Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng vốn lưu động

CHƯƠNG I
VỐNLƯUĐỘNGVÀMỘTSỐBIỆNPHÁPNÂNGCAOHIỆUQUẢ
SỬDỤNGVỐNLƯUĐỘNGCỦADOANHNGHIỆP
I.
VỐNLƯUĐỘNGVÀNGUỐNVỐNLƯUĐỘNGCỦADOANHNGHIỆPTRONGNỀNKINH
TẾTHỊTRƯỜNG
1. Vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1. Vốn lưu động, nội dung vốn lưu động của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần có 3 yếu tố : tư
liệu lao động (TLLĐ), đối tượng lao động (ĐTLĐ) và sức lao động (SLĐ). Khác
với các TLLĐ, ĐTLĐ (như nguyên vật liệu, bán thành phẩm ) chỉ tham gia vào
một chu kì sản xuất và không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của
nóđược chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm.
Những ĐTLĐ nói trên, nếu xét về hình thái biểu hiện trong quá trình sản
xuất kinh doanh được coi là các TSLĐ. Trong các doanh nghiệp, TSLĐđược
chia thành TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
- TSLĐ sản xuất bao gồm các ĐTLĐ như nguyên nhiên vật liệu và các tư
liệu dự trữ cho sản xuất, các sản phẩm dở dang.
- TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các
loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán.
Đối với doanh nghiệp thương mại, dịch vụ thuần tuý chỉ có TSLĐ lưu
thông không có TSLĐ sản xuất.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu
thông luôn vận động thay thế và chuyển hoá lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình
sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục và thuận lợi.
5
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá - tiền tệ, để hình thành các TSLĐ
sản xuất và TSLĐ lưu thông, các doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư
ban đầu nhất định. Số vốn ứng trước này được gọi là vốn lưu động(VLĐ) của
doanh nghiệp. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VLĐ của doanh nghiệp
luôn vận động, thay đổi hình thái biểu hiện và trải qua 3 giai đoạn :
Sự vận động của VLĐ qua các giai đoạn được mô tả theo sơđồ sau :
T - H (SX) H
'
- T
'
(đối với các doanh nghiệp sản xuất)
T - H - T

(đối với các doanh nghiệp thương mại)
Trong đó : T
'
= T + ∆T
Sự vận động của VLĐ trải qua các giai đoạn và chuyển hoá từ hình thái
ban đầu là tiền tệ sang hình thái vật tư hàng hoá và cuối cùng quay trở lại hình
thái tiền tệ gọi là sự tuần hoàn của VLĐ. Quá trình này diễn ra liên tục và lặp đi
lặp lại có tính chất chu kỳ nên còn gọi quá trình chu chuyển của VLĐ. Sau mỗi
chu kỳ sản xuất, VLĐ hoàn thành một vòng luân chuyển.
Do quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách
thường xuyên, liên tục nên VLĐ cũng vận động không ngừng tạo ra sự chu
chuyển vốn và tại mọi thời điểmVLĐ có thể cùng tồn tại dưới nhiều hình thức
khác nhau, cả trong sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Từ những phân tích ở trên ra có thể rút ra : VLĐ của doanh nghiệp là số
tiền ứng ra để hình thành nên TSLĐ của doanh nghiệp, đảm bảo cho quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường
xuyên, liên tục và trong quá trình chu chuyển, giá trị của VLĐđược chuyển dịch
toàn bộ một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm.
1.2 Phân loại VLĐ của doanh nghiệp
Để quản lý và sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phần loại VLĐ của doanh
nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Có những cách phân loại sau:
Dựa vào hình thái biểu hiện, VLĐđược chia thành 2 loại :
- Vốn bằng tiền:
6
Là bộ phận VLĐ không biểu hiện bằng hình thái hiện vật.Vốn bằng tiền
gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản phải thu,
các khoản đầu tư chứng khoán ngắn hạn.
- Vốn vật tư, hàng hoá:
Là bộ phận VLĐ biểu hiện dưới hình thái hiện vật trong doanh nghiệp.
Vốn vật tư, hàng hoá bao gồm : nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán
thành phẩm, thành phẩm.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có cơ sởđể tính toán kiểm tra
kết cấu tối ưu của VLĐđể dự thảo những quyết định tối ưu về mức tận dụng số
VLĐđã bỏ ra. Mặt khác, nó cũng là cơ sởđể doanh nghiệp đánh giá khả năng
thanh toán của mình.
Dựa vào vai trò của VLĐ suốt quá trình sản xuất kinh doanh có thể chia
VLĐ thành 3 loại :
- VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất :
Bao gồm giá trị các khoản nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu,
động lực, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ.
- VLĐ trong khâu sản xuất :
Bao gồm các khoản giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản
chi phí chờ kết chuyển.
- VLĐ trong khâu lưu thông :
Bao gồm các khoản giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền (kể cả vàng bạc, đá
quý ); các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn ) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn; các khoản vốn trong
thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng ).
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp xem xét đánh giá tình hình
phân bổ VLĐ trong các khâu của quá trình chu chuyển VLĐ, từđóđề ra các biện
pháp tổ chức quản lý thích hợp.
1.3 Kết cấu VLĐ và các nhân tốảnh hưởng :
7
1.3.1. Kết cấu VLĐ
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa thành
phần VLĐ chiếm trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.
Việc phân tích kết cấu VLĐ giúp cho doanh nghiệp thấy được tình hình
phân bổ và tỷ trọng của mỗi khoản vốn trong quá trình sản xuất. Từđó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp với
điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, với việc thay đổi kết cấu VLĐ
trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hay
những hạn chế về mặt chất lượng trong công tác quản lý VLĐ của từng doanh
nghiệp.
1.3.2. Các nhân tốảnh hưởng đến kết cấu của VLĐ.
Các nhân tốảnh hưởng đến kết cấu VLĐ của doanh nghiệp có nhiều loại,
có thể chia thành 3 nhóm chính :
- Nhóm nhân tố về mặt sản xuất :
+ Chu kỳ sản phẩm cóảnh hưởng rất lớn đến tỷ trọng vốn sản phẩm dở
dang. Nếu chu kỳ sản phẩm càng dài thì lượng vốn ứng ra cho sản phẩm dở
dang càng lớn và ngược lại.
+ Đặc điểm của quy trình công nghệ và của sản phẩm. Nếu sản phẩm
càng phức tạp thì lượng vốn ứng ra sẽ cao hơn.
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất cóảnh hưởng đến sự khác nhau về tỷ trọng
VLĐ bỏ vào khâu dự trữ và khâu sản xuất. Nếu doanh nghiệp tổ chức sản xuất
đồng bộ, phối hợp được khâu cung cấp và sản xuất một cách hợp lý sẽ giảm bớt
được một lượng dự trữ vật tư sản phẩm dở dang.
- Nhóm nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm :
+ Khoảng cách giữa doanh nghiệp với đơn vị cung ứng vật tư, khoảng
cách giữa doanh nghiệp với người mua hàng. Khoảng cách càng xa thì việc dự
trữ vật tư, thành phẩm càng lớn.
+ Điều kiện và phương tiện giao thông vận tải cũng có sựảnh hưởng đến
vốn vật tư, thành phẩm dự trữ. Nếu như thuận lợi thì dự trữít và ngược lại.
8
+ Khả năng cung cấp của thị trường : Nếu là loại vật tư khan hiếm thì cần
phải dự trữ nhiều và ngược lại.
+ Hợp đồng cung cấp hoặc hợp đồng về tiêu thụ sản phẩm : Tuỳ thuộc
vào kỳ hạn cung cấp và giao hàng, số lượng vật tư nhập và xuất, nếu việc cung
cấp thường xuyên thì dự trữít hơn.
- Nhóm nhân tố về mặt thanh toán :
+ Phương thức thanh toán hợp lý, giải quyết thanh toán kịp thời thì sẽ làm
giảm tỷ trọng vốn phải thu.
+ Tình hình quản lý khoản phải thu của doanh nghiệp và việc chấp hành
kỷ luật thanh toán của khách hàng sẽảnh hưởng đến vốn phải thu. Nếu vốn phải
thu lớn thì khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp sẽ khó khăn dẫn đến tình
trạng khả năng trả nợ của doanh nghiệp sẽ kém.
Ngoài các nhân tố kể trên, kết cấu VLĐ còn chịu ảnh hưởng bởi tính chất
thời vụ của sản xuất, trình độ tổ chức và quản lý
2. Nguốn vốn lưu động của doanh nghiệp
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh VCĐ, doanh
nghiệp cần phải có một lượng VLĐ thường xuyên cần thiết. VLĐđược hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau. Sau đây là một số nguồn chủ yếu.
2.1. Căn cứ theo quan hệ sở hữu về vốn
Theo cách này người ta chia VLĐ thành 2 loại:
- Vốn chủ sở hữu :
Là số VLĐ thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
cóđầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối vàđịnh đoạt, bao gồm: Vốn điều lệ do
chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh nghiệp,
vốn do Nhà nước tài trợ (nếu có). Vốn chủ sở hữu được xác định là phần vốn
còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừđi toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả :
9
Là số vốn thuộc quyền sở hữu của các chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp
có quyền sử dụng, chi phối trong một thời hạn nhất định. Nợ của doanh nghiệp
thường bao gồm 2 bộ phận: Nợ chiếm dụng ( các khoản vốn trong thanh toán mà
doanh nghiệp được sử dụng một cách hợp pháp khi chưa tới kỳ hạn) và nợ tín
dụng ( các khoản vốn vay từ các chủ thể khác như : ngân hàng, các tổ chức tài
chính- tín dụng, các doanh nghiệp khác).
Cách phân loại này giúp doanh nghiệp có biện pháp quản lý VLĐ một
cách chặt chẽ. Từđó xác địnhh được đâu là nguồn VLĐ phải trả lãi từđó có kế
hoạch sử dụng VLĐ một cách có hiệu quả.
2.2. Căn cứ theo nguồn hình thành VLĐ
- Nguồn vốn điều lệ : Phản ánh số vốn do các chủ sở hữu của doanh
nghiệp bỏ ra, gồm có : Vốn NS cấp (với DNNN); vốn cổ phần, vốn do chủ
doanh nghiệp bỏ ra
- Nguồn vốn tự bổ sung : Phản ánh số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung,
chủ yếu từ lợi nhuận để lại nhằm đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất.
- Nguồn vốn liên doanh, liên kết : Là số VLĐđược hình thành từ vốn góp
liên doanh của bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn góp liên doanh có
thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật là vật tư, hàng hoá.
- Nguồn vốn tín dụng : Là số vốn vay của các ngân hàng thương mại hoặc
các tổ chức tín dụng, vay bằng việc phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn chiếm dụng : Phản ánh số vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng
một cách hợp pháp của các chủ thể khác trong nền kinh tế, phát sinh trong quan
hệ thanh toán như phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách Đây là nguồn
vốn doanh nghiệp có thể tạm thời sử dụng mà không phải trả chi phí sử dụng
vốn. Do đó, doanh nghiệp nên tận dụng tối đa nguồn vốn này.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn tài trợ
cho nhu cầu VLĐ. Từđó lựa chọn cơ cấu nguồn tài trợ tối ưu nhằm giảm thấp
chi phí sử dụng vốn.
2.3. Căn cứ theo thời gian huy động vốn và sử dụng vốn
10
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên :
Là nguồn vốn có tính chất ổn định nhằm hình thành nên TSLĐ thường
xuyên cần thiết. TSLĐ thường xuyên này bao gồm các khoản dự trữ về nguyên
vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm. Nguồn VLĐ thường xuyên càng lớn
doanh nghiệp càng chủđộng trong tổ chức, đảm bảo vốn cho doanh nghiệp.
- Nguồn VLĐ tạm thời :
Là nguồn có tính chất ngắn hạn dưới 01 năm, chủ yếu nhằm đáp ứng các
nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm khoản nợ vay ngắn hạn ngân
hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp quản lý xem xét hoạt động của
các nguồn VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ
chức và sử dụng VLĐ. Ngoài ra, nó còn giúp cho nhà quản lý lập các kế hoạch
tài chính hình thành nên những dựđịnh về tổ chức nguồn VLĐ trong tương lai.
Trên cơ sởđó xác định quy mô, số lượng VLĐ cần thiết để lựa chọn nguồn VLĐ
nào mang hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
Mỗi cách phân loại vốn nêu trên có những ưu và nhược điểm riêng, do
vậy người quản lý phải thận trọng suy xét trước khi lựa chọn hình thức huy động
sao cho chi phí sử dụng vốn thấp nhất, khả năng rủi ro nhỏ nhất và hiệu quả kinh
tế mang lại là lớn nhất. Từ việc nghiên cứu các phương pháp phân loại vốn lưu
động: các doanh nghiệp hiện nay một mặt cần tăng cường quản lý và sử dụng có
hiệu quả vốn hiện có, mặt khác cần phải chủđộng tổ chức khai thác các nguồn
vốn đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
II. SỰCẦNTHIẾTPHẢINÂNGCAOHIỆUQUẢTỔCHỨC,
SỬDỤNGVỐNLƯUĐỘNGCỦADOANHNGHIỆPTRONGNỀNKINHTẾTHỊTRƯỜNG
1. Ý nghĩa của việc phải nâng cao hiệu quả tổ chức, sử dụng VLĐ trong
doanh nghiệp.
11
Điểm xuất phát của quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
là phải có một lượng vốn nhất định và nguồn tài trợ tương ứng, không có vốn sẽ
không có bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Song việc sử dụng vốn như
thế nào cho có hiệu quả mới là nhân tố quyết định cho sự tăng trưởng và phát
triển của mỗi doanh nghiệp. Quản lý VLĐ là một bộ phận trọng yếu của công
tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý VLĐ không những đảm bảo sử
dụng VLĐ hợp lý tiết kiệm mà còn cóý nghĩa quan trọng trong việc giảm chi
phí, hạ giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí bảo quản, đồng thời thúc đẩy tiêu
thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách kịp thời. Vì vậy, kết quả hoạt
động của doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn là do chất lượng quản lý VLĐ
quyết định.
Trước đây, trong cơ chế bao cấp, các doanh nghiệp quốc doanh được Nhà
nước bao cấp vốn hoặc cho vay với lãi suất ưu đãi, bao cấp về giá, sản xuất kinh
doanh theo chỉ tiêu pháp lệnh, lỗđã có Nhà nước bù, lãi Nhà nước thu Do đó,
công tác quản lý sử dụng vốn trong các doanh nghiệp quốc doanh không được
quan tâm đúng mức, vai trò của vốn bị xem nhẹ, vì vậy hiệu quả sử dụng vốn
thấp.
Từ sau Đại hội Đảng Việt Nam Khoá VI, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng
định nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh
tế thị trường với đa thành phần kinh tế tham gia có sự quản lý vĩ mô của Nhà
nước theo định hướng XHCN.
12
Doanh nghiệp Nhà nước trong cơ chế thị trường làđơn vị hạch toán kinh
doanh độc lập, nơi trực tiếp sử dụng và khai thác mọi khả năng để sản xuất kinh
doanh hàng hoá sản phẩm, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã
hội và tích luỹ cho nền kinh tế. Kinh tế thị trường đãđem lại sựđa dạng hoá về
loại hình sản phẩm, sự phong phú về loại hình doanh nghiệp Cùng với nó là sự
cạnh tranh khốc liệt, doanh nghiệp nào không đủ khả năng cạnh tranh sẽ phải rút
lui, phải phá sản. Với tình hình như vậy, đòi hỏi mỗi đồng vốn tạo ra đều phải
sinh lợi. Ngoài VCĐ, việc nâng cao hiệu quả tổ chức và sử dụng VLĐ sẽ mang
lại hiệu quả cho doanh nghiệp, điều đó xuất phát từ những lý do sau :
Một là : Xuất phát từ vai trò vị trí của VLĐ trong quá trình sản xuất kinh
doanh. VLĐ là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh. Do đó, việc nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ cũng sẽ làm hiệu quả vốn sản xuất kinh doanh tăng lên.
Doanh nghiệp nào thiếu vốn thì việc chuyển hoá hình thái sẽ gặp nhiều khókhăn,
VLĐ cũng không luân chuyển và quá trình sản xuất sẽ bị gián đoạn. Sự vận
động của VLĐ phản ánh sự vận động của vật tư hàng hoá, số VLĐ nhiều hay ít
phản ánh số vốn dự trữở các khâu nhiều hay ít. VLĐ luân chuyển nhanh hay
chậm phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm
trên các giai đoạn luận chuyển có hợp lý hay không. Từđó có thể kiểm tra một
cách toàn diện đối với các mặt mua sắm dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Mặt khác, với vai trò là vốn luân chuyển, vốn luân chuyển
giúp tổ chức tốt quá trình mua hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực lưu
thông. Sử dụng VLĐ hợp lý cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các
TSCĐ thuộc VCĐ, làm tăng lợi nhuận, góp phần làm tốt công tác bảo toàn và
phát triển vốn kinh doanh.Vì vậy, việc quản lý bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử
dụng VLĐ là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp
13
Hai là: Xuất phát từđặc điểm chu chuyển của VLĐ là luân chuyển nhanh
cho phép sử dụng linh hoạt trong quá trình sản xuất kinh doanh từđó tạo ra nhiều
khối lượng sản phẩm lớn cho các doanh nghiệp. Kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu phần lớn phụ thuộc vào công tác quản lý và
sử dụng VLĐ. Việc tăng cường quản lý, thực hiện bảo toàn nâng cao hiệu quả
sử dụng VLĐđảm bảo cho các giai đoạn luân chuyển và biểu hiện dưới nhiều
hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì doanh
nghiệp phải cóđủ vốn đầu tư vào lĩnh vực đó khiến các hình thái cóđược mức độ
hợp lý tối ưu vàđồng bộ với nhau khiến việc chuyển hoá hình thái vốn trong quá
trình luân chuyển được thuận lợi.
Ba là: Xuất phát từý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.
Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trường hợp những
cố gắng, những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật đảm bảo với số vốn hiện có,
bằng các biện pháp quản lý và trường hợp nhằm khai thác triệt để khả năng vốn
cóđể có thể mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho doanh nghiệp.
Lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải sử dụng một cách hợp
lý hiệu quả từng đồng VLĐ nhằm làm cho VLĐđược thu hồi sau mỗi chu kỳsản
xuất. Việc tăng tốc độ luân chuyển vốn cho phép rút ngắn thời gian chu chuyển
của vốn, qua đó vốn được thu hồi nhanh hơn có thể giảm bớt được số VLĐ cần
thiết mà vẫn hoàn thành được khối lượng sản phẩm hàng hoá bằng hoặc lớn hơn
trước.
Nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ còn cóý nghĩa quan trọng trong việc
giảm chi phí sản xuất, chi phí lưu thông và hạ giá thành sản phẩm.
Bốn là: Xuất phát từ yêu cầu bảo toàn VLĐđối với hoạt động sản suất
kinh doanh.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét