Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014
nâng cao chất lượng tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
5
những cơ hội kinh doanh thuận lợi. Vì vậy, các doanh nghiệp ngồi quốc doanh
có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường và sự tiến bộ khơng
ngừng của khoa học. Bất cứ sản phẩm nào cũng có chu kì sống của nó, từ khi
mới xuất hiện trên thị trường cho đến khi phát triển cũng như thối trào, lợi
nhuận chỉ thu được tối đa trong giai đoạn tăng trưởng. Việc thâm nhập vào thị
trường hàng hố trong giai đoạn này sẽ đem lại cho doanh nghiệp thành cơng và
khi sản phẩm bị thị trường từ chối thì doanh nghiệp dễ dàng rút lui và lựa chọn
mặt hàng kinh doanh khác trong phạm vi được phép sao cho có lợi nhất, và phù
hợp nhất với khả năng của mình. Với tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật như
hiện nay thì cơng nghệ đầu tư dễ bị lạc hậu. Vì vậy đây là một thế mạnh để
doanh nghiệp ngồi quốc doanh cạnh tranh với các doanh nghiệp Nhà nước.
• Cơ cấu quản lý linh hoạt
Các doanh nghiệp ngồi quốc doanh thường thích hợp với những cơ cấu
tổ chức đơn giản. Số lượng nhân viên ít và các nhân viên này thường phải đảm
nhận cơng việc theo kiểu đa năng. Phần lớn các chủ doanh nghiệp vừa phải đảm
nhận vai trò quản trị (điều hành và chỉ huy nhân viên của mình) vừa phải đảm
nhiệm vai trò lãnh đạo (tìm kiếm và quyết định cơ hội đầu tư). Mặt khác, vốn
của thành phần kinh tế này là do những chủ thể kinh doanh tình nguyện đóng
góp, do các cổ đơng đóng góp hay do liên doanh liên kết… bằng tiền hoặc tài
sản. Vì thế họ có tồn quyền quyết định nghành nghề kinh doanh phù hợp vơí
khả năng, trình độ cũng như nhu cầu của thị trường đối với loại hàng hố mà họ
sẽ kinh doanh… Mặc dù quy mơ hoạt động khá nhỏ bé, song đó lại là một lợi
thế cho các doanh nghiệp ngồi quốc doanh tăng vòng quay vốn, nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn… Trong khi đó, mặc dù các doanh nghiệp có nguồn vốn lớn,
ổn định từ Nhà nước nhưng lại khơng có quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh, do đó khơng có sự linh động sáng tạo, phản ứng kịp thời với những biến
động của thị trường… Do vậy cơ cấu chung của các doanh nghiệp ngồi quốc
doanh thường đơn giản, gọn nhẹ, mang tính linh hoạt, dễ thay đổi cho phù hợp
với u cầu mới.
• Chi phí gián tiếp thấp:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
Đặc điểm của một doanh nghiệp ngồi quốc doanh là một người chủ và
một số nhân viên làm việc khơng thường xun, giúp cho chi phí thấp. Chi phí
gián tiếp thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá của các sản phẩm cuối cùng. Chủ
doanh nghiệp có tinh thần trách nhiệm cao vì lợi ích của họ gắn liền với sự
thành bại của doanh nghiệp. Cũng chính vì vậy họ đòi hỏi nhân viên của họ làm
việc nghiêm túc và hiệu quả, giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực vẫn thường gặp ở
các doanh nghiệp quốc doanh. Đồng thời khu vực kinh tế này cũng tạo nên sức
hút đối với phần đơng dân cư trong việc cung ứng các đồng tiền nhàn rỗi vào
sản xuất kinh doanh, tạo nên sức sống cho nền kinh tế.
Rõ ràng là phát triển kinh tế khu vực ngồi quốc doanh là phù hợp với
điều kiện và khả năng về vốn, kỹ thuật cũng như trình độ quản lý của các nhà
đầu tư trong nước. Đồng thời nó có khả năng linh hoạt và dễ điều chỉnh hơn so
với các doanh nghiệp có quy mơ lớn trong nền kinh tế thị trường hiện nay của
Việt nam. Do vậy khối lượng vốn để hỗ trợ cho từng doanh nghiệp sẽ khơng lớn,
hiệu quả sử dụng vốn cao và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tuy nhiên thành phần kinh tế ngồi quốc doanh cũng có khơng ít những
mặt hạn chế của nó.
• Khả năng tài chính còn nhỏ bé
Vốn ln là khó khăn lớn nhất với sự tăng trưởng của doanh nghiệp ngồi
quốc doanh. Trong giai đoạn đầu, phần lớn các doanh nghiệp ngồi quốc doanh
đều gặp phải vấn đề thiếu vốn. Các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ
cho các doanh nghiệp ngồi quốc doanh này vì họ chưa có q trình kinh doanh,
chưa có uy tín và chưa thể tạo lập khả năng trả nợ. Do vậy, các doanh nghiệp
ngồi quốc doanh phần lớn phải dựa vào nguốn vốn phi chính thức từ bạn bè, họ
hàng hay thu hút vốn qua hình thức mua bán chịu… Việc mở rộng doanh nghiệp
ln bị ngăn cản bởi sự hạn hẹp về nguồn vốn.
• Thiếu khả năng quản lý, đặc biệt trong việc lập kế hoạch tài chính:
Việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng phương án sản xuất có hiệu quả phụ thuộc
vào nhiều nhân tố như: trình độ, khả năng quản lý kinh doanh của các chủ doanh
nghiệp, khả năng dự đốn về sự biến động của nghành, của nền kinh tế… do vậy
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
các doanh nghiệp ngồi quốc doanh khó có thể xây dựng được kế hoạch tài
chính, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, trong khi thói quen sử dụng các
dịch vụ tư vấn mang tính chun nghiệp chưa hình thành. Trong các doanh
nghiệp tư nhân, đa số quản trị bằng kinh nghiệm theo suy nghĩ hiểu biết của
riêng mình. Nhiều người trong số họ chưa qua đào tạo trường lớp nên ít hiểu về
pháp luật, yếu kém về năng lực và kiến thức.
Các sổ sách kế tốn ở các doang nghiệp ngồi quốc đoanh thường q
đơn giản, khơng cập nhật, khơng đầy đủ và thiếu chính xác. Do vậy việc đánh
giá doanh nghiệp thơng qua phân tích tài chính (để quyết định cho vay) thực sự
khó khăn đối với ngân hàng, nhất là hiện nay hầu hết các sổ sách của doanh
nghiệp đều chưa qua kiểm tốn.
• Trình độ cơng nghệ sản xuất chưa phát triển:
Trình độ cơng nghệ là yếu tố quyết định đến năng suất, chất lượng và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Hiện tại các doanh nghiệp ngồi
quốc doanh có cơng nghệ hiện đại khơng nhiều, chỉ có một số cơng ty liên
doanh, cơng ty có vốn đầu tư nước ngồi được trang bị máy móc và dây truyền
tiến tiến, còn lại là sử dụng các cơng cụ thủ cơng, dây truyền thiết bị chắp vá,
thiếu đồng bộ. Mặc dù việc áp dụng cơng nghệ kỹ thuật mới vào dây truyền sản
xuất là vơ cùng quan trọng nhưng họ sợ phảI đầu tư vốn lớn và sợ giá thành sản
phẩm cao.
• Mơi trường sản xuất kinh doanh chưa ổn định:
Nền kinh tế kế hoạch hố tập trung đã làm cho nền kinh tế nước ta trì trệ,
khơng tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế nói chung và kinh tế ngồi
quốc doanh nói riêng. Trong q trình chuyển sang nền kinh tế vận hành theo cơ
chế thị trường, các thể chế kinh tế và pháp lý chưa được xác lập, phát triển và
hồn thiện một cách đầy đủ nên đã ảnh hưởng rất lớn tới phương hướng sản xuất
kinh doanh và chiến lược đầu tư.
3. Vai trò của kinh tế ngồi quốc doanh đối với nền kinh tế nước ta
Trong cơ chế mới, khu vực kinh tế ngồi quốc doanh đã được phục hồi
dần, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế có khả năng cạnh tranh bình đẳng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
trên thị trường. Với tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo, kinh tế quốc doanh đã
sớm thích nghi với những biến đổi thường xun của thị trường, đóng góp
khơng nhỏ cho nền kinh tế và ngày càng khẳng định vai trò khơng thể thiếu
được của mình trong nền kinh tế.
Thứ nhất, kinh tế ngồi quốc doanh phát triển tạo điều kiện thu hút lao
động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội.
Như chúng ta đã biết khu vực kinh tế ngồi quốc doanh với quy mơ vốn
đầu tư khơng nhiều có thể dễ dàng thành lập bởi một số cá nhân, gia đình hay
một số tổ chức, cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương ứng nhiều lao
động vì đây là nơi cung cấp việc nhanh nhất, giúp tạo việc làm với số vốn thấp
hơn nhiều so với các doanh nghiệp có quy mơ lớn.
Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, kinh doanh tư nhân, cá thể phát
triển nhanh chóng cả về chất lượng, số lượng cũng như quy mơ hoạt động, thu
hút ngày càng nhiều đầu tư trong dân cư vào mọi lĩnh vực sản xuất vật chất và
dịch vụ.
Trong những năm gần đây, cùng với số lao động đước giải quyết việc làm
bằng vốn đầu tư của ngân sách Nhà nước, đã có thêm khá nhiều lao động có
thêm việc làm do các đơn vị tư nhân bỏ vốn vào lao động kinh doanh. Hàng năm
có khoảng hơn một triệu lao động có việc làm được tạo ra chủ yếu nhờ khu vực
kinh tế này.
Thứ hai, kinh tế ngồi quốc doanh tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, là động
lực phát triển của nền kinh tế.
Trước đây hầu hết các lĩnh vực kinh tế, các nghành nghề sản xuất kinh
doanh đều do khu vực kinh tế quốc doanh đảm nhận. Hiện nay, trừ một số ít các
lĩnh vực, nghành nghề mà Nhà nước giữ vai trò độc quyền, còn lại hầu hết các
lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có sự tham gia của khu vực kinh tế ngồi quốc
doanh với mức độ ngày càng lớn. Sự phát triển của kinh tế ngồi quốc doanh đã
tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp Nhà nước, buộc các doanh nghiệp này
phải đổi mới cơng nghệ, đổi mới phương thức kinh doanh để tồn tại và đứng
vững trong cơ chế thị trường. Nói cách khác, kinh tế ngồi quốc doanh phát triển
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
đã thúc đẩy kinh tế quốc doanh phát triển mạnh mẽ hơn thơng qua cạnh tranh
lành mạnh, làm cho nền kinh tế năng động hơn. Như vậy, sự phát triển của khu
vực kinh tế ngồi quốc doanh đã góp phần quan trọng hình thành và xác lập vị
trí của các chủ thể sản xuất kinh doanh theo u cầu của cơ chế thị trường, đẩy
nhanh việc hình thành nền kinh tế nhiều thành phần, thúc đẩy cải cách doanh
nghiệp Nhà nước, cải tổ cơ chế quản lý theo hướng thị trường, mở cửa hợp tác
với bên ngồi, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ ba, kinh tế ngồi quốc doanh phát triển góp phần tăng thu ngân sách
cho Nhà nước.
Sản xuất kinh doanh phát triển là tiền đề tạo ra nguồn thu cho ngân sách
Nhà nước. Do vậy để tăng nguồn thu cho ngân sách, biện pháp quan trọng nhất
là khơng ngừng phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Khu vực kinh tế ngồi
quốc doanh tồn tại và phát triển là một bộ phận đóng góp to lớn cho ngân sách
Nhà nước (khoảng 30%) thơng qua thuế và các khoản khác. Nguồn này sẽ được
dùng để đầu tư cho các nghành kinh tế mũi nhọn hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng
hay giúp đỡ hỗ trợ một số nghành kinh tế yếu kém. Nói cách khác, khu vực kinh
tế ngồi quốc doanh có vai trò điều hồ thu nhập cũng như đóng góp vào ngân
sách Nhà nước.
Thứ tư, khu vực kinh tế ngồi quốc doanh đóng góp cho nền kinh tế một
khối lưọng lớn hàng hố, dịch vụ phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Sự phát triển của khu vực kinh tế ngồi quốc doanh đa dạng về nghành
nghề, quy mơ và hình thức kinh doanh đã góp phần to lớn trong việc lấp chỗ
trống cho những thiếu hụt từ kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư
nước ngồi, tạo ra sức sống cho nền kinh tế.
Bằng việc sản xuất hàng hố, khu vực kinh tế ngồi quốc doanh đã góp
phần to lớn vào việc tạo ra sự phong phú về chủng loại hàng hố, nâng cao chất
lượng sản phẩm, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân. Do đó cơ
hội lựa chọn hàng hố và dịch vụ của người dân tăng lên và các doanh nghiệp
phải ra sức cạnh tranh với nhau để có thể tiêu thụ sản phẩm của mình nhiều
nhất. Để thắng trong cạnh tranh, các doanh nghiệp ngồi quốc doanh ln tìm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
cách nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phi để từ đó giảm giá thành.
Thứ năm, kinh tế ngồi quốc doanh là thị trường để ngân hàng huy động
vốn, góp phần ổn định lưu thơng tiền tệ.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh tế ngồi quốc doanh ngày càng phát
triển đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân và cá thể. Kinh tế ngồi quốc doanh đã
phát triển nhanh chóng cả về quy mơ lẫn chất lượng. Tính đến tháng 12 năm
2001, cả nước có khoảng 36.000 doanh ngiệp ngồi quốc doanh. Hầu hết các
doanh nghiệp đều hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân, cơng ty
TNHH, cơng ty cổ phần… Các nhà sản xuất đều mở tài khoản tiền gửi tại hệ
thống Ngân hàng thương mại. Đây có thể coi là nguồn vốn rẻ và dồi dào cho
việc huy động vốn của ngân hàng thương mại nếu họ biết tổ chức tốt cơng tác
thanh tốn, tạo ra nhiều dịch vụ hơn và thay đổi phong cách làm việc với khách
hàng… Với sự phát triển ngày càng mạnh của kinh tế ngồi quốc doanh thì nhu
cầu về vốn ngày càng tăng và thị trường hoạt động tín dụng của các ngân hàng
càng được mở rộng, đồng thời đẩy mạnh hoạt động của các nghiệp vụ ngân hàng
khác.
II. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI KINH TẾ NGỒI QUỐC
DOANH
1. Tín dụng ngân hàng
1.1. Khái niệm.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân
hàng- một tổ chức chun kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, với một bên là các
chủ thể còn lại của nền kinh tế, trong đó ngân hàng vừa là người đi vay vừa là
người cho vay. Như vậy nói đến tín dụng ngân hàng là đề cập đến cả “đi vay” và
“cho vay”. Tuy nhiên trên thực tế, do tính chất phức tạp của hoạt động ngân
hàng, nên hoạt động đi vay hay nói cách khác là hoạt động nhận tiền gửi được
gọi là hoạt động huy động vốn do bộ phận Nguồn vốn thực hiện. Còn hoạt động
cho vay được đảm nhận bởi bộ phận Tín dụng. Từ đó người ta đã đưa ra một
khái niệm khác về tín dụng ngân hàng là:
“Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, trong đó ngân
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã hội,
trên ngun tắc người đi vay sẽ hồn trả cả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác
định trong tương lai như hai bên đã thoả thuận”.
1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng.
TDNH được cấu thành nên từ sự kết hợp của ba yếu tố chính là: lòng tin
(sự tin tưởng vào khả năng hồn trả đầy đủ và đúng thời hạn của người cho vay
đối với người đi vay); thời hạn của quan hệ tín dụng, sự hứa hẹn hồn trả cụ thể
như sau:
Thứ nhất là lòng tin: Trong quan hệ tín dụng “lòng tin” được biểu hiện từ
nhiều phía, khơng chỉ có lòng tin từ một phía người cho vay đối với người đi
vay. Nếu người cho vay khơng tin tưởng vào khả năng hồn trả của người đi vay
thì quan hệ tín dụng có thể khơng phát sinh và ngược lại, nếu người đi vay cảm
nhận thấy người cho vay khơng thể đáp ứng được u cầu về khối lượng tín
dụng, về thời hạn… thì quan hệ tín dụng cũng khơng phát sinh. Tuy nhiên, trong
quan hệ tín dụng lòng tin của người cho vay đối với người đi vay quan trọng hơn
niều bởi lẽ người cho vay là người giao phó tiền bạc hoặc tài sản của họ cho
người khác sử dụng.
Thứ hai là tính thời hạn: Khác với các quan hệ mua bán thơng thường
khác, quan hệ tín dụng chỉ trao đổi quyền sử dụng giá trị khoản vay chứ khơng
trao đổi giá trị khoản vay. Người cho vay giao giá trị khoản vay dưới dạng hàng
hố hay tiền tệ cho người kia sử dụng trong một thời gian nhất định. Sau khi
khai thác giá trị sử dụng của khoản vay trong thời hạn cam kết, người đi vay
phải hồn trả tồn bộ giá tri khoản vay cộng thêm khoản lợi tức hợp lý kèm theo
như cam kết đã giao ước với người cho vay.
Mọi khoản vay dưới dạng hiện vật hay tiền tệ cũng đều là hàng hố và vì
nó cũng có giá trị và giá trị sử dụng. Trong kinh doanh tín dụng người cho vay
chỉ bán “giá trị quyền sử dụng của khoản vay” chứ khơng bán “giá trị của khoản
vay”, nên sau khi hết thời hạn sử dụng theo cam kết, khoản vay đó được hồn trả
về và vẫn giữ ngun giá trị của nó, phần lợi tức theo thoả thuận nếu có là “giá
bán” quyền sử dụng khoản vay trong thời hạn nhất định. Như vậy, khối lượng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
hàng hố hay tiền tệ (phần gốc) cho vay ban đầu chỉ là vật chun chở giá trị sử
dụng của chúng, nó được phát ra qua các thời kỳ nhất định rồi sẽ thu về chứ
khơng bán đứt .
Thứ ba là tính hồn trả: đây là đặc trưng thuộc về bản chất vận động của
tín dụng và là dấu ấn để phân biệt phạm trù tín dụng với các phạm trù tín dụng
khác. Sau khi kết thúc một vòng tuần hồn của tín dụng, hồn thành một chu kỳ
sản xuất trở về trạng thái tiền tệ, vốn tín dụng được người đi vay kèm theo một
phần lãi như đã thoả thuận.
Mối quan hệ tín dụng được gọi là hồn hảo nếu được thực hiện với đầy đủ
các đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hồn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng
thời hạn.
1.3. Bản chất và chức năng của khoản vay
Tín dụng ngân hàng có hai chức năng cơ bản sau:
- Cho vay vốn đối với các chủ thể còn lại của nền kinh tế trên ngun
tắc hồn trả cả gốc và lãi đúng hạn.
- Kiểm sốt các hoạt động kinh tế thơng qua quan hê tín dụng với các tổ
chức và cá nhân.
2. Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều loại tín dụng khác nhau tuỳ theo tiêu thức phân chia, như phân
chia theo đối tượng quan hệ tín dụng, phân chia theo kỳ hạn, mục đích sử dụng
vốn vay, theo hình thức bảo đảm…
• Phân loại theo đối tượng quan hệ tín dụng.
- Tín dụng đối với kinh tế quốc doanh: Là loại tín dụng liên quan đến
các chủ thể là thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với kinh tế ngồi quốc doanh: Là loại tín dụng mà chủ
thể đi vay là thàmh phần kinh tế ngồi quốc doanh, bao gồm các doanh nghiệp
tư nhân, cơng ty TNHH, cơng ty cổ phần, hợp tác xã và các hộ kinh doanh cá
thể, dân cư.
• Phân loại theo mục đích sử dụng.
- Tín dụng đối với bất động sản: Là loại tín dụng liên quan đến việc mua
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
bán và xây dựng nhà ở, đất đai…
- Tín dụng cơng nghiệp và thương mại: Là loại tín dụng ngắn hạn hoặc
dài hạn để bổ sung vốn ngắn hạn hoặc trung dài hạn cho các doanh nghiệp trong
lĩnh vực cơng nghiệp thương mại và dịch vụ.
- Tín dụng nơng nghiệp: Là loại tín dụng để trang trải các chi phí sản
xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động,
nhiên liệu…
- Các loại tín dụng khác.
• Phân loại theo thời hạn:
- Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng và được sử
dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu
chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Đối với Ngân hàng thương mại tín dụng cá nhân
chiếm tỷ trọng cao.
- Tín dụng trung hạn: Thời hạn của tín dụng trung hạn thường là khơng
cố định. Trước đây thời hạn mà NHNN đưa ra đối với tín dụng trung hạn là 1-3
năm. Tuy nhiên đến nay, để đáp ứng u cầu vay của doanh nghiệp, các Ngân
hàng thương mại đã đưa thời hạn này lên 5 năm. Việc nâng thời hạn tín dụng lên
5 năm đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp vì đối với một số tài sản cố
định có thời hạn sử dụng tương đối dài nên cầu phải có thời gian đủ lớn doanh
nghiệp mới có thể hồn trả gốc và lãi cho Ngân hàng và sẽ giúp doanh nghiệp
tránh rơi vào tình trạng nợ q hạn. Còn đối với các nước khác trên thế giới thời
hạn này lên tới 7 năm.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn của nó dài hơn đối với
tín dụng trung hạn. Loại tín dụng này được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài
hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận tải có quy mơ lớn,
xây dựng các xí nghiệp, nhà máy lớn, các dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng…
Ngồi ra còn có nhiều cách phân loại khác như: Phân loại theo phương
thức hồn trả, phân loại theo xuất xứ món vay, theo hình thái giá trị…
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
3. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với kinh tế ngồi quốc doanh
Đối với các doanh nghiệp ngồi quốc doanh hiện nay, vốn vẫn ln là vấn
đề gây khó khăn nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, tình trạng
thiếu vốn của các doanh nghiệp là phổ biến và nghiệm trọng. Để giải quyết vấn
đề này. doanh nghiệp có hai cách: Thứ nhất là tự bản thân doanh nghiệp huy
động vốn trên thị trường thơng qua con đường phát hành cổ phiếu và trái phiếu.
Thứ hai là vay vốn ở các ngân hàng thương mại. Đối với kinh tế ngồi quốc
doanh thì phương thức thứ nhất hầu như khơng thể thực hiện được. Vì một
doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu, trái phiếu thì bản thân doanh nghiệp
phải có quy mơ lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có uy tín trên thị trường.
Trong khi đó các doanh nghiệp ngồi quốc doanh của ta lại thiếu tới hai trong ba
điều kiện trên. Chính vì lẽ đó, đối với kinh tế ngồi quốc doanh, tín dụng ngân
hàng ln được coi là một điểm tựa vững chắc để đáp ứng các u cầu đầu tư
cho sản xuất kinh doanh, phát huy vai trò của mình đối với nền kinh tế. Nhìn
chung tín dụng ngân hàng có một số vai trò cơ bản sau:
• Tín dụng ngân hàng đảm bảo cho q trình hoạt động kinh doanh của
các doanh nghiệp ngồi quốc doanh diễn ra liên tục.
Do nguồn vốn của các doanh nghiệp ngồi quốc doanh chủ yếu là vốn tự
có và hầu như vốn của họ nằm dưới dạng máy móc, thiết bị, nhà xưởng vì vậy
khi tiến hành hoạt động sản xt hay đầu tư mở rộng thì các doanh nghiệp này
cần tới sự hỗ trợ từ bên ngồi. Do đó các ngân hàng thương mại với vai trò là
“bà đỡ của nền kinh tế” có trách nhiệm giúp đỡ các doanh nghiệp ngồi quốc
doanh khắc phục nhược điểm này. Với nguồn vốn huy động được từ các thành
phần kinh tế, thơng qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại có thể
đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp miễn là các doanh nghiệp
có đáp ứngđược các điều kiện cho vay của ngân hàng. Như vậy,tín dụng ngân
hàng đã đảm bảo cho q trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
khơng bị ngưng trệ.
• Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp ngồi quốc doanh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét