trong điều kiện vừa phải học tập nâng cao trình độ và gia tăng sản xuất và
đấu tranh để chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, tổ chức phải di
chuyển nhiều nơi, điều kiện vật chất còn khó khăn nhưng bộ máy tổ chức
nhà nước và lao động thương binh xã hội vẫn không ngừng được củng cố và
phát triển về mọi mặt đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng và Nhà
nước giao cho. Góp phần cùng toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến trường
kỳ của dân tộc thắng lợi.
∗ Giai đoạn từ 1954 đến 1975
Từ sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đến nay miền Nam hoàn
toàn giải phóng, đất nước thống nhất, công tác tổ chức và lao động thương
binh xã hội luôn có vị trí hết sức quan trọng, miền Bắc vừa phải khắc phục
hậu quả sau chiến tranh, khôi phục nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu, vừa
phải chi viện sức người, sức của cho miền Nam để chống giặc Mỹ xâm lược.
Tổ chức bộ máy gặp nhiều khó khăn, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Nhà nước đã nhanh chóng kiện toàn, ổn định cả về tổ chức bộ máy và con
người trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra,
thực hiện thành công cuộc cách mang giải phóng dân tộc thống nhất đất
nước.
∗ Giai đoạn từ 1975 đến nay
Hoà bình lập lại đến nay, đặc biệt trong giai đoạn thực hiện công cuộc
đổi mới do Đảng đề sướng và lãnh đạo, ngành tổ chức và lao động thương
binh xã hội luôn phát huy vai trò trách nhiệm, làm tốt công tác tham mưu
cho Đảng và Nhà nước ban hành các chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị
quyết và các văn bản quy phạm pháp luật, ban hành các chế độ chính sách
đối với cán bộ công chức và chính quyền cơ sở để xây dựng và phát triển tổ
chức bộ máy, sắp xếp tinh giảm biên chế, thực hiện tốt các vấn đề về xã hội
như: chính sách người có công, giải quyết các vấn đề về lao động việc làm,
đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
của đất nước trong tình hình mới.
Như vậy, có thể khẳng định rằng trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch
sử, ngành Tổ chức Lao động Xã hội có vị trí hết sức quan trọng, nó giữ vị
trí, vai trò quyết định sự phát triển của đất nước. Một đất nước muốn phát
triển thì phải có hệ thống chính trị ổn định, tổ chức đủ mạnh từ trung ương
xuống địa phương, liên tục được hoàn thiện về mọi mặt.
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của thường trực huyện uỷ, hội
đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân huyện và sự giúp đỡ của ban tổ chức chính
5
quyền tỉnh và sở lao động thương binh và xã hội tỉnh Bắc Ninh, ngành tổ
chức lao động xã hội huyện Yên Phong đã có những đóng góp đáng kể trong
việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội mà đại hội
Đảng bộ các nhiệm kỳ đề ra.
Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được mà ngành tổ chức nhà
nước và ngành lao động thương binh xã hội đã làm được hơn 50 năm qua,
toàn thể cán bộ công chức huyện Yên Phong quyết tâm phấn đấu hoàn thành
xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao để cùng toàn dân thực
hiện công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội,
an ninh quốc phòng… góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu dân giàu,
huyện mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
2. Hệ thống tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ của phòng Tổ chức -
Lao động – Xã hội huyện Yên Phong.
Phòng Tổ chức Lao động Xã hội là cơ quan chuyên môn của uỷ ban
nhân huyện Yên Phong chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của uỷ ban nhân
dân huyện Yên Phong. Đồng thời chịu sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn
nghiệp vụ của ban tổ chức chính quyền tỉnh, sở lao động thương binh và xã
hội tỉnh Bắc Ninh. Hoạt động theo chế độ một thủ trưởng, lấy chức năng
nhiệm vụ của phòng làm nhiệm vụ chính, trọng tâm.
♦
Chức năng, nhiệm vụ của phòng Tổ chức – Lao động – Xã hội.
∗ Chức năng: phòng Tổ chức – lao động – Xã hội có chức năng giúp uỷ ban
nhân dân huyện làm công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực tổ chức bộ máy,
công chức, viên chức nhà nước và xây dựng chính quyền các cấp. Giúp uỷ
ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về công tác lao động, việc làm,
thương binh xã hội, tổ chức thực hiện một số công tác sự nghiệp thuộc lĩnh
vực lao động việc làm, thương binh xã hội trên địa bàn huyện theo chính
sách pháp luật của Nhà nước.
∗ Nhiệm vụ:
− Lĩnh vực tổ chức
+ Thực hiện chức năng tham mưu cho uỷ ban nhân dân huyện, về các lĩnh
vực: tổ chức và hoạt động của các phòng, ban chuyên môn, đơn vị sự nghiệp
thuộc uỷ ban nhân dân huyện; hoạt động của hội đồng nhân dân và uỷ ban
nhân cấp huyện, xã, thị trấn. Quản lý và phân bổ biên chế, chỉ tiêu lao động,
hợp đồng của các phòng, ban chuyên môn và đơn vị sự nghiệp thuộc uỷ ban
6
nhân dân huyện . Công tác bầu cử và địa giới hành chính; quy chế dân chủ ở
cơ sở ( xã, thị trấn, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp ).
+ Giúp việc cho uỷ ban nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện quyết
định hoặc trình cấp có thẩm quyền xem xét quyết định về công tác tổ chức
cán bộ như: bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức, nâng lương, chuyển ngạch, tiếp
nhận, tuyển dụng, điều động, luân chuyển cán bộ, thi tuyển khen thưởng , kỷ
luật, nghỉ việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của cán bộ công chức các cơ
quan chuyên môn, đơn vị hành chính, sự nghiệp thuộc uỷ ban nhân dân
huyện và cán bộ chính quyền cơ sở thuộc huyện. Quản lý quỹ tiền lương của
các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp , xây dựng kế hoạch đào tạo, đào
tạo lại và bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ, công chức và cán bộ chính quyền
cơ sở.
+ Đề xuất với chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện về chương trình, kế hoạch và
biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách nền hành chính nhà nước
trong phạm vi trách nhiệm của huyện.
+ Quản lý hồ sơ cán bộ công chức, viên chức ( cán bộ, công chức, viên
chức hợp đồng, đội ngũ giáo viên…) theo quy định.
− Lĩnh vực Lao động – Thương binh – Xã hội.
+ Căn cứ phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh,
huyện, hướng dẫn của sở lao động thương binh và xã hội, xây dựng trình uỷ
ban nhân dân huyện phương hướng nhiệm vụ công tác lao động thương binh
và xã hội trên địa bàn huyện và triển khai phương hướng nhiệm vụ đã được
duyệt.
+ Hướng dẫn và chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan để hướng dẫn
thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ về lĩnh vực lao động, tiền lương, tiền
công, việc làm, bảo hộ lao động, điều kiện lao động, nghĩa vụ lao động công
ích, di dân phát triển vùng kinh tế mới và chương trình xoá đói giảm nghèo.
+ Tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các chính sách ,
chế độ đối với thương binh, bệnh binh gia đình liệt sỹ, người và gia đình
có công với cách mạng, quân nhân phục viên chuyển ngành, người tàn tật,
trẻ em mồ côi, người già yếu không có thân nhân chăm sóc, gặp người khó
khăn, hiểm nghèo, các nạn nhân chiến tranh và các đối tượng xã hội khác
cần có sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội.
+ Kiểm tra việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội.
7
+ Quản lý, chỉ đạo các cơ sở sự nghiệp lao động, thương binh và xã hội trên
địa bàn: Nhà bảo trợ xã hội, đơn vị dậy nghề, dịch vụ việc làm, cơ sở sản
xuất của thương binh và người tàn tật, các cơ sở giáo dục, chữa trị, cai
nghiện ma tuý, mại dâm.
+ Quản lý các nguồn kinh phí về lĩnh vực lao động thương binh xã hôi của
huyện theo quy định
+ Quản lý các nghĩa trang liệt sỹ và các công trình bia ghi công liệt sỹ ở
huyện.
+ Phối hợp với các ngành, đoàn thể trên địa bàn huyện chỉ đạo xây dựng
phong trào toàn dân chăm sóc giúp đỡ các đối tượng chính sách xã hội bằng
các hình thức: chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần, thăm hỏi động viên
thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng.
+ Phối hợp chỉ đạo thực hiện chương trình phòng chống các tệ nạn xã hội,
trước hết là tệ nạn mại dâm và ma tuý.
+ Xem xét giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân về
lĩnh vực lao động – thương binh xã hội.
+ Thay mặt uỷ ban nhân dân tổ chức sơ kết, tổng kết các mặt công tác lao
đông, thương binh xã hội hàng năm và từng thời kỳ, đề nghị khen thưởng
từng tổ chức, cá nhân có thành tích trong công tác lao động thương binh và
xã hội.
+ Thực hiện thông tin báo cáo định kỳ, đột xuát với uỷ ban nhân dân huyện,
sở lao động thương binh và xã hội về công tác lao động thương binh và xã
hội.
+ Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ làm công tác lao
động thương binh và xã hội trên địa bàn huyện.
+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác về công tác tổ chức cán bộ và lao động
thương binh và xã hội do uỷ ban nhân dân, chủ tịch uỷ ban nhân dân huyện
giao.
3. Đặc điểm quản lý ngành, vùng, lãnh thổ:
Sơ đồ quản lý và mối quan hệ giữa các cơ quan
8
Sở LĐTB & XH
UBND Huyện Ban TCCQ tỉnh
Phòng TCLĐXH
Cán bộ TCLĐXH
xã, thị trấn
• UBND huyện: uỷ ban nhân dân huyện
• Ban TCCQ Tỉnh: ban tổ chức chính quyền tỉnh
• Sở LĐTB & XH: sở lao động thương binh và xã hội
• Phòng TCLĐXH: phòng Tổ chức lao động xã hội huyện
• Cán bộ TCLĐXH xã, thị trấn: cán bộ tổ chức lao động xã hội xã, thị
trấn
: Đơn vị quản lý trực tiếp phòng Tổ chức lao động xã hội huyện.
: Đơn vị quản lý chuyên môn của phòng Tổ chức lao động xã hội.
: Đơn vị chịu sự quản lý của phòng Tổ chức lao động xã hội
∗ Mối quan hệ quản lý giữa các cơ quan:
Mối quan hệ giữa uỷ ban nhân dân huyện và phòng Tổ chức lao động
xã hội: Là mối quan hệ giữa những cơ quan cùng cấp, phòng Tổ chức lao
động xã hội là cơ quan chuyên môn của uỷ ban nhân dân huyện chịu sự lãnh
đạo, chỉ đạo trực tiếp toàn diện của uỷ ban nhân dân huyện, phòng có chức
năng giúp uỷ ban nhân dân huyện làm công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực
tổ chức bộ máy công chức, viên chức nhà nước và xây dựng chính quyền
trên địa bàn huyện. Phòng Tổ chức lao động xã hội và uỷ ban nhân dân
huyện cùng phối hợp với nhau để hoàn thành những công việc do chủ tịch
uỷ ban nhân dân tỉnh và ban tổ chức chính quyền tỉnh giao phó.
Quan hệ giữa phòng Tổ chức lao động xã hội và Ban tổ chức chính
quyền tỉnh và sở lao động thương binh và xã hội: là quan hệ giữa cơ quan
cấp dưới với cơ quan cấp trên. Phòng Tổ chức lao động xã hội chịu sự chỉ
đạo trực tiếp về chuyên môn nghiệp vụ của ban tổ chức chính quyền tỉnh và
sở lao động thương binh và xã hội.
Quan hệ giữa phòng Tổ chức lao động xã hội và cán bộ lao động xã
hội xã, thị trấn. Cán bộ lao động xã, thị trấn chịu sự quản lý của phòng
Tổ chức lao động và xã hội về các vấn đề như quản lý nguồn kinh phí về
lĩnh vực lao động, thương binh xã hội của địa phương. Quản lý các nghĩa
trang và các công trình bia ghi công liệt sỹ ở các địa phương. Phòng Tổ
chức lao động xã hội xem xét và giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại
9
tố cáo của công dân về lĩnh vực lao động, thương binh và xã hội trên địa
bàn.
4. Một số kết quả đạt được của phòng Tổ chức Lao động xã hội
trong những năm qua và phương hướng nhiệm vụ trong thời gian tới.
a. Một số kết quả đạt được trong công tác tổ chức chính quyền năm 2002
và phương hướng nhiệm vụ trong năm 2003.
∗ Những kết quả đạt được.
− Công tác xây dựng chính quyền nhà nước các cấp.
+ Thực hiện nghị quyết số 284/ 2002/ NQ UBTVQHKX về việc công bố
ngày bầu cử đại biểu quốc hội khoá XI vào ngày chủ nhật (19/52002) chỉ thị
số 07 ngày 25/1/2002 của Uỷ ban bầu cử tỉnh Bắc Ninh, Uỷ ban nhân dân
huyện đã xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện bầu cử trên các xã, thị
trấn căn cứ tình hình thực hiện địa phương phân chia khu vực bỏ phiếu,
thành lập bầu cử đúng luật, đúng thành phần theo quy định.
+ Tổ chức tốt việc tạp huấn nghiệp vụ bầu cử cho cán bộ làm công tác bầu
cử và hội nghị tiếp xúc với cử tri với người ứng cử đại biểu quốc hội ở
huyện và cơ sở.
+ Công tác thông tin tuyên truyền luôn bám sát các nhiệm vụ chính trị của
điạ phương, đã cấp phát cho các xã, tổ bầu cử 750 cuốn luật bầu cử đại biểu
quốc hội khoá XI(ĐBQHKXI), 670 cuốn tài liệu phục vụ bầu cử,760 cuốn
hỏi đáp về bầu cử và nhiều tài liệu khác của Trung ương, tỉnh và huyện liên
quan đến cuộc bầu cử.
+ Việc lập và niêm yết danh sách cử tri, danh sách những người ứng cử
ĐBQHKXI được thực hiện dân chủ, công khai và đúng luật.
+ Tình hình an ninh trật tự, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được các cấp,
các ngành quan tâm và thực hiện tốt, không có trường hợp khiếu kiện nào
xẩy ra liên quan đến cuộc bầu cử.
+ Chỉ đạo tiếp nhận đầy đủ các phương tiện vật chất phân phối kịp thời cho
các tổ bầu cử, nguồn kinh phí đáp ứng cơ bản các nhu cầu chi phục vụ bầu
cử.
Do làm tốt công tác chuẩn bị nên trong ngày bầu cử 101 tổ bầu cử đã tiến
hành bỏ phiếu bầu cử đạt kết quả tốt, đảm bảo công khai, dâu chủ và đúng
luật. Nhân dân vui mừng phấn khởi, bỏ phiếu ngay từ những giờ đầu, kết
quả toàn huyện số cử tri tham gia bỏ phiếu đạt 99,23%, có 61 tổ bầu cử, 2
xã: Vạn an và Thuỵ hoà đạt 100% . Các đại biểu trúng cử đảm bảo về số
10
lượng, cơ cấu, thành phần theo chỉ đạo của trên. Với những thành tích đạt
được, huyện Yên Phong đã được uỷ ban bầu cử tỉnh Bắc Ninh tặng bằng
khen có thành tích hoàn thành xuất sắc cuộc bầu cử ĐBQHKXI trên địa bàn
huyện.
−Công tác xây dựng tổ chức bộ máy cấp huyện
+ Công tác xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước
Tiếp tục thực hiện các bước trong kế hoạch sắp xếp lại tổ chức bộ máy và
tinh giản biên chế trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp theo tinh
thần NQ16/CP của chính phủ , kết quả:
• Đã tiếp nhận bàn giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo và
biên chế ngành mần non, tiểu học, trung học cơ sở từ sở giáo dục và đào tạo
về uỷ ban nhân dân huyện quản lý.
• Thực hiện Nghị quyết số 144 ngày 31/12/2001 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
Bắc Ninh về việc tổ chức lại một số cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân
dân huyện, đã tổ chức sắp xếp lại từ 14 phòng xuống còn 10 phòng quản lý
nhà nước.
• Quyết định bổ nhiệm 3 trưởng phòng (phòng kinh tế, phòng tư pháp,
phòng Giao thông xây dựng địa chính), một chủ nhiệm Uỷ ban dân số gia
đình và trẻ em, 5 phó trưởng phòng, 10 hiệu trưởng, hiệu phó các trường
Tiểu học, Trung học cơ sở, Mầm non trong huyện.
• Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn xây dựng và ban hành quychế hoạt động
của cơ quan để duy trì tổ chức hoạt động cơ quan đơn vị đi vào nề nếp có
hiệu quả.
− Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ huyện
Để từng bước nâng cao trình độ năng lực chuyên môn của đội ngũ cán
bộ công chức trong huyện, góp phần thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được
giao, uỷ ban nhân dân huyện thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo
và đào tạo lại cán bộ, kết quả:
• Trong năm đã cử đi 10 đồng chí học lớp lý luận chính trị, 2 cán bộ đi học
lớp chuyển hệ từ cao đẳng lên đại học.
• Tổ chức triển khai kế hoạch thi nâng ngạch và thi tuyển công chức năm
2002 do tỉnh tổ chức. Qua mỗi năm chất lượng cán bộ được nâng lên rõ rệt.
− Công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại- tố cáo của công dân.
• Thực hiện nghiêm túc luật khiếu nại tố cáo, ngay từ đầu năm uỷ ban nhân
dân huyện đã xây dựng lịch phân công lãnh đạo, cán bộ tiếp dân mỗi tháng
11
hai lần. Đồng thời duy duy trì tiếp dân hàng tháng. Kết quả năm 2002, uỷ
ban nhân dân huyện đã tiếp dân 190 lượt công dân với 73 vụ việc, so với
cùng kỳ năm 2001 số lượt người tiếp dân giảm 9% và 11% số vụ việc.
• Uỷ ban nhân dân các xã trong năm đã tiếp nhận các đơn khiếu nại tố cáo,
nhìn trung các đơn đã được các xã quan tâm giải quyết, không có vụ việc
phức tạp xảy ra.
• Thực hiện sự chỉ đạo của thường trực huyện uỷ, trong năm đã chỉ đạo
thanh tra 7 cuộc thanh tra kinh tế xã hội đạt 175% kế hoạch năm.
∗ Phương hướng nhiệm vụ trong công tác xây dựng chính quyền huyện Yên
Phong năm 2003.
Để thực hiện hiệu quả mục tiêu và các nội dung quan trọng năm 2003 cần
tập trung các biện pháp cơ bản sau:
+ Chính quyền các cấp thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền trong
cán bộ đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội và đoàn thể nhân dân để mọi
người, mọi tầng lớp nhân nhân nhận thức sâu sắc về công tác cải cách hành
chính, chấp hành pháp luật, xây dựng cơ quan trong sạch vững mạnh.
+ Sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước ổn định, tranh thủ sự giúp đỡ của các
ngành trung ương, tỉnh để từng bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất cho
các xã bố trí sắp xếp kiện toàn cán bộ phù hợp với chức năng nhiệm vụ
chuyên môn.
+ Đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng phòng ban chuyên môn uỷ ban
nhân dân các xã, thị trấn, phấn đấu đến năm 2003 khối cơ quan huyện đạt
80% vững mạnh khối xã, 70% xuất sắc và khá.
+ Tăng cường bám sát cơ sở để theo dõi, đôn đốc, kiểm tra về việc thực hiện
quy chế dân chủ ở cơ sở, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức ổn định, để
uốn nắn những thiếu sót trong quá trình tổ chức thực hiện các mục tiêu đề
ra.
b. Những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện chính sách xã hội năm
2002 và phương hướng nhiệm vụ năm 2003.
∗ Công tác thương binh liệt sỹ và người có công.
Năm 2002 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của huyện uỷ, uỷ ban nhân dân -
Đảng bộ và nhân huyện thường xuyên chăm lo và tổ chức thực hiện tốt các
chính sách đối với thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người hoạt động
kháng chiến, phát động phong trào đền ơn đáp nghĩa trên toàn huyện. Quan
12
tâm đến các gia đình chính sách như thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ có
hoàn cảnh khó khăn.
− Triển khai các chế độ chính sách cho các đối tượng chính sách.
+ Thực hiện quyết định 118 của chính phủ về việc điều tra lập danh sách đối
tượng chính sách hỗ trợ tiền nhà ở cho người có công với cách mạng.
+ Mua bảo hiểm sinh mạng cho 2303 đối tượng chính sách và người có công
với cách mạng. Trong năm thực hiện bảo hiểm sinh mạng cá nhân cho 135
đối tượng với số tiền là 84.190.000 đồng. Miễn giảm học phí cho hàng cho
hàng trăm học sinh, sinh viên, giảm đóng góp xây dựng cho 341 học sinh
với số tiền là7.415.000 đồng.
∗ Công tác lao động việc làm.
Hướng dẫn các xã, thị trấn thực hiện pháp lệnh nghĩa vụ lao động
công ích và tiến hành rà soát 3 nghĩa vụ lao động công ích, pháp lệnh lụt
bão, đền ơn đáp nghĩa cho các xã và cơ quan đóng trên địa bàn huyện.
Phối hợp với sở lao động thương binh và xã hội tỉnh tiến hành điều tra
chất lượng lao động trên địa bàn của huyện và phối hợp với trung tâm xúc
tiến việc làm để tuyển lao động đi Malaysia. Phối hợp với cục thông kê tỉnh
Bắc Ninh để tiến hành điều tra việc làm ở 4 xã, thị trấn.
Hướng dẫn các nhóm hộ lập dự án và tiến hành thẩm tra các dự án vay
vốn của quỹ quốc gia giải quyết việc làm với tổng số tiền là1,112 tỷ đồng
∗ Công tác phòng chống tệ nạn xã hội.
Thường xuyên chỉ đạo các mặt ngành, các cấp và uỷ ban nhân dân xã,
thị trấn tuyên rộng khắp trên địa bàn huyện và trong các nhà trường về công
tác phòng chống tệ nạn xã hội. Cùng với việc giáo dục kiểm tra giám sát
chặt chẽ ở gia đình và cơ sở. Năm 2002 đã tổ chức điều tra năm tình hình
đối tượng nhiễm HIV, nghiện ma tuý, mại dâm trong cán bộ viên chức và
công nhân lao động đóng trên địa bàn huyện ở 56 cơ quan và đơn vị và 4
doanh nghiệp tư nhân với tổng số người được điều tra là 2303 người kết quả
không có cán bộ viên chức, công nhân lao động mắc HIV, nghiện hút và mại
dâm.
Theo số liệu điều tra năm 2002 số đối tượng nghiện ma tuý là 48 đối
tượng. Số đối tượng mua bán vận chuyển tàng chữ ma tuý do công an huyện
bắt là 6 vụ với số người là 9 đối tượng. Trong năm 2002 đã xử lý 5 đối
tượng đưa vào trung tâm cai nghiện bắt buộc của tỉnh.
Năm 2002 đã tiến hành xây dựng xã điểm về công tác phòng chống tệ
nạn xã hội. Hướng dẫn các xã tổng kết công tác phòng chống tệ nạn xã hội.
13
Lập chương trình kế hoạch năm 2003 đăng ký xã lành mạnh không có tệ nạn
xã hội. Tổ chức tuyên truyền ngày thế giới phòng chống ma tuý ngày 1/ 12
trên địa bàn toàn huyện.
∗ Công tác bảo trợ xã hội
Ngoài việc thực hiện tốt các chế độ đối với thương bệnh binh, gia
đình liệt sỹ và người có công với cách mạng. Huyện còn quan đến các đối
tượng khác như trẻ mồ côi, người già cô đơn… và các hộ gia đình thuộc
diện đói nghèo.
Hoàn thiện việc điều tra bổ sung danh sách người bi ảnh hưởng chất
độc hoá học. Chỉ đạo các trung tâm y tế huyện khám cho 70 đối tượng bị
ảnh hưởng cuả chất độc hoá học, kết quả 31 đối tượng đủ điều kiện hưởng
trợ cấp và gửi sở 22 hồ sơ đối tượng đủ điều kiện đã giám định năm 2000.
Kết quả năm 2001 đã nhận quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh về
việc trợ cấp hàng tháng tổng số 51 đối tượng và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho
160 đối tượng bị ảnh hưởng chất độc hoá học.
Thực hiện miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho 2235 hộ nghèo trên
địa bàn huyện.
∗Thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo
Vốn ngân hàng người nghèo đóng một vai trò quan trọng trong việc
tạo ra nguồn vốn vay cho người nghèo. Khuyến khích các ngành, đoàn thể,
các cá nhân thu hút nguồn vốn các dự án thu hút được nguồn vốn các dự án
của nhà nước, các tổ chức phi chính phủ và phát triển rộng khắp nguồn vốn
tự đóng góp cho vay của các đoàn thể.
Đã cho 5638 hộ vay trong đó hộ nghèo được vay vốn là 2831 hộ
chiếm tỷ lệ 50% số hộ được vay…
∗ Công tác thanh tra kiểm tra giải quyết đơn thư khiếu nại.
Trong năm đã tiến hành kiểm tra xã minh cho các đối tượng đề nghị
trợ cấp xã hội hàng tháng để duyệt trợ cấp ở 14/18 xã với tổng số là 102 đối
tượng. Trả lời đơn thư đề nghị về chế độ chính sách. Thường xuyên tiếp dân
giải quyết những thắc mắc, kiến nghị một cách kịp thời đúng chế độ chính
sách quy định của Nhà nước.
− Phương hướng nhiệm vụ trong năm 2003
Trong năm 2003 chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn do
ngành dọc triển khai và các nhiệm vụ chính trị của địa phương, chủ động
giải quyết những chương trình đề án về quản lý lao động việc làm, chăm sóc
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét