Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014
Đánh giá hiệu quả thực hiện giải pháp thu hồi nhiệt thải chương trình tiết kiệm năng lượng CTY sao vàng
5
- Đầu tư ngắn hạn là thực hiện các biện pháp chủ yếu như cải tiến chế độ
quản lý năng lượng, tổ chức sản xuất hợp lý, sửa chữa nhỏ, cải thiện quy
trình vận hành, bảo dưỡng, chuyển thiết bị phụ trợ sang chế độ kinh tế,
chuyển máy biến áp non tải sang chế độ dự phòng nguội, hạn chế sử dụng
điện năng để sưởi nóng, chèn kín cửa kính, kẽ hở cửa ra vào, hồn thiện bảo
ơn đường ống cung cấp nhiệt, rửa và làm sạch thiết bị thu nhiệt, cách nhiệt
tốt tủ lạnh Các biện pháp về tiết kiệm năng lượng với chi phí nhỏ chỉ
chiếm dưới 5% tổng tiềm năng tiết kiệm năng lượng. Các biện pháp này
được thực hiện trong thời gian khoảng 2 - 3 tháng.
- Đầu tư trung hạn bao gồm cải tạo, nâng cấp hoặc đổi mới từng phần các
thiết bị đang làm việc nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng, như thay đổi bảo
ơn, thu hồi nhiệt, thay thế các bộ phận đã cũ, thay thế các động cơ điện non
tải và áp dụng bộ truyền động điều chỉnh kiểu tần số ở các cơng trình có phụ
tải biến động Các biện pháp chi phí trung bình cho cơng tác tiết kiệm năng
lượng thường chiếm tới 15 - 20% tổng tiềm năng tiết kiệm năng lượng, thực
hiện trong khoảng từ 1-2 năm và được hồn vốn trong 3 năm. Để thực thi
các biện pháp chi phí trung bình cần có kế hoạch chi tiết và lập các bản vẽ
thi cơng.
- Đầu tư dài hạn bao gồm nâng cấp thiết bị hoặc thay đổi cơng nghệ, thiết bị
mới. Biện pháp này thường cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên
các doanh nghiệp cần phải xem xét kỹ tính khả thi về kinh tế, các yếu tố về
mơi trường và an tồn sức khỏe nghề nghiệp. Các biện pháp chi phí lớn về
tiết kiệm năng lượng về mặt lý thuyết mang lại tới 75% tiềm năng tiết kiệm
năng lượng. Tuy nhiên chi phí cho các biện pháp đó là tương đối lớn và
trong nhiều trường hợp, vượt q chi phí xây dựng nhà máy, phân xưởng
mới. Sở dĩ có tình trạng đó là vì trong ngành cơng nghiệp các biện pháp chi
phí lớn về tiết kiệm năng lượng liên quan tới việc thay đổi cơng nghệ của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
sản xuất chính, đòi hỏi thay thế các thiết bị đắt tiền và chỉ có thể thực hiện
khi cải tạo đầu tư mới xí nghiệp.
1.2. Các giải pháp Tiết kiệm năng lượng
Hiện nay, một số doanh nghiệp đã và đang thực hiện chương trình tiết kiệm và
sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng bằng các biện pháp chủ yếu sau:
- Cải tiến, hợp lý hóa q trình đốt nhiên liệu; gia nhiệt, làm lạnh và chuyển
hóa nhiệt năng
- Giảm tổn thất nhiệt
- Giảm tổn thất điện năng trong q trình truyền tải, phân phối và tiêu thụ
điện năng
- Thu hồi năng lượng của chu trình thải để sử dụng lại như thu hồi nhiệt từ
khói thải để sấy sản phẩm hoặc phát điện
- Giảm tiêu thụ năng lượng bằng cách sử dụng thiết bị hoặc cơng nghệ có hiệu
suất cao như sử dụng đèn, động cơ, lò hơi có hiệu suất cao, hoặc dùng
cơng nghệ khơ thay cho cơng nghệ ướt trong sản xuất xi măng
- Giảm tiêu thụ năng lượng nhờ hợp lý hóa q trình sản xuất do đó nâng cao
hiệu quả sử dụng năng lượng
- Phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy triều,
địa nhiệt ) để tiết kiệm các nguồn nhięn liệu hóa thạch như than đá, dầu
mỏ, khí đốt.
Các giải pháp Tiết kiệm năng lượng được áp dụng tại các doanh nghiệp đã và
đang mang lại nhiều lợi ích như giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và
nâng cao được tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh đó, hoạt
động này cũng sẽ giúp giảm được sự tiêu tốn tài ngun thiên nhiên, đặc biệt là
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính góp phần tích cực vào việc bảo vệ mơi
trường
II. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ
TẠI VIỆT NAM.
2.1. Tình hình áp dụng Tiết kiệm năng lượng trên thế giới
Những cuộc khủng hoảng năng lượng trong các thập kỷ qua đã chứng minh
Năng lượng là một vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế
xã hội của tất cả các nước trên thế giới.
Theo “Triển vọng năng lượng quốc tế 2002” (IEO 2002), tiêu thụ năng lượng
của thế giới dự báo sẽ tăng 60% trong thời gian 21 năm, kể từ 1999 đến 2020 (thời
kỳ dự báo). Đặc biệt, nhu cầu năng lượng của các nước đang phát triển ở châu Á và
Trung Nam Mỹ, dự báo có thể sẽ tăng gấp hơn bốn lần trong thời gian từ 1999 tới
2020, chiếm khoảng một nửa tổng dự báo gia tăng tiêu thụ năng lượng của thế giới
và khoảng 83% tổng gia tăng năng lượng của riêng thế giới đang phát triển. Giá
dầu mỏ đang ngày càng tăng cao trong khi nhu cầu sử dụng nhiên liệu này của các
quốc gia cũng khơng ngừng tăng lên, điều này đã gây sức ép buộc nhiều nước phải
thực thi kế hoạch phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm sự phụ
thuộc dầu mỏ, khí đốt; đồng thời thi hành các biện pháp nhằm tiết kiệm năng
lượng.
Một trong số các nước tiết kiệm năng lượng nhất thế giới phải kể đến là Nhật
Bản. Là nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tiêu thụ nhiều năng lượng, nhưng
Nhật Bản hồn tồn khơng có dầu mỏ và khí đốt. 96% năng lượng sử dụng trong
nền kinh tế và phục vụ sinh hoạt hằng ngày ở Nhật Bản phải nhập khẩu. Việc phụ
thuộc lớn nguồn năng lượng bên ngồi khiến cho nước này nhận thức được tầm
quan trọng của tiết kiệm sử dụng năng lượng có hiệu quả cao.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Từ năm 1973 đến nay sản xuất cơng nghiệp của Nhật Bản tăng gần gấp ba lần,
nhưng mức năng lượng sử dụng hầu như khơng đổi. Ðể sản xuất khối lượng sản
phẩm cơng nghiệp bằng Nhật Bản, Trung Quốc phải sử dụng lượng năng lượng
gấp 11,5 lần. Các nhà máy sản xuất giấy của Nhật Bản đầu tư cho những thùng kim
loại có thể đốt nóng bằng giấy thải, củi và nhựa phế thải. Trong vòng hai năm, có
tới một nửa sản lượng điện sử dụng trong các nhà máy giấy được sản xuất từ rác
thải.
Tháng 3 năm 2005, chính phủ Nhật Bản đã phát động một chiến dịch trong
tồn quốc nhằm thực hiện mục tiêu của Nghị định thư Kyoto về cắt giảm 6% lượng
khí thải gây hiệu ứng nhà kính mức của năm 1990 vào năm 2012. Trong lĩnh vực
giao thơng và sinh hoạt đời sống, nhu cầu sử dụng năng lượng cao hơn nhiều so với
lĩnh vực cơng nghiệp. Ðể tiết kiệm và sử dụng năng lượng có hiệu quả, chính phủ
Nhật Bản chủ trương tăng thuế nhiên liệu lên 1,25 USD một lít xăng, mức cao nhất
trong một thập niên; đồng thời giảm thuế đối với ơ tơ cỡ nhỏ và loại xe mới có các
bộ phận khơng đồng bộ nhưng tiết kiệm nhiên liệu, trên cơ sở kết hợp giữa một
động cơ chạy xăng và một động cơ chạy điện. Việc bán loại xe này ở Nhật Bản
đang tăng mạnh.
Nhật Bản cũng trợ cấp khoảng 1,3 tỷ USD để lắp đặt hệ thống năng lượng mặt
trời cho 160 nghìn gia đình. Hiện nay việc cung cấp năng lượng mặt trời với chi phí
cao hơn từ hai đến ba lần việc cung cấp điện năng cho các hộ gia đình. Nhưng các
chủ sở hữu nhà cho rằng cùng với thời gian, nguồn năng lượng này sẽ trang trải
những phí tổn về thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời. Chính phủ Nhật Bản muốn
miễn thuế cho cố gắng phát triển nguồn năng lượng này; vạch kế hoạch tăng sản
lượng năng lượng mặt trời lên 15 lần trong thập kỷ này. Với chủ trương tiết kiệm
dầu mỏ phải bắt đầu từ mỗi gia đình, Nhật Bản chủ trương cắt giảm việc sử dụng
năng lượng đối với bốn loại đồ dùng gia đình thơng dụng. Chủ trương nói trên
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
được các hãng sản xuất đồ dùng điện của Nhật Bản hưởng ứng, với việc sản xuất
và bán ra các sản phẩm mới tiết kiệm năng lượng.
Ngồi Nhật Bản, các nước có nguồn năng lượng nội địa ít cũng thi hành chính
sách tiết kiệm năng lượng. Tại Singapore, nơi máy điều hòa khơng khí chiếm tới
60% chi phí năng lượng của mỗi gia đình, một đạo luật mới được ban hành khuyến
khích việc tiết kiệm năng lượng thơng qua việc sử dụng kính cửa sổ phủ phản
quang và kết nối hệ thống hạ nhiệt của ngơi nhà với hệ thống làm hạ nhiệt của hàng
xóm, nơi nước được làm lạnh qua đêm.
Ở Hồng Cơng, ngày càng nhiều tòa nhà được lắp đặt hệ thống quạt "thơng
minh", trong đó máy tính giảm thiểu số lần dừng khơng cần thiết. Chính quyền
Hồng Cơng cũng khuyến khích việc sản xuất và sử dụng loại ơ-tơ kết hợp động cơ
chạy xăng với động cơ chạy điện.
Ðầu tháng sáu năm 2005, Trung Quốc đã thành lập Ban chỉ đạo năng lượng
quốc gia do Thủ tướng Ơn Gia Bảo làm Trưởng ban. Hội nghị lần thứ nhất Ban chỉ
đạo cơng tác năng lượng quốc gia xác định cơng tác năng lượng của Trung Quốc
trong thời kỳ trước mắt bao gồm tăng cường nghiên cứu, hồn thiện quy hoạch
tổng thể phát triển trung hạn và dài hạn năng lượng; phân phối hợp lý nguồn năng
lượng và phát triển các nguồn năng lượng mới và năng lượng có khả năng tái sinh,
triệt để tiết kiệm năng lượng
Chính phủ Pháp dự định hạn chế tốc độ xe cộ chạy trên đường cao tốc từ 130
km/h xuống 115 km/h, đồng thời hợp tác với các chun gia phát triển các chương
trình mới về khai thác nguồn năng lượng "phi truyền thống". Tây Ban Nha đặt mục
tiêu giảm tiêu thụ năng lượng 8,5% trong giai đoạn 2005-2007, khuyến khích người
dân chuyển sang sử dụng các loại xe nhỏ nhằm giảm tiêu hao nhiên liệu. Philippin
u cầu tất cả cơ quan giảm ít nhất 10% năng lượng tiêu thụ. Năm 2005 tổng chi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
phí nhập khẩu dầu của nước này tốn ít nhất 5,5 tỷ USD. Indonesia thì xem xét giảm
trợ cấp giá nhiên liệu, hiện khoản tiền này ước khoảng 6,4 tỷ USD mỗi năm.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều quốc gia tăng cường phát triển những nguồn năng
lượng có khả năng tái sinh như thuỷ năng, gió, ánh sáng mặt trời… Năm 2000,
nước Đức đã ban bố Luật phát triển năng lượng có khả năng tái sinh. Theo luật này
các cơng ty nghiên cứu phát triển nguồn năng lượng được chính phủ trợ cấp kinh
phí làm cho việc nghiên cứu phát triển và sử dụng nhiều loại năng lượng có khả
năng tái sinh ở Đức thu được kết quả nổi bật. Năm 2003, Đức đã hồn thành kế
hoạch phát điện bằng năng lượng mặt trời tại 100 nóc nhà và còn tăng cường các
biện pháp khác để phát triển và đưa vào sử dụng nguồn năng lượng này. Hiện nay,
Đức là nước đứng đầu thế giới sử dụng năng lượng gió. Sản lượng điện bằng sức
gió của Đức chiếm khoảng một phần ba tổng sản lượng điện bằng sức gió của thế
giới và 4% tổng sản lượng sản xuất ra trong nước. Đức đang đẩy mạnh phát triển
cơng nghiệp điện bằng sức gió tại các khu vực ven biển.
Những dự báo của các chun gia năng lượng cho thấy từ nay trở đi, lồi
người sẽ đối mặt với tình trạng thiếu hụt dầu lửa và tình trạng căng thẳng gay gắt sẽ
diễn ra vào khoảng năm 2020, khi nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng trong khi các
giếng dầu hiện có bắt đầu cạn. Dự báo giá dầu sẽ lên đến mức 380 USD/thùng vào
thời kỳ đó. Vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra những chiến lược an ninh
năng lượng dài hạn dựa trên những diễn biến mới nhất này và việc nâng cao hiệu
quả sử dụng năng lượng, tiết kiệm triệt để năng lượng là xu hướng tất yếu của cả
lồi người.
2.2. Tình hình áp dụng tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam
Hiện nay, mức tiêu tốn năng lượng trên một đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp
ở Việt Nam là q cao so với các nước trong khu vực. Cụ thể, cùng một đơn vị sản
phẩm, doanh nghiệp Việt Nam phải tiêu tốn một lượng năng lượng bằng 1,5 1,7
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
lần so với các doanh nghiệp Thái Lan, Malaysia. Bộ Cơng nghiệp đã khảo sát tại
một số nhà máy sản xuất xi măng, thép, sành sứ, hàng tiêu dùng, kết quả cho thấy
tiềm năng tiết kiệm năng lượng có thể đạt đến 20%. Nếu tính với mức sử dụng
năng lượng trong cơng nghiệp chiếm khoảng 40% so với tổng nhu cầu năng lượng
thương mại hiện nay (xấp xỉ 19 triệu tấn), số tiền tiết kiệm được có thể tới 13,5
nghìn tỷ đồng mỗi năm. Đây là một giá trị khơng nhỏ, chưa tính đến tiềm năng tiết
kiệm trong sinh hoạt và dịch vụ.
Để đẩy mạnh việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, ngày 03/09/2003
Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 102/2003/NĐ-CP về sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả trong các ngành sản xuất và dân dụng. Ngày 1/7/2004,
Bộ Cơng nghiệp đã ban hành Thơng tư 01/2004/TT-BCN hướng dẫn sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả đối với các cơ sở sản xuất.
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đưa ra ý kiến cho rằng số
lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng tăng ở Việt Nam đang tạo ra sức ép lớn
đối với năng lực cung cấp năng lượng của quốc gia vốn đã phát huy hết cơng suất.
Nếu năng lượng khơng được sử dụng một cách bền vững hơn thì có thể Việt Nam
khơng đủ khả năng đáp ứng nhu cầu về năng lượng của quốc gia. Vì vậy, ngày
21/10/2005, UNDP và Bộ Khoa học và Cơng nghệ đã phê duyệt dự án "Nâng cao
hiệu quả sử dụng năng lượng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam” nhằm
giải quyết vấn đề trên. Dự án 5 năm này sẽ tiếp tục hỗ trợ khu vực doanh nghiệp
trong việc tiết kiệm năng lượng và góp phần giảm thiểu sự phát thải khí CO
2
.
Có khoảng 500 doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc 5 lĩnh vực sử dụng nhiều năng
lượng, kể cả ngành sản xuất gạch ngói và gốm sứ, sẽ tham gia tiến hành các biện
pháp thí điểm do dự án hỗ trợ nhằm giảm mức tiêu thụ năng lượng thơng qua các
hoạt động đào tạo và dịch vụ về kỹ thuật. Một quỹ trị giá hơn 1,9 triệu USD sẽ
được thiết lập để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận với các nguồn vốn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
vay và tín dụng trong nước để phục vụ cho các dự án tiết kiệm năng lượng riêng
của họ. Việc thực hiện thành cơng dự án này sẽ mang lại kết quả là tiết kiệm được
một khoản năng lượng tổng cộng tương đương với 136 nghìn tấn dầu và giảm mức
độ phát thải khí CO
2
hàng năm là 962 nghìn tấn trong giai đoạn 2006 - 2010.
Bộ Cơng nghiệp đã có tờ trình Chính phủ đề nghị xây dựng Chương trình quốc
gia về tiết kiệm năng lượng với một loạt các chính sách liên quan đến mọi bộ
ngành. Các nội dung được đề cập đến là hình thành cuộc vận động tồn xã hội xây
dựng tác phong sử dụng năng lượng theo hướng tiết kiệm và hiệu quả; đưa các nội
dung của chương trình vào hệ thống giáo dục quốc gia; phát triển và phổ biến các
trang thiết bị hiệu suất cao, tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà chế
tạo trong nước hiện đại hóa cơng nghệ, nâng cao tính năng của các thiết bị sử dụng
năng lượng được sản xuất; xây dựng mơ hình quản lý sử dụng năng lượng tiết kiệm
và hiệu quả.
Theo kế hoạch, Việt Nam sẽ có Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu
quả. Ban chỉ đạo quốc gia thực hiện Chương trình do một Phó thủ tướng đứng đầu
sẽ được thành lập, cả nước sẽ có 8 trung tâm tiết kiệm năng lượng đặt tại 3 miền.
Bên cạnh các hình thức tun truyền, doanh nghiệp chế tạo, nhập khẩu sẽ được
hưởng cơ chế ưu đãi để đưa ra thị trường các trang thiết bị hiệu suất cao; bắt đầu từ
năm 2007 Bộ sẽ tổ chức dán nhãn tiết kiệm cho các loại thiết bị sử dụng năng
lượng điển hình là quạt điện, động cơ điện, điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh.Nhà nước sẽ
ban hành biểu giá năng lượng phù hợp với xu hướng của các nước trong khu vực
nhằm khuyến khích người dân sử dụng tiết kiệm và hiệu quả.
Để thực hiện chiến dịch trên, 100% các tồ nhà xây dựng mới từ 2006 sẽ phải
thực hiện việc quản lý theo Quy chuẩn xây dựng VN "các cơng trình sử dụng năng
lượng có hiệu quả". Bên cạnh đó, Bộ Giao thơng sẽ triển khai các biện pháp giảm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
tổng mức sử dụng nhiên liệu than dầu và điện năng như hạn chế xe cá nhân, tăng
cường phương tiện vận tải cơng cộng có năng lực chun chở cao.
Chương trình có mục tiêu tiết kiệm từ 3 - 5% tổng mức tiêu thụ năng lượng
trong giai đoạn 2006 - 2010 và 5 - 8% trong giai đoạn 2011 - 2015. Theo Bộ Cơng
nghiệp, việc triển khai Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả ở Việt Nam sẽ đáp ứng u cầu tiết kiệm năng lượng trong sản xuất, tiêu
dùng, giảm mức đầu tư rất cao hiện nay cho sản xuất năng lượng, góp phần bảo vệ
mơi trường cũng như thực hiện các cam kết trong các cơng ước quốc tế, các hiệp
định mà Việt Nam đã gia nhập.
III. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN
3.1. Khái niệm
Đánh giá hiệu quả dự án là xem xét mức độ đóng góp của dự án từ các góc độ
khác nhau: cá nhân, cộng đồng và tồn bộ nền kinh tế quốc dân.
Phân tích tài chính là phân tích, đánh giá hiệu quả của dự án dưới góc độ của
nhà đầu tư . Mối quan tâm chủ yếu của các nhà đầu tư là thu được lợi nhuận từ dự
án, do đó trong phân tích tài chính thường chỉ xét tới những chi phí - lợi ích trực
tiếp mà khơng bao gồm những chi phí cơ hội, chi phí - lợi ích về xã hội-mơi
trường. Phân tích tài chính nhằm cung cấp những thơng tin cần thiết về tình hình,
kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án để các chủ đầu tư đưa ra quyết định đúng
đắn. Mục tiêu của phân tích tài chính là xác định chi phí - lợi ích của dự án, tính
tốn các chỉ tiêu cần thiết để đánh giá dự án. Giá cả được sử dụng trong phân tích
tài chính là giá cả thị trường thực tế.
Phân tích kinh tế là sự mở rộng của phân tích tài chính với chủ thể là tồn xã
hội, vì vậy ngồi việc xem xét, đánh giá hiệu quả về mặt tài chính thì phải quan
tâm đến những hiệu quả về mặt xã hội – mơi trường mà dự án mang lại. Chi phí
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
trong phân tích kinh tế được thể hiện bằng các giá trị sử dụng mà xã hội mất đi khi
đưa các nguồn lực vào dự án, đó là các chi phí cơ hội hay chi phí sử dụng. Lợi ích
kinh tế - xã hội chính là kết quả so sánh giữa lợi ích do dự án tạo ra và cái giá xã
hơi phải trả trong việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của mình một cách tốt nhất
trong tồn bộ nền kinh tế quốc dân.
Phương pháp phân tích kinh tế thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả và
lựa chọn thực hiện các dự án do Nhà nước tài trợ, cấp kinh phí, đặc biệt là các dự
án đầu tư nhằm mục tiêu bảo vệ mơi trường. Mục tiêu của phân tích kinh tế là đánh
giá những đóng góp thực sự của dự án cho nền kinh tế. Vì vậy, giá cả sử dụng trong
phân tích kinh tế thường là giá thị trường đã được điều chỉnh, tức là giá mà tại đó
lợi ích cận biên của người tiêu dùng bằng chi phí cận biên của người sản xuất ra
hàng hố.
Trong chun đề này, do hạn chế về trình độ đánh giá và gặp phải những khó
khăn trong việc điều tra, thu thập, lượng hố những số liệu cần thiết liên quan đên
đề tài nên tơi sử dụng phương pháp phân tích tài chính để đánh giá. Bên cạnh đó,
tơi có xem xét đến cả những chi phí - lợi ích mơi trường.
3.2. Các bước đánh giá hiệu quả
3.2.1. Xác định chi phí - lợi ích
Trong bước này chúng ta cần phải lập một danh mục đầy đủ về các khoản chi
phí-lợi ích có thể phát sinh trong q trình thực hiện dự án. Việc xác định các chi
phí - lợi ích được tiến hành theo ngun tắc: tất cả những gì làm tăng mục tiêu là
lợi ích, còn tất cả những gì làm giảm mục tiêu là chi phí.
Nội dung cơ bản của xác định chi phí - lợi ích bao gồm:
- Xác định tổng chi phí bao gồm chi phí đầu tư ban đầu, chi phí vận hành
hàng năm. Chi phí đầu tư ban đầu như chi phí mua trang thiết bi, lắp đặt
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét