Luận văn thạc só kinh tế
Trang
5
cả nước góp phần đưa đất nước phát triển và tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, đạt
được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: là lónh vực FDI về các phương diện: hình thức đầu tư,
số lượng, qui mô, cơ cấu, thực trạng, tác động, xu hướng vận động…. Với tư cách là
các nhân tố quan trọng miêu tả bức tranh về hoạt động FDI một đòn bẩy then chốt
trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.
Phạm vi nghiên cứu: Để đảm bảo tính logic, tính hệ thống và cô đọng, luận
văn giới hạn trình bày nội dung là hoạt động FDI tại tỉnh Bình Thuận.
4.Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng , phương
pháp phân tích đònh lượng và đònh tính, phân tích hệ thống, phương pháp mô hình
hóa, phương pháp so sánh, đối chiếu, suy luận logic, lý thuyết hệ thống, phương
pháp điều tra … để làm sáng tỏ và cụ thể hóa nội dung nghiên cứu, đồng thời tiếp
thu có phê phán, chọn lọc những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
5.Nội dung của luận văn bao gồm:
-Lời mở đầu.
-Chương 1: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài .
-Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Thuận.
-Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trên
đòa bàn tỉnh Bình Thuận đến năm 2010.
-Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
Trong quá trình nghiên cứu, do thiếu kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót, kính mong sự lượng thứ của quý Thầy-Cô và người đọc.
Em xin cảm ơn quý Thầy Cô khoa Sau Đại Học của Trường Đại Học Kinh tế
TP.HCM đã tận tình dạy bảo. Xin cám ơn PGS.TS.NGUYỄN NGỌC HÙNG, người
hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ em rất nhiều cho luận văn được hoàn thành.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI:
1.1.1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI):
Đầu tư là việc bỏ vốn trong một thời gian tương đối dài để xây dựng mới
hoặc cải tạo các đối tượng hiện có nhằm mục đích thu được lợi ích kinh tế – xã hội.
Trong quản lý kinh tế, có nhiều cách phân loại đầu tư. Căn cứ vào phương
cách bỏ vốn và sử dụng vốn, người ta chia đầu tư thành hai hình thức: đầu tư gián
tiếp và đầu tư trực tiếp.
Đầu tư gián tiếp là đầu tư mà trong đó, người ta bỏ vốn và người sử dụng
vốn không cùng là một chủ thể. Đầu tư trực tiếp là đầu tư mà trong đó người bỏ
vốn và người sử dụng vốn cùng một chủ thể, có nghóa họ là chủ sở hữu có quyền
chiếm hữu, sử dụng đònh đoạt tài sản của mình, có quyền sở hữu đối với thu nhập
hợp pháp có được do đầu tư sản xuất, kinh doanh theo qui đònh của pháp luật.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài chòu sự điều chỉnh bởi Luật đầu tư nước
ngoài(ĐTNN) tại Việt Nam. Trong Luật ĐTNN tại Việt Nam, đầu tư trực tiếp của
nước ngoài được đònh nghóa như sau: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành hoạt động đầu tư.
Đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam theo Luật ĐTNN được thực
hiện từ cuối năm 1987 và cho đến nay đã trở thành một nguồn vốn quan trọng để
đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Đặc điểm đầu tư trực tiếp nước ngoài:
-Các chủ ĐTNN phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tùy theo quy đònh của
luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư của Việt Nam quy đònh “số vốn đóng
góp tối thiểu của phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp đònh của dự án” hay
Luật đầu tư của Nam Tư cũ trước đây quy đònh “phần của bên đối tác nước ngoài
đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư”.
-Quyền hành quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu đóng
góp 100% vốn thì xí nghiệp hoàn toàn do chủ ĐTNN điều hành.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
7
-Lợi nhuận của các chủ ĐTNN thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh của xí nghiệp. Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp
đònh sau khi đã nộp thuế lợi tức cho nước chủ nhà.
-Đầu tư trực tiếp được thực hiện dưới các hình thức:
+Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới.
+Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động.
+Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập.
1.2. VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ:
Trong xu hướng hội nhập quốc tế, vai trò của FDI ngày càng quan trọng, nó
gắn liền với phát triển kinh tế đất nước. Vai trò này không những quan trọng đối
với nước đầu tư mà còn rất quan trọng đối với các nước tiếp nhận đầu tư.
1.2.1. Đối với nước xuất khẩu đầu tư :
Trong thời gian qua, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã phát triển rất nhanh và
ngày càng phổ biến trên thế giới. Đối với các chủ đầu tư , nó đã thể hiện các ưu
điểm như sau:
-Thông qua việc sử dụng những lợi thế sản xuất tại nơi tiếp nhận đầu tư ,
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuận đồng thời nó tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng thò trường nguyên liệu với giá rẻ và ổn
đònh.
-Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp cho các quốc gia đầu tư nâng cao sức
mạnh kinh tế và uy tín trên thò trường quốc tế. Thông qua hoạt động của các nhà
máy sản xuất ở nước ngoài mà các chủ đầu tư có thể mở rộng thò trường tiêu thụ vàø
tránh được hàng rào mậu dòch ở các nước.
-Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài giúp các chủ đầu tư phân tán rủi ro do tình
hình kinh tế chính trò trong nước bất ổn đònh.
-Một mục đích khác rất quan trọng đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của
các nhà đầu tư là nhằm gia nhập thò trường không độc quyền dễ phân chia quyền
lợi hoặc dễ mua một công ty nào đó có nhiều hứa hẹn phát triển nhằm tránh được
sự cạnh tranh trong tương lai có thể mất thò trường xuất khẩu.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
8
Có thể nói động cơ của chủ đầu tư khi bỏ vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
đều xuất phát từ mục đích của nhà đầu tư là tận dụng những điều kiện thuận lợi
của môi trường ĐTNN để tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên đầu tư nước ngoài chỉ có
thể thực hiện được trên nguyên tắc đảm bảo hai bên cùng có lợi. Như vậy FDI phải
có ý nghóa hết sức quan trọng đối với nước tiếp nhận đầu tư.
1.2.2. Đối với nước tiếp nhận đầu tư :
Đối với các nước có nền kinh tế phát triển cao thì ĐTNN cũng góp phần
quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế. Bên cạnh đầu tư ra nước ngoài
để tìm kiếm lợi nhuận thì đây cũng là một nơi thu hút một nguồn vốn ĐTNN
rất lớn. Vì lẽ, các quốc gia này là một thò trường tiêu thụ rộng lớn thu hút các
nhà đầu tư. ĐTNN đã góp phần gia tăng tài sản cho quốc gia thông qua thu
nhập của người lao động, thuế thu được làm cho nền kinh tế phát triển với
tốc độ nhanh chóng. Đầu tư vào các quốc gia này thường là các dự án đòi hỏi
trình độ khoa học kỹ thuật cao như tin học, sinh học và thông qua quá trình
cạnh tranh gay gắt, những dự án hiệu quả thấp sẽ bò đào thải.
Đối với các nước đang phát triển thì ĐTNN là một nguồn vốn rất quan
trọng để phát triển kinh tế đất nước. Mặc dù tài nguyên thiên nhiên còn dồi
dào, nguồn nhân lực lớn, nhưng do tốc độ phát triển kinh tế chậm chạp kết
hợp với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh đã làm các nước đang phát triển thiếu vốn
để đầu tư sản xuất và tự biến mình thành thò trường tiêu thụ hàng hóa của các
nước khác. Để đánh thức các tiềm năng, lợi thế của đất nước nhằm phát triển
kinh tế quốc gia, các nước đang phát triển rất cần vốn đầu tư. Do vậy, ngoài
nguồn vốn hạn hẹp trong nước, các nước đang tăng cường thu hút nguồn đầu tư
dồi dào ở nước ngoài.
- Quá trình phát triển kinh tế cũng đồng thời là quá trình tích tụ và tăng
trưởng các nguồn nội lực như vốn, kỹ năng lao động, công nghệ. Các nước
nghèo thường bò vướng vào một vòng luẩn quẩn: thu nhập thấp do đó tích lũy
thấp dẫn đến thiếu vốn đầu tư, vốn đầu tư thấp dẫn đến không phát triển được
sản xuất kinh doanh, không nâng cao được thu nhập của người lao động, thu
nhập thấp lại dẫn đến tích lũy thấp Do đó ĐTNN, đặc biệt là đầu tư trực tiếp
sẽ là nguồn vốn bổ sung rất cần thiết cho các nước nghèo trong quá trình phát
triển kinh tế.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
9
- Đầu tư nước ngoài giúp giải quyết về lao động. Thất nghiệp hiện đang
là vấn nạn của các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang và chậm phát triển.
Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp
của các nước chậm và đang phát triển khoản 35-38% tổng số lao động.
- Đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao khả năng quản lý kinh doanh.
Do được tiếp xúc với trình độ quản lý kinh doanh tiên tiến của các nước, công
ty đa quốc gia, xuyên quốc gia đã giúp các nhà quản lý kinh doanh trong nước
nâng cao trình độ quản lý kinh doanh của mình, từ đó nâng cao được hiệu quả
sản xuất kinh doanh.
- Đầu tư nước ngoài đẩy nhanh tiến trình cải tiến máy móc, công nghệ.
Thông qua đầu tư nước ngoài, các nước nhận đầu tư đã có dòp tiếp cận với
máy móc, công nghệ hiện đại, giúp rút ngắn khoảng cách về khoa học kỹ
thuật với các nước tiên tiến.
- Đầu tư nước ngoài giúp cải thiện cơ sở hạ tầng. Ngoài việc các nhà
đầu tư tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, nước chủ nhà cũng tích cực cải
thiện cơ sở hạ tầng của mình để thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng như nhằm
đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, đầu tư nước ngoài cũng chứa đựng mặt trái gây tác hại cho
nước chủ nhà, đó là:
-Đánh giá cao các nhân tố đầu vào: các nhà đầu tư thường đánh giá cao hơn
mặt bằng quốc tế những nhân tố đầu vào như những nguyên liệu, bán thành phẩm,
máy móc thiết bò… mà họ nhập vào để thực hiện đầu tư. Việc làm này đã tạo nhiều
lợi ích không chính đáng cho các nhà đầu tư, chẳng hạn như: trốn được thuế của
nước chủ nhà đánh vào lợi nhuận cao của các nhà đầu tư. Ngược lại, làm cho chi
phí sản xuất cao ở các nước chủ nhà và nước chủ nhà phải mua hàng hóa với giá
cao hơn.
-Chuyển giao công nghệ lạc hậu; các nước đầu tư thường chuyển giao công
nghệ lạc hậu vào nước họ đầu tư để đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng
cao chất lượng sản phẩm của chính nước họ. Điều này đã gây nhiều thiệt hại cho
nước nhận đầu tư vì rất khó xác đònh được giá trò thực của máy móc thiết bò đã được
chuyển giao nên thường bò thiệt hại khi tính tỷ lệ vốn góp trong các xí nghiệp liên
doanh và hậu quả là bò thiệt hại khi chia lợi nhuận.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
10
-Nhà đầu tư chỉ đầu tư vào những nơi có lợi nhất. Vì thế, nhiều khi lượng vốn
nước ngoài đã làm gia tăng thêm sự mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và
thành thò. Sự mất cân đối này có thể gây nên sự bất ổn về chính trò.
- Vi phạm về mặt chính trò - văn hóa - xã hội: Trực tiếp hoặc gián tiếp
gây sức ép để buộc nước chủ nhà thay đổi đường lối, chính sách; nới lỏng các
biện pháp kiểm soát đầu tư nước ngoài; tuyên truyền, chuyển tải văn hóa
không lành mạnh vào cộng đồng dân cư các nước tiếp nhận đầu tư; bóc lột sức
lao động, xâm phạm nhân phẩm người lao động bản xứ…
Những mặt trái của FDI không có ý nghóa là phủ nhận những lợi thế cơ bản
của nó. Cần lưu ý rằng không nên hy vọng quá nhiều vào FDI mà cần phải có
những chính sách thích hợp, những biện pháp kiểm soát hữu hiệu để phát huy
những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của FDI. Bởi vì, mức độ thiệt
hại mà FDI gây ra cho nước nhận đầu tư nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào chính
sách, năng lực, trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của nước này.
1.3. CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM:
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ra đời tháng 12/1987. Từ đó đến nay
luật đã trải qua 5 lần sửa đổi và luật hiện hành thừa nhận có 4 hình thức FDI cơ bản
và 4 hình thức đầu tư đặc biệt khác:
1.3.1.Hợp đồng hợp tác kinh doanh :
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên
quy đònh trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành
đầu tư kinh doanh ở Việt Nam mà không thành lập pháp nhân.
1.3.2. Doanh nghiệp liên doanh :
Là doanh nghiệp mới được thành lập trên cơ sở góp vốn hai bên hoặc nhiều
bên Việt Nam và nước ngoài.
1.3.3. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài :
Đây là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài lập tại
Việt Nam, tự tổ chức quản lý và chòu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh
của mình.
1.3.4. Hình thức doanh nghiệp cổ phần:
Nghò đònh 38/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/4/2003 về
việc chuyển đổi một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hoạt động
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
11
công ty cổ phần. Trong Nghò đònh này nêu rõ: “Doanh nghiệp cổ phần là doanh
nghiệp có vốn điều lệ được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là: “cổ phần”, trong
đó các cổ đông sáng lập nước ngoài nắm giữ ít nhất 30% vốn điều lệ; được tổ chức
hoạt động theo hình thức công ty cổ phần ….được hưởng các đảm bảo của nhà nước
Việt Nam và ưu đãi theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam”.
Ngoài ra còn có các hình thức đầu tư đặc thù khác:
* Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và
nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong
một thời hạn nhất đònh; hết thời hạn, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi
hoàn công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
*Hình thức Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và
nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng ; sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam,
Chính phủ Việt Nam dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong
một thời hạn nhất đònh để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hợp lý.
*Hình thức Xây dựng – Chuyển giao (BT):
Là văn bản ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và
nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công trình đó cho nhà nước Việt Nam.
*Hình thức khu chế xuất :
Đây là một khu vực lãnh thổ được nhà nước quy hoạch riêng nhằm thu hút
các nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào hoạt động để chế biến ra hàng công
nghiệp phục vụ xuất khẩu.
* Hình thức phát triển khu công nghiệp :
Theo Nghò đònh số 192/CP của Chính phủ ban hành ngày 28/12/1994, khu
công nghiệp tại Việt Nam được đònh nghóa như sau: là khu do Chính phủ quyết đònh
thành lập, có ranh giới đòa lý xác đònh, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện
các dòch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống.
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
12
1.4. KINH NGHIỆM THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA
TRUNG QUỐC VÀ MỘT SỐ NƯỚC ASEAN:
Với sự nỗ lực thu hút FDI, Trung Quốc và một số nước ASEAN đã không
ngừng cải thiện môi trường FDI và đạt được thành công nhất đònh trong quá trình
tạo dựng cho mình một môi trường đầu tư hấp dẫn, thông thoáng, rõ ràng, ổn đònh
và mang tính cạnh tranh cao.
1.4.1.Kinh nghiệm của Trung Quốc:
FDI vào Trung Quốc từ năm 1978 đến nay đã góp phần cải cách cơ cấu kinh
tế, phát triển công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, rút ngắn khoảng cách với thế
giới về khoa học-công nghệ thúc đẩy hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nâng cao
vò thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. Năm 2001, khu vực kinh tế có vốn FDI
đóng góp 1/3 tổng sản lượng công nghiệp, 1/5 giá trò gia tăng công nghệ cao, 51,7%
xuất khẩu (đưa Trung Quốc trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 6 trên thế giới so với
vò trí thứ 37 vào cuối những năm 1970), 19% tổng thu thuế của Trung Quốc, thu hút
gần 23 triệu lao động, chiếm 10% lực lượng lao động ở thành thò. Hiện nay, Trung
Quốc dẫn đầu các nước đang phát triển về thu hút vốn FDI. Sở dó Trung Quốc đạt
được những thành tựu to lớn chủ yếu do chính phủ Trung Quốc đã ban hành kòp thời
các chính sách mới hấp dẫn nhằm tăng cường thu hút FDI như: mở cửa cho FDI vào
các lónh vực nhạy cảm (bưu chính, viễn thông, bảo hiểm, tài chính, ngân hàng, kinh
doanh bán buôn, bán lẻ, xuất-nhập khẩu….); bổ sung, sửa đổi kòp thời các cơ chế,
chính sách ưu đãi; giảm nhanh chi phí đầu tư, cải tiến các thủ tục hành chính góp
phần tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư (giảm cước phí bưu chính viễn thông, giá
điện, phí vận tải, giá nhân công, giá thuê đất….); đa dạng hóa các hình thức, các đối
tác đầu tư (tăng dần tỷ trọng của các nhà đầu tư từ Mỹ, EU, Nhật Bản, đồng thời
tranh thủ đầu tư của Hoa kiều từ Hồng Kông, Đài Loan và các nước trong khu vực);
giải quyết hợp lý mối quan hệ lợi ích giữa doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngoài (các nhà ĐTNN được đối xử bình đẳng như các nhà đầu tư trong
nước: giá vé máy bay, vé ô tô, vé phà, phí nhập cảnh và các loại phí khác, được áp
dụng theo một hệ thống thuế, thậm chí các doanh nghiệp nước ngoài được hưởng
một số biểu thuế ưu đãi hơn trong các hoạt động kinh doanh).
Để cải thiện nhanh môi trường đầu tư Trung Quốc đã tập trung vào việc:
-Tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy chế khác có liên
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
13
quan đến FDI:Trong vòng 20 năm, chính phủ Trung Quốc đã ban hành trên 500 văn
bản luật và dưới luật liên quan đến ĐTNN. Luật ĐTNN đã được xem xét, bổ sung
thay đổi hoặc bãi bỏ nhiều quy đònh không còn phù hợp.Trung Quốc liên tục cải
thiện môi trường thể chế để theo kòp các quy đònh của WTO và tiêu chuẩn quản lý
quốc tế. - Để tăng cường bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ, Trung Quốc đã có
một hệ thống luật gồm: Luật sáng chế, Luật thương hiệu, Luật bản quyền và các
quy đònh về bảo vệ phần mềm máy tính; Để bảo vệ quyền sáng chế và thương hiệu
Trung Quốc đưa ra nhiều biện pháp mạnh chống tình trạng ăn cắp bản quyền.
Trung Quốc có nhiều cố gắng tuân theo những tiêu chuẩn TRIPS của WTO.
-Để bảo đảm quyền ra quyết đònh của các nhà ĐTNN trong quản lý và bảo
vệ lợi ích của nhà ĐTNN Trung Quốc đã tăng cường công tác thực thi pháp luật;
xây dựng một hệ thống dòch vụ pháp luật giải quyết khiếu kiện tốt hơn, hiệu quả
hơn.
-Nâng cao hiệu quả điều hành của chính phủ, giảm thủ tục hành chính: Công
khai các quy đònh về thủ tục đầu tư, tạo thuận lợi cho việc thẩm đònh và phê chuẩn
dự án ĐTNN. Trong một số vùng ở Trung Quốc, đã áp dụng hệ thống phê chuẩn
liên ngành nhằm giảm thủ tục đăng ký đầu tư, cải cách hệ thống quản lý của hải
quan nhằm thu hút mạnh mẽ FDI. Cấm thanh tra, kiểm tra, áp đặt phí, hoặc tiền
phạt không đúng đối với doanh nghiệp ĐTNN.
1.4.2. Kinh nghiệm của một số nước ASEAN:
FDI đã đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong sự phát triển của nhiều nền kinh
tế Đông Nam trong ba thập kỷ qua. Trong thập niên 80 và nửa đầu thập niên 90,
dòng vốn FDI vào khu vực đã tăng tương đối đều và trong số các nước đang phát
triển ASEAN đã trở thành khu vực dẫn đầu trong việc tiếp nhận FDI. Mặc dù bò
ảnh hưởng nặng nề sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 nhưng vốn FDI vào
ASEAN đã có chiều hướng gia tăng trong năm 2003 và nhiều ý kiến cho rằng triển
vọng thu hút FDI của khu vực trong tương lai là tương đối sáng sủa.
1.4.2.1.Kinh nghiệm của Singapore:
Singapore tuy là một nước có quy mô nhỏ, dân số ít, tài nguyên thiên nhiên
rất hạn hẹp, nhưng lại là một trong những quốc gia rất thành công trong việc hội
nhập ở mức độ cao với các thò trường quốc tế (cả về mậu dòch hàng hóa cũng như
thò trường vốn).
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Luận văn thạc só kinh tế
Trang
14
Để tiến hành công nghiệp hóa chính phủ Singapore đã ban hành những
chính sách khuyến khích, thu hút các dự án đầu tư có quy mô lớn, mạnh dạn mở
cửa và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các công ty xuyên quốc gia đến đầu tư
hoạt động kinh doanh tại nước mình. Để đạt được điều đó, chính phủ Singapore đã
dự kiến trước và đưa ra bảng phân loại các xí nghiệp, các ngành sản xuất cần gọi
vốn đầu tư và đi cùng với nó là các chế độ ưu đãi cụ thể, có phân biệt. Đến nay,
nguồn vốn nước ngoài đã chiếm trên 60% tổng vốn đầu tư phát triển xã hội và tập
trung phần lớn vào khu công nghiệp (KCN), dòch vụ.
Singapore cho phép các nhà đầu tư quốc tế đầu tư qua các hình thức: doanh
nghiệp 100% vốn nước ngoài, liên doanh, khu chế xuất, hợp tác kinh doanh. Trong
đó hình thức liên doanh được chú ý nhiều hơn.
Về đối tác đầu tư, Singapore chủ trương không phân biệt để tận dụng khả
năng về vốn của các công ty nhiều nước khác. Tuy nhiên các đối tác được
Singapore quan tâm nhiều hơn là các công ty của Mỹ, Nhật Bản, Hà Lan. Vấn đề
hướng đầu tư cũng được xác đònh rõ trong các thời kỳ. Ban đầu, do cơ sở kinh tế ở
điểm xuất phát thấp, Singapore chủ trương thu hút FDI vào các ngành tạo ra sản
phẩm xuất khẩu như ngành dệt may, lắp ráp các thiết bò điện và phương tiện giao
thông. Bước sang những năm 1980, hướng đến việc thu hút vốn đầu tư tập trung
vào những ngành như sản xuất máy vi tính, hàng điện tử, hàng bán dẫn dân dụng,
công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ.
Cùng với những chủ trương về đối tác và về cách thức huy động vốn FDI,
chính phủ Singapore trong các thời kỳ đã áp dụng những biện pháp khuyến khích
rất mạnh mẽ và năng động, cụ thể là:
-Tạo ra sự ổn đònh cho các nhà ĐTNN yên tâm bỏ vốn đầu tư, kinh doanh
lâu dài, chính phủ Singapore đã công khai khẳng đònh không quốc hữu hóa các
doanh nghiệp của nước ngoài.
-Những quy đònh ưu đãi về thuế và những thuận lợi trong việc chuyển lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh ra nước ngoài cũng là một hấp dẫn đáng kể đối với
các nhà đầu tư quốc tế khi hoạt động ở Singapore. Các chủ ĐTNN sẽ được miễn
thuế khi nhập thiết bò và nguyên liệu; đầu tư vào các xí nghiệp mũi nhọn hoặc cơ
sở có số lượng vốn trên 1 triệu SGD(tương đương trên 400.000 USD) sẽ được giảm
thuế thu nhập trong 5 năm; doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu được miễn tới 90%
Người thực hiện : Lương Thò Hồng Phước
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét