11
tổng giám đốc Công ty cổ phần Kinh Đô, đến nay Kinh Đô có mạng lưới
150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộng khắp trên cả nước với
nhiều chủng loại sản phẩm bánh, kẹo. Trong đó, có nhiều cửa hàng Kinh
Đô đã áp dụng phương thức nhượng quyền thương mại. Còn đối với Công
ty cà phê Trung Nguyên, đây là thương hiệu cà phê số 1 và cũng là doanh
nghiệp Việt Nam đầu tiên áp dụng mô hình kinh doanh nhượng quyền
thương mại. Hiện Trung Nguyên đã có 1.000 quán cà phê ở Việt Nam,
Singapore, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc và đang tiếp tục phát triển tại
Mỹ, Đức, Australia thông qua phương thức nhượng quyền thương mại
này. Theo phân tích của chương trình dự báo bán lẻ tại TP.HCM, cơ hội
kinh doanh nhượng quyền thương mại ở Việt Nam rất lớn do có các yếu
tố: kinh tế vẫn đang trong giai đoạn tăng trưởng tốt; các trung tâm mua
sắm, đô thị, khu thương mại dịch vụ còn phân bố rải rác, thích hợp để
các thương hiệu mạnh phát triển chuỗi - hệ thống bán hàng; với thị trường
tiềm năng hơn 84 triệu dân, hạ tầng dịch vụ ngày càng hoàn thiện và tâm
lý kinh doanh thích làm chủ của người Việt Nam trong điều kiện vốn và
kinh nghiệm đều có giới hạn thì kinh doanh nhượng quyền là phương pháp
thích hợp nhất. Tóm lại đến nay, ở Việt Nam có một số hệ thống nhượng
quyền rất thành công và một số đang trên đà phát tiển nhưng nhìn chung là
còn rất khiêm tốn. Những hệ thống nhượng quyền thương mại nước ngoài
đã vào Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ, hiện có khoảng gần 100
thương hiệu: Trà Dilmah, tập đoàn bán lẻ Bourbon Group ( BigC), KFC,
Jollibee, Qualitea, khách sạn Sofitel, Hilton, Sharaton, Metro Cash &
Carry, Bourbon, Parkson (Malaysia), v.v … Trong thời gian tới đây khi
Việt Nam đã gia nhập WTO, sẽ có nhiều nhân tố làm phát triển thị trường
nhượng quyền thương mại hơn nữa, đặc biệt khi Việt Nam lại được đánh
giá là thị trường bán lẻ có tiềm năng cao.
12
III. NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NHƯỢNG QUYỀN
THƯƠNG MẠI.
Để tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nhượng quyền thương mại, nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh quan hệ nhượng quyền
thương mại. Quan hệ nhượng quyền thương mại rất phức tạp, phụ thuộc
vào đối tượng “ quyền thương mại” được chuyển giao đến mức độ như thế
nào mà mỗi hợp đồng nhượng quyền thương mại có thể có những đặc
trưng riêng và đặt ra những yêu cầu riêng cho việc áp dụng pháp luật. Vì
vậy pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại cũng rất đa
dạng và phong phú. Có thể tìm thấy những quy phạm pháp luật điều chỉnh
quan hệ nhượng quyền thương mại trong nhiều văn bản như tại:
+Bộ luật dân sự 2005
+Luật thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành là Nghị
định 35/2006/NĐ_CP, Thông tư Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương)
số 09/2006/TT_BTM ngày 25-05-2006
+Luật sở hữu trí tuệ 2005
+Luật chuyển giao công nghệ 2006
+Luật cạnh tranh 2004
1. Quy định của pháp luật về nhượng quyền thương mại trong Luật
thương mại và các văn bản hướng dẫn.
-Trong Luật Thương mại và các văn bản hướng dẫn thì điều chỉnh trực
tiếp hoạt động nhượng quyền thương mại và vấn đề nhượng quyền thương
mại được ghi nhận từ Điều 284 đến Điều 291 trong Luật thương mại. Luật
Thương mại mới chỉ đề cập những vấn đề chung nhất về nhượng quyền
thương mại, đó là các quyền và nghĩa vụ của thương nhân nhượng quyền
và thương nhân nhận quyền; nhượng quyền lại cho bên thứ 3; đăng ký
nhượng quyền thương mại.
13
Khi thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại thì tại điều 286 và
điều 287 có quy định về quyền và nghĩa vụ của thương nhân nhượng
quyền như sau:
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có
các quyền sau đây:
1. Nhận tiền nhượng quyền;
2. Tổ chức quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng
lưới nhượng quyền thương mại;
3. Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm
bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn
định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ.” (Điều 286)
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có
các nghĩa vụ sau đây:
1. Cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mại
cho bên nhận quyền;
2. Đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên cho
thương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống
nhượng quyền thương mại
3. Thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi
phí của thương nhân nhận quyền
4. Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi trong hợp
đồng nhượng quyền;
5. Đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thống
nhượng quyền thương mại.” (Điều 287)
Quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyền được quy định như sau:
“Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có các
quyền sau đây:
1. Yêu cầu thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ trợ giúp kỹ
thuật có liên quan đến hệ thống nhượng quyền thương mại;
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét