BÁO CÁO KIỂM ĐIỂM 10 NĂM THỰC HIỆN
PHÁP LỆNH QUY ĐỊNH VIỆC XÉT VÀ GIẢI QUYẾT
CÁC KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
(1981- 1991)
THANH TRA NHÀ NƯỚC
Ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh quy định
việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân.
Ngày 29/3/1982, Hội đồng Bộ trưởng đã có Nghị định số 58-HĐBT
để thi hành Pháp lệnh.
Ngày 4/5/1982, Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ đã có thông tư số
02 hướng dẫn việc thực hiện Pháp lệnh của Hội đồng Nhà nước và Nghị
định của Hội đồng Nhà nước và Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng.
Những năm tiếp theo, Hội đồng Bộ trưởng đã có những nghị quyết,
chỉ thị (Nghị quyết 26, Chỉ thị 62, Chỉ thị 176…) để tăng cường công tác
thanh tra và kiểm điểm việc thực hiện Pháp lệnh.
Qua gần 10 năm thực hiện Pháp lệnh, công tác xét, giải quyết khiếu
nại, tố cáo đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng cũng còn nhiều
tồn tại cần được khắc phục, đồng thời thực tế cũng nảy sinh những vấn
đề mới, nay xin báo cáo trình bày Hội đồng Nhà nước.
Báo cáo gồm 2 phần:
1- Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo thời gian qua.
2- Việc thi hành Pháp lệnh năm 1981.
I. TÌNH HÌNH ĐƠN THƯ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN
NHỮNG NĂM QUA
1- Khiếu nại và tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân
đã được Hiến pháp ghi nhận (Điều 29 Hiến pháp năm 1959 và Điều 73 Hiến
pháp năm 1980).
Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của
công dân được ban hành là một bước thể chế hoá quyền khiếu nại, tố cáo
của công dân, xác định thẩm quyền, trách nhiệm xét và giải quyết của cơ
quan nhà nước.
Pháp lệnh ra đời, trong nhân dân nhiều người đã ý thức được
quyền và nghĩa vụ công dân, kiến nghị nhiều vấn đề với Đảng và Nhà
nước, yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết các quyền hoặc
lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, phát hiện với cơ quan nhà nước
những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước và nhân viên nhà
nước xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp
của cơ quan, tổ chức và công dân.
Do vậy, sau khi Pháp lệnh ban hành, tình hình đơn thư khiếu nại,
tố cáo của công dân có chiều hướng tăng lên.
2- Từ năm 1981-1985, tổng số đơn thư khiếu tố các địa phương, bộ
ngành nhận được là 664.870 đơn.
Số lượt người đến trực tiếp khiếu nại, tố cáo ở các cơ quan nhà
nước tăng năm sau so với năm trước từ 9-10%.
Nội dung đơn khiếu nại thời kỳ này thường là về chính sách cải tạo
trong nông nghiệp, công thương nghiệp tư bản tư doanh, chính sách cải
tạo nhà đất, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà
nước, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công nhân viên chức nhà nước,
chính sách hậu phương quân đội, chính sách thương binh, gia đình liệt
sỹ, chính sách phân phối lương thực…
Nội dung đơn tố cáo thời kỳ này thường là các vụ tham ô, xâm
chiếm tài sản xã hội chủ nghĩa, móc ngoặc, hối lộ, ức hiếp quần chúng,
đáng chú ý việc bắt giam người trái pháp luật xảy ra nhiều ở cấp xã,
phường và một số tỉnh.
Trong số đơn Uỷ ban Thanh tra của Chính phủ nhận được thời kỳ
này có tới 25% đơn tố cáo cán bộ các cơ sở sản xuất, kinh doanh, 36% tố
cáo chủ nhiệm, Ban quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất.
Qua xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo thời ký này cho thấy: đơn
khiếu nại sai chiếm 75%, tố cáo sai khoảng 13%.
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với những thay đổi
trong cơ chế chính sách, tinh thần dân chủ, công khai đựoc phát huy, các
văn bản pháp quy được tiếp tục ban hành, từng bước hoàn thiện hệ
thống pháp luật thì số đơn thư khiếu nại, tố cáo tăng rất nhanh, đặc biệt
là các năm 1987, 1988, 1989. Số đơn thư nhận được trong 5 năm (1986-
1990) là 723.431, trong đó tại 16 bộ, ngành và 39 tỉnh, thành phố năm
1988 so với năm 1987 tăng 86% điển hình như Long An tăng 173%; An
Giang tăng 204%; Đồng Tháp tăng 620% Số đơn thư nhận được trong
năm 1990 là 77.789, tuy có giảm so với năm 1988, 1989 nhưng tính chất
phức tạp và gay gắt hơn.
Trong thời gian này, số người và đơn vượt cấp lên Hội đồng Bộ
trưởng và các cơ quan trung ương hàng năm tăng từ 50-70%. Đặc biệt,
có nhiều đoàn đi khiếu tố tập thể, ký đơn tập thể với những biểu hiện đấu
tranh gay gắt, có tính tổ chức (xã Vạn Thái, huyện Ứng Hoà; xã Thạch
Thán, huyện Quốc Oai, xã An Khánh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Sơn
Bình; xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm và các hộ bị tịch thu nhà thuộc diện
Z.30 của Hà Nội; xã Thái Sơn huyện Kim Môn; xã Thanh Hải, huyện
Nam Thanh, tỉnh Hải Hưng; xã Trung Chính, huyện Gia Lương, tỉnh Hà
Bắc; xã Chí Công, huyện Tuy Phong, tỉnh Thuận Hải và nhiều đoàn hàng
trăm nông dân ở các tỉnh Nam bộ mang theo cờ băng, khẩu hiệu kéo về
thành phố Hồ Chí Minh gặp các cơ quan trung ương đấu tranh đòi lại
ruộng đất). Gần đây có những vụ khiếu tố tập thể được gọi là những
điểm nóng như ở xã Tân Việt, Cẩm Bình, Hải Hưng, ở Tào Sơn và Ngọc
Sơn, Nghệ Tĩnh…
3- Tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo 10 năm qua nổi lên những nội
dung chủ yếu sau:
a) Khiếu nại, tố cáo về quản lý, sử dụng ruộng đất ở nông thôn có
khoảng 29 phát sinh khác nhau.
+ Tranh chấp ruộng đất khoán trong sản xuất và khi chia hợp tác
xã.
+ Tranh chấp đất sa bồi vùng nước lợ ven biển.
+ Tranh chấp đất vùng địa giới hành chính khi tách tỉnh, huyện,
xã.
+ Tranh chấp đất giữa nhân dân địa phương với nông trường, cơ
quan, xí nghiệp, đồng bào xây dựng kinh tế mới.
+ Tranh chấp lối đi, hàng rào…
+ Nông dân đòi lại ruộng đất cũ, đất thổ cư, ao vườn, đất nhà thờ
họ, đất hương hoả, đền chùa thánh thất; đất Nhà nước trưng dụng, tịch
thu, người Hoa di chuền về phía sau…
Loại đơn thư này trung bình chiếm 32% tổng số đơn thư nhận
được, có lúc, có nơi tăng lên gay gắt: Tiền Giang 15%, Long An 76%, An
Giang 91%, Đồng Tháp 90%, thị xã Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc) 80%.
b) Khiếu nại, tố cáo về nhà cửa ở thành phố có khoảng 28 loại phát sinh
khác nhau:
+ Nhà Nhà nước quản lý do tiếp quản, mượn, thu giữ: Nhà Nhà
nước mượn của dân, nhà thu giữ qua kiểm tra hành chính (Z.30), nhà
diện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, trường học, trạm xá,
trụ sở giáo hội, cô nhi viện…
+ Nhà vắng chủ: Nhà cán bộ đi kháng chiến, nhà của người di cư
(1954), di tản (1976), vượt biên, xuất cảnh, Việt Kiều ở nước ngoài, người
đi xây dựng vùng kinh tế mới…
+ Nhà giải toả chưa đền bù, nhà cơi nới, xây dựng trái phép…
+ Nhà tịch thu, trưng thu, hoặc đã hiến cho Nhà nước…
Loại đơn này chiếm khoảng 29% tổng số đơn thư nhận được, tập
trung ở các thành phố, thị xã, đặc biệt ở Hà Nội (lúc cao tới 2.800 đơn) và
thành phố Hồ Chí Minh (lúc cao tới 2.736 đơn).
c) Khiếu nại, tố cáo về tài sản Nhà nước thu giữ trong cải tạo và Nhà
nước vay của dân trong hai cuộc kháng chiến như:
+ Vàng bạc, đá quý dân gửi ngân hàng chính quyền nguỵ, sau ngày
giải phóng, Ngân hàng Nhà nước đã thu hồi.
+ Tài sản thu giữ trong quản lý thị trường.
+ Tài sản ra vào hợp doanh, hợp tác xã.
+ Tài sản vay của dân: công phiếu kháng chiến, tiền, vàng bạc, đá
quý, thóc gạo, voi, tàu thuyền…
d) Khiếu nại, tố cáo về việc thực hiện các chính sách lao động, xã hội
Ngoài ra, các đơn tố cáo nổi lên viêc tố cáo các biểu hiện vi phạm
dân chủ, tham nhũng, cửa quyền, trù dập, ức hiếp quần chúng của cán
bộ có chức, có quyền trong các xí nghiệp, công ty, trong các cơ quan
Đảng và Nhà nước (chiếm 11% đơn tố cáo). Đơn tố cáo những vi phạm
về quản lý kinh tế của cán bộ xã, công ty, xí nghiệp (chiếm 38%) và nhiều
biểu hiện thoái hoá, biến chất của cán bộ, trong đó có nhiều đơn tố cáo
cán bộ cao cấp (chiếm 21%).
Trong những năm gần đây lại rộ lên những tố cáo việc sản xuất
kinh doanh kém hiệu quả, vỡ nợ, vỡ tính dụng, hụi họ và những biểu
hiện lừa gạt khác để chiếm dụng, biển thủ tiền và tài sản của Nhà nước,
tập thể hoặc tư nhân.
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là:
Trong những năm qua, chúng ta đã có những thay đổi trong cơ chế
quản lý kinh tế và những chính sách về phát triển kinh tế và những chính
sách về phát triển kinh tế -xã hội, tinh thần dân chủ, công khai được phát
huy, việc thực hiện chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ở một
số ngành, địa phương và cơ sở có nhiều vi phạm, trong đó có việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
Tệ tham nhũng, lộng quyền, vi phạm dân chủ, trù dập, ức hiếp
quần chúng diễn ra ngày càng nhiều ở các ngành, các cấp, nhất là ở cơ sở
đã làm không ít người bị oan ức. Thậm chí, có những cán bộ vi phạm
pháp luật, bắt giam người trái pháp luật, vi phạm nhân phẩm của công
dân.
II. VIỆC THI HÀNH PHÁP LỆNH VÀ KẾT QUẢ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN THỜI GIAN QUA
1- Kết quả giải quyết đơn thư khiếu tố
a) Từ năm 1981-1985, số đơn thư khiếu nại, tố cáo được giải quyết đạt
từ 82%-94% tổng số đơn thư nhận được.
Hai năm đầu (1982-1983) khi Pháp lệnh mới ban hành, bước đầu ý
thức được trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân, nhiều cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành coi đây là nhiệm vụ
của mình, nên đã có sự cải tiến trong cách làm việc, tăng cường sự kiểm
tra đôn đốc, tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác này…, vì vậy đã giải
quyết được nhiều đơn thư tồn đọng từ trước (thành phố Hồ Chí Minh đã
giải quyết trên 1000 đơn thư tồn đọng, Tiền Giang 1.200/1.500 đơn, Cửu
Long giải quyết dứt điểm 1.130 trường hợp bắt giam…).
Riêng năm 1982, 22 bộ, ngành và 33 tỉnh, thành phố đã giải quyết
được 82% đơn khiếu nại và 73% đơn tố cáo.
Năm 1983, 15 bộ, ngành và 25 tỉnh, thành phố đã giải quyết 80%
đơn khiếu nại và 70% đơn tố cáo.
b) Từ năm 1986-1990, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, bộ, ngành,
kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo như sau:
Tổng số đơn thư đã giải quyết đạt từ 58-78%.
Chỉ tính riêng 2 năm 1987, 1988, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần
thứ VI của Đảng, các chỉ thị của Đảng và Nhà nước về giải quyết đơn thư
tồn đọng, nhiều ngành, nhiều cấp đã thấy rõ hơn trách nhiệm của mình
trong việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, đã có những quy
định cụ thể trong chế độ tiếp dân, nhận đơn, trách nhiệm giải quyết của
các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý. Nhiều nơi có chế độ định kỳ
nghe cơ quan Thanh tra báo cáo và chỉ đạo việc giải quyết, hình thành
các tổ chức chuyên lo việc giải quyết khiếu tố (Hội đồng tư vấn, Ban xét
khiếu tố, Tiểu ban hoặc Tổ công tác xét khiếu tố) giúp lãnh đạo giải quyết
những vụ việc bức xúc, tồn đọng. Nhiều nơi, cấp uỷ đã quan tâm lãnh
đạo, có sự phối hợp giữa chính quyền, đoàn thể, đại biểu Quốc hội, Hội
đồng nhân dân cùng xuống địa phương trực tiếp đối thoại với dân để giải
quyết tại chỗ những vụ việc phức tạp tạo được sự phấn khởi, tin tưởng
trong nhân dân. Một số địa phương như Vĩnh Phú, Thái Bình, Hà Nam
Ninh đã phát huy tốt tác dụng của Thanh tra nhân dân tham gia giải
quyết tại chỗ các khiếu nại, tố cáo phát sinh ở cơ sở nên giảm được 50%
số đơn gửi vượt cấp.
2- Những tồn tại, thiếu sót cần khắc phục trong công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo:
- Việc giải quyết khiếu tố nhiều nơi chất lượng còn thấp, kết luận
chưa thật chính xác, phải xem xét lại nhiều lần.
- Đơn tồn đọng ở các cấp, các ngành còn quá nhiều. Mặc dù Pháp
lệnh đã quy định thời hạn giải quyết cho từng cấp, song phần lớn không
giải quyết đúng hạn, đơn thường tồn đọng năm này qua năm khác, nhiều
vụ việc qua hàng chục năm không được giải quyết dứt điểm.
Chỉ tính riêng năm 1987, tại 10 tỉnh, thành phố và 15 bộ, ngành tồn
đọng trên 90 ngàn đơn phát sinh trong năm chưa được xem xét giải
quyết. Đó là chưa kể số đơn của những năm trước tồn lại và những đơn
đã được xem xét, giải quyết nhưng đưong sự còn tiếp tục khiếu nại, tố
cáo.
Việc xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo có liên quan đến những
cán bộ có chức, có quyền thường kéo dài, không dứt điểm và triệt để,
nhất là những trường hợp có sự can thiệp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá
nhân có cương vị làm ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân đối với các
cơ quan Đảng và Nhà nước.
- Nhiều trường hợp cấp có thẩm quyền đã ra kết luận, quyết định
giải quyết nhưng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm không
thi hành.
Theo số liệu tổng hợp được, trong 2 năm 1987, 1988 chỉ có 50% số
quyết định giải quyết có hiệu lực thi hành, Hà Nội chỉ có 27/68 quyết định
giải quyết của Uỷ ban nhân dân thành phố được thực hiện, An Giang,
Đồng Nai 33/63 quyết định giải quyết được thực hiện.
Nhiều vụ việc các cấp thanh tra đã kết luận, kiến nghị, nhưng các
cấp lãnh đạo không quan tâm, xem xét để có quyết định cuối cùng.
- Tình trạng đơn thư gửi vượt cấp ngày càng tăng và có tính phổ
biến, số đơn nhận được đúng thẩm quyền giải quyết không đáng kể: Số
đơn đúng thẩm quyền mà Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phú nhận được chỉ
1,3%, Hà Nội 1,6%, Hà Sơn Bình 1,16%, Thanh Hoá 1,2%, các tỉnh
Nghệ An, Thái Bình và Uỷ ban Thanh tra nhà nước chỉ nhận được 1%
(trong 5 năm từ 1981-1986 Uỷ ban Thanh tra nhà nước chỉ nhận được
1% đơn thư đúng thẩm quyền).
- Có tình trạng lợi dụng chức quyền khiếu nại, tố cáo, vu khống,
xuyên tạc sự thật, cố tình gây rối làm mất đoàn kết nội bộ, có hiện tượng
kích động, mách nước, làm “thầy cò” trong việc khiếu nại, tố cáo, số đơn
thư nặc danh, mạo danh chiếm tỷ lệ đáng kể; Tính đến năm 1987-1988 số
đơn thư nặc danh trong cả nước là 20-30%, có tỉnh đến 50%, số đơn
khiếu nại, tố cáo sai từ 15-20%.
3- Nguyên nhân của những tồn tại trên là do:
- Thủ trưởng các cấp, các ngành chưa nhận rõ trách nhiệm, chưa
quán triệt tinh thần “lấy dân làm gốc”, tất cả “vì dân và do dân” nên
chưa coi trọng đúng mức công tác xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo của
công dân, chưa chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật
về khiếu nại, tố cáo, chưa thường xuyên quan tâm, tổ chức chỉ đạo, đôn
đốc, kiểm tra công tác này. Còn có nhièu biểu hiện đùn đẩy, né tránh, nể
nang và chưa có sự phối hợp với các cấp, ngành trong việc xét, giải quyết
khiếu tố.
- Trong 10 năm qua, nhất là từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI với
tinh thần đổi mới toàn diện, nhất là đổi mới cơ chế quản lý phát huy dân
chủ công khai, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách, nhiều văn bản pháp quy.
Các chủ trương, chính sách này trong từng thời kỳ bản thân nó có
tính lịch sử.
Trong những năm gần đây, với sự ra đời của nhiều văn bản pháp
quy theo tinh thần đổi mới đang từng bước hoàn thiện.
Tuy vậy, chúng ta vẫn còn thiếu những chính sách, chế độ cụ thể
hoặc đã có nhưng không phù hợp làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo (chính sách trả nợ trong thời kỳ kháng chiến, đền bù tài sản, vàng
bạc, đá quý… giải quyết nhà vắng chủ, nhà chủ sửa sai, việc động viên
nhân tài, vật lực trong 2 cuộc kháng chiến, vấn đề thừa kế tài sản…).
- Việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh năm 1981 còn nhiều thiếu sót,
chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tế đòi hỏi của nhân dân.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật
về khiếu nại, tố cáo nói riêng cho cán bộ, công nhân viên chức nhà nước
và cho nhân dân chưa làm thường xuyên, sâu rộng, cộng với những thiếu
sót trong việc buông lỏng pháp chế xã hội chủ nghĩa, không kịp thời uốn
nắn những biểu hiện mất dân chủ hoặc dân chủ cực đoan, khắc phục việc
lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo đồng thời đề cao kỷ luật, kỷ cương nhà
nước.
Hệ thống các cơ quan làm công tác xét, giải quyết khiếu tố chậm
được kiện toàn, cán bộ làm công tác này chưa được đào tạo bổ sung
tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.
Nhà nước chậm sửa đổi, bổ sung chủ trương, chính sách, pháp luật,
kể cả Pháp lệnh năm 1981 làm cơ sở cho việc giải quyết đơn thư.
Bản thân vấn đề khiếu nại, tố cáo và công tác xét, giải quyết khiếu
tố rất phức tạp, nhất là trong điều kiện hệ thống pháp luật của chúng ta
đang phát triển, chưa ổn định, chưa có một tổ chức chuyên trách làm
việc này được nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt lý luận và thực tiễn.
Trình độ dân trí và ý thức công dân trong việc chấp hành pháp
luật của cán bộ và nhân dân còn hạn chế; có trường hợp thiếu trách
nhiệm, một số còn lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để thực hiện những ý
đồ cá nhân.
Mặt khác, phải kể đến một nguyên nhân nữa, đó là yếu tố tâm lý xã
hội. Công dân thường cho rằng cấp cơ sở tắc trách và bảo thủ trong việc
giải quyết khiếu tố của họ. Bệnh quan liêu, cửa quyền, ức hiếp quần
chúng đã khiến những cán bộ có trách nhiệm làm ngơ trước nỗi oan
khuất của nhân dân. Do vậy, muốn khiếu tố của mình được giải quyết chỉ
có thể là trực tiếp khiếu tố với cấp trung ương và các đồng chí lãnh đạo
cấp cao của Đảng và Nhà nước bằng những đoàn người khiếu tố tập thể,
tạo ra sức ép tâm lý đối vơi cơ quan nhà nước. Đó là chưa kể đến tâm lý
cay cú, được thua của người khiếu nại, tố cáo.
Tóm lại, những tồn tại trong việc thực hiện Pháp lệnh 10 năm qua
có nhiều nguyên nhân như đã trình bày ở trên, trong đó có nguyên nhân
xuất phát từ Pháp lệnh năm 1981. Sau đây xin báo cáo rõ thêm về Pháp
lệnh:
10 năm qua, Pháp lệnh đã phát huy tác dụng tích cực trong việc
bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo ra cơ sở pháp lý
cho việc xét, giải quyết các khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, trong tình hình
mới hiện nay, Pháp lệnh còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể là:
a) Về phạm vi điều chỉnh, Pháp lệnh năm 1981 quy định quá rộng, chưa
quy định rõ phạm vi khiếu nại, tố cáo (khiếu nại về việc gì, đối với ai, tố cáo
việc gì, với cơ quan nào?)
Điều 1 của Pháp lệnh quy định: “Công dân có quyền khiếu nại và
tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước…” là chưa cụ thể hoá Điều
73 của Hiến pháp. Điều “bất cứ” ấy đã dẫn đến tình trạng đơn thư khiếu
tố tràn lan, vượt cấp, không được gửi đến cơ quan, tổ chức theo đúng
thẩm quyền giải quyết.
Pháp lệnh cũng chưa định rõ khái niệm khiếu nại, tố cáo và chưa
phân biệt hai vấn đề này làm cơ sở quy dịnh thẩm quyền và thủ tục giải
quyết về sau.
b) Về quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại, tố cáo và người bị khiếu
nại, tố cáo
Đây là cơ sở pháp lý rất cơ bản để xác định mối quan hệ của các
bên tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo và cần được quy
định thành một chương riêng thì Pháp lệnh năm 1981 chưa được đề cập
tới.
Với tinh thần dân chủ và đổi mới hiện nay, việc xác định quyền và
nghĩa vụ của các bên khiếu tố là rất cần thiết, bảo đảm nguyên tắc mọi
công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đặt cơ sở cho các bên tham gia
vào quá trình tố tụng hành chính sau này.
c) Về thẩm quyền và thủ tục xét, giải quyết các khiếu nại tố cáo
Hạn chế có tính chất bao trùm của Pháp lệnh là chưa định ra một
chế tài giải quyết khiếu nại, tố cáo một cách hợp lý và có hiệu lực. Thẩm
quyền và trình tự giải quyết chưa có giai đoạn “chung thẩm”, chưa có
“điểm dừng” với tính chất như một Toà án hành chính.
Pháp lệnh chưa định ra trình tự giải quyết gồm mấy cấp, cấp nào
là cấp cuối cùng. Điều này dẫn đến tình trạng khiếu tố không được giải
quyết dứt điểm và không có hiệu lực.
Về thẩm quyền, quy định như trong Pháp lệnh (Điều 12 và 13) còn
quá chung, chưa phân định thẩm quyền cho cấp, ngành và các cơ quan
chức năng như Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp, Bộ trưởng, Tổng
Thanh tra nhà nứoc và Thanh tra các cấp, đặc biệt là chưa định ra thẩm
quyền của một cơ quan chuyên trách có chức năng giải quyết.
Như đã nói ở trên, khiếu nại, tố cáo là hai loại vấn đề có mục đích,
đối tượng, nội dung và phạm vi khác nhau. Quy định thẩm quyền chung
cho hai loại vấn đề này sẽ không hợp lý và thiếu căn cứ để quy định thủ
tục giải quyết ở các phần sau.
Quy định thời hạn xét, giải quyết như Điều 22 và 23 của Pháp lệnh
cũng không hợp lý. Bởi vì, không phải tất cả khiếu nại, tố cáo phát sinh ở
cấp xã, phường và đơn vị cơ sở thì đơn giản cần ít thời gian hơn sự việc
phát sinh ở cấp trên. Thực tiễn cho thấy, không phụ thuộc vào cấp,
ngành nào đối với những khiếu nại lần đầu về các quyết định và việc làm
của chính mình thì việc xét, giải quyết của thủ trưởng các cấp, các ngành
thường cần ít thời gian hơn. Còn đối với tố cáo thì thời gian xét, giải
quyết không phụ thuộc vào chính nội dung, tính chất cụ thể của các tố
cáo đó.
Nhược điểm lớn ở đây là chưa định ra cụ thể phạm vi từng cấp giải
quyết (trình tự mấy cấp, cấp nào là cuối cùng) và hiệu lực pháp luạt của
các quyết định giải quyết của từng cấp. Điều này dẫn đến tình trạng đơn
thư tồn đọng dây dưa, kéo dài, vượt cấp từ nhiều năm nay.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét