Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Các biện pháp nhằm hạn chế trang chấp trong thanh toán quốc tế theo phương thức tín dụng chứng từ tại BIDV

Luận văn tốt nghiệp
phần nhỏ bé của mình thông qua luận văn với đề tài "Các biện pháp nhằm hạn
chế tranh chấp trong thanh toán quốc tế theo phơng thức tín dụng chứng từ tại
Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam".
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Thanh toán quốc tế theo phơng thức tín dụng chứng từ và vấn đề
tranh chấp.
Chơng 2: Thực trạng tranh chấp trong thanh toán quốc tế theo phơng thức
tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam.
Chơng 3: Một số biện pháp và kiến nghị nhằm hạn chế tranh chấp trong
thanh toán quốc tế theo phơng thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng Đầu t và Phát
triển Việt Nam.
Qua đây em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với thầy giáo hớng dẫn TS.
Nguyễn Hữu Tài đã tận tình giúp đỡ và dành cho em những ý kiến quý báu cho
trong quá trình viết và hoàn thành luận văn.
Em cũng xin chân thành cám ơn các anh chị cán bộ tại phòng thanh toán
quốc tế Ngân hàng Đầu t và Phát triển Việt Nam đã tạo mọi điều kiện giúp em
thực hiện luận văn này.
Sinh viên thực hiện
Lê Phơng Anh
Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2000
5
Lê Phơng Anh NH 38B
Ch ơng 1
Thanh toán quốc tế theo phơng thức tín dụng chứng
từ và vấn đề tranh chấp.
1. Thanh toán quốc tế và hoạt động thanh toán quốc tế của
Ngân hàng thơng mại.
1.1. Thanh toán quốc tế.
1.1.1. Khái niệm, đặc trng của thanh toán quốc tế .
Cùng với sự đi lên của xã hội loài ngời theo xu hớng tiến bộ, bất kỳ một n-
ớc nào trên thế giới muốn phát triển đều không thể gói gọn nền kinh tế của mình
trong phạm vi quốc gia mà cần phải tham gia vào quá trình giao dịch quan hệ với
các nớc khác. Sở dĩ nh vậy là do có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên nh tài
nguyên, khí hậu v.v nếu chỉ phụ thuộc vào sản xuất trong nớc thì không thể cung
cấp đủ hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nền kinh tế
mà phải nhập những mặt hàng cần thiết trong nớc không sản xuất đợc hoặc sản
xuất nhng với giá cả cao hơn. Ngợc lại, trên cơ sở khai thác tiềm năng và những
lợi thế kinh tế vốn có, nền kinh tế ngoài việc phục vụ nhu cầu nội bộ còn có thể
tạo nên những thặng d xuất khẩu sang các nớc khác, góp phần tăng ngoại tệ cho
đất nớc để bù đắp nhập khẩu và trả nợ.
Vậy là do yêu cầu phát triển kinh tế mà phát sinh nhu cầu trao đổi giao
dịch hàng hoá giữa các nớc với nhau. Hoạt động này ngày càng mở rộng và phát
triển đòi hỏi phải có sự tham gia của thanh toán quốc tế. Nhng điều đó không có
nghĩa là thanh toán quốc tế chỉ bao hàm trong hoạt động thanh toán xuất nhập
khẩu mà rộng hơn, đó là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên
quan tới các quan hệ kinh tế, thơng mại và các mối quan hệ khác nhau giữa các tổ
chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nớc.
Chính điều đó đã tạo ra những đặc trng riêng của thanh toán quốc tế có thể
nói là khác hoàn toàn so với thanh toán trong nớc. Nếu phạm vi thanh toán trong
nớc chỉ là trong nội bộ quốc gia đó thì trong thanh toán quốc tế đã có sự tham gia
của các yếu tố nớc ngoài. Một nớc có thể giao dịch với tất cả các nớc còn lại trên
6
Luận văn tốt nghiệp
thế giới. Đồng tiền trong thanh toán không còn chỉ là đồng bản tệ mà là sự có mặt
của rất nhiều đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Vì thế rủi ro hối đoái là không
thể tránh khỏi. Thêm vào đó có sự khác biệt về khoảng cách địa lý, về ngôn ngữ
giao dịch cũng nh các yếu tố chính trị, pháp luật và hệ thống thuế quan. Tất cả làm
cho những điểm chung của các bên tham gia trong thanh toán quốc tế trở nên ít
hơn, dễ gặp rủi ro, bất trắc hơn và tranh chấp cũng dễ xảy ra hơn. Bởi vậy trong
thanh toán quốc tế thờng có thêm một bên thứ ba tham gia vào quá trình này nhằm
bảo vệ quyền lợi cho các nhà xuất nhập khẩu và nâng cao hiệu quả của thơng mại
quốc tế - đó là các Ngân hàng.
Tóm lại, thanh toán quốc tế thực sự là phức tạp, nhất là trong điều kiện
hiện nay, khi có sự tác động mạnh mẽ của thành tựu khoa học kỹ thuật, thị trờng
quốc tế ngày càng mở rộng đòi hỏi nội dung hoạt động thanh toán quốc tế cũng
phải đổi mới cho phù hợp với xu hớng của thời đại.
1.1.2. Nội dung hoạt động thanh toán quốc tế.
Mỗi một quốc gia độc lập đều phải thực hiện nhiều mối quan hệ quốc tế
trên các lĩnh vực kinh tế chính trị, ngoại giao, văn hoá, hợp tác khoa học trong
đó quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác.
Trong quá trình hoạt động, các quan hệ nêu trên đều liên quan tới tài chính, tức là
liên quan mật thiết đến công tác thanh toán.
Trên cơ sở các mối quan hệ ngoại thơng, hoạt động thanh toán quốc tế đợc
chia thành hai loại bao gồm thanh toán mậu dịch và thanh toán phi mậu dịch.
Thanh toán phi mậu dịch là quan hệ thanh toán phát sinh không liên quan
đến hàng hoá cũng nh cung ứng lao vụ, nó không mang tính thơng mại. Đó là
những chi phí về vận chuyển và đi lại của các đoàn khách Nhà nớc, các tổ chức
của từng cá nhân
Khác hoàn toàn với thanh toán phi mậu dịch, thanh toán mậu dịch phát
sinh trên cơ sở trao đổi hàng hoá và các dịch vụ thơng mại theo giá cả quốc tế (ví
dụ nh hoạt động thanh toán hàng xuất, thanh toán hàng nhập ). Thông thờng
trong nghiệp vụ thanh toán mậu dịch phải có chứng từ hàng hoá kèm theo. Các
bên mua bán bị ràng buộc với nhau bởi hợp đồng thơng mại hoặc bởi một hình
thức cam kết khác (th, điện giao dịch). Mỗi hợp đồng chỉ ra một mối quan hệ nhất
định, nội dung hợp đồng phải quy định rõ cách thức thanh toán dịch vụ thơng mại
phát sinh.
7
Lê Phơng Anh NH 38B
Những nội dung đó đã phần nào phản ánh tính chất phức tạp và khẳng định
sự tồn tại của hoạt động thanh toán quốc tế nh là một yếu tố khách quan của nền
kinh tế.
1.1.3. Vai trò của thanh toán quốc tế trong nền kinh tế.
Buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa các thành viên trong xã hội đã bắt đầu từ
rất lâu trong lịch sử phát triển của con ngời. Khi việc trao đổi không chỉ diễn ra
giữa các cá nhân, các tổ chức kinh tế trong giới hạn của một quốc gia mà trở thành
hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế thì nó không còn là hành vi
mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ phức tạp có tổ chức cả bên
trong và bên ngoài nhằm mục tiêu lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát
triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và từng bớc nâng cao mức sống của nhân
dân. Một trong những khâu quan trọng để thúc đẩy hoạt động đó là công tác thanh
toán quốc tế.
Về cơ bản, thanh toán quốc tế phát sinh dựa trên cơ sở hoạt động ngoại th-
ơng. Thanh toán là bớc cuối cùng của một quá trình sản xuất và lu thông hàng hoá.
Vì thế, nếu công tác thanh toán quốc tế đợc tổ chức tốt thì giá trị của hàng hoá
xuất khẩu mới đợc thực hiện, góp phần thúc đẩy hoạt động ngoại thơng. Thanh
toán quốc tế trở thành một yếu tố quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh
tế đối ngoại. Đó là sự đảm bảo cho ngời xuất khẩu thu đợc tiền về và ngời nhập
khẩu nhận đợc hàng hoá.
Chính bởi vì thanh toán có liên quan chặt chẽ tới quyền lợi của các bên
nên trong một hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, điều khoản này bao giờ cũng
đợc quy định rất rõ ràng và tỉ mỉ. Mặc dù vậy vẫn luôn có những mâu thuẫn phát
sinh do ngời mua muốn có hàng hoá trớc khi trả tiền còn ngời bán muốn nhận đợc
tiền rồi mới giao hàng hoá. Để giải quyết tình trạng này, ngời ta thờng thông qua
một bên thứ ba độc lập đợc cả ngời mua và ngời bán tin tởng. Các Ngân hàng trở
thành một đầu mối trong quá trình thanh toán quốc tế.
1.2. Hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng th ơng mại.
Thanh toán quốc tế là chức năng Ngân hàng quốc tế của Ngân hàng thơng
mại. Nó đợc hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thơng của một nớc
và Ngân hàng thơng mại đợc Nhà nớc giao cho độc quyền làm công tác thanh toán
này. Do vậy, các giao dịch thanh toán trong ngoại thơng đều phải thông qua Ngân
hàng. Bằng các nghiệp vụ của mình, Ngân hàng trở thành gạch nối giữa hai bên
mua bán cách nhau bởi các châu lục.
8
Luận văn tốt nghiệp
Thực ra hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng thơng mại đã đợc
đánh dấu từ thế kỷ 17 trong các hội chợ diễn ra thờng kỳ tại các địa điểm khác
nhau. Khi đó, các Ngân hàng đầu tiên thờng giữ vai trò tổ chức trung gian trao đổi
cần thiết, cho phép thực hiện các giao dịch giữa những ngời buôn bán với nhau từ
khắp các khu vực Châu Âu và bằng các đồng tiền khác nhau. Dần dần, các hội chợ
không chỉ là trung tâm trao đổi hàng hoá mà còn là nơi thanh toán cho các giao
dịch bên trong và bên ngoài hội chợ.
Ngày nay các Ngân hàng thơng mại trong nớc đóng vai trò quan trọng.
Chúng thực hiện về mặt kỹ thuật những hoạt động chu chuyển với nớc ngoài, giúp
cho quá trình thanh toán theo yêu cầu khách hàng đợc tiến hành an toàn, nhanh
chóng, tiện lợi và giảm bớt chi phí thay vì thanh toán bằng tiền mặt. Ngân hàng
bảo vệ quyền lợi khách hàng trong giao dịch thanh toán đồng thời t vấn cho khách
hàng nhằm giảm rủi ro, tạo sự an tâm, tin tởng trong quan hệ giao dịch với nớc
ngoài. ở đây, sự tín nhiệm là yếu tố hàng đầu. Các Ngân hàng với khả năng tài
chính dồi dào, uy tín cao đợc yêu cầu tham gia với t cách bên thứ ba, sẽ cam kết
có điều kiện với ngời bán là sẽ trả tiền khi xuất chứng từ và đa ra những quy định
yêu cầu ngời mua tuân thủ. Với cách thức này, Ngân hàng đảm bảo một cách hợp
lý quyền lợi chính đáng của hai bên mua bán, tạo điều kiện thuận lợi cho cả những
ngời mới tham gia vào buôn bán quốc tế. Mặt khác, trong quá trình thực hiện
thanh toán quốc tế, khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của
Ngân hàng, Ngân hàng cho vay để thanh toán hàng nhập khẩu, bảo lãnh thanh
toán mở L/C, chiết khấu chứng từ xuất khẩu đáp ứng nhu cầu về vốn cho các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Thực hiện thanh toán quốc tế, Ngân hàng có thể giám sát đợc tình hình
kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, tạo điều kiện thực hiện quản lý
có hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu trong nớc theo đúng chính sách kinh tế đối
ngoại đề ra.
Nh vậy, Ngân hàng, ngời đảm bảo thanh toán, đã trở thành cầu nối đáng
tin cậy của nền mậu dịch thế giới. Ngân hàng chính là chất xúc tác, là ngời đứng
ra để cân đối quyền lợi giữa ngời mua và ngời bán thông qua việc cung cấp những
phơng thức thanh toán đa dạng và phù hợp, hỗ trợ các bên tham gia vào quá trình
thanh toán quốc tế.
9
Lê Phơng Anh NH 38B
2. Phơng thức thanh toán bằng tín dụng chứng từ.
Trong thơng mại quốc tế có rất nhiều phơng thức thanh toán khác nhau nh
phơng thức chuyển tiền (remittance), phơng thức ghi sổ (open account), phơng
thức nhờ thu (collection) và phơng thức tín dụng chứng từ (documentary credit).
Mỗi phơng thức là một cách đảm bảo để ngời mua trả tiền cho ngời bán.
Với phơng thức chuyển tiền, khách hàng (ngời trả tiền) yêu cầu Ngân hàng
của mình chuyển một số tiền nhất định cho ngời khác (ngời hởng lợi) ở một địa
điểm nhất định do khách hàng yêu cầu. ở phơng thức này, ngời bán sau khi xuất
hàng đã không còn khả năng kiểm soát hoạt động trả tiền của ngời mua nên có thể
gặp nhiều rủi ro trong trờng hợp ngời mua không thanh toán.
Trong phơng thức ghi sổ, ngời bán mở một tài khoản ghi nợ ngời mua sau
khi đã hoàn thành nhiệm vụ giao hàng hay dịch vụ và sau đó việc trả tiền đợc thực
hiện định kỳ.
Còn phơng thức nhờ thu là phơng thức mà ngời bán sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng hay cung ứng một loại dịch vụ thì uỷ thác cho Ngân hàng của
mình thu hộ số tiền ở ngời mua trên cơ sở hối phiếu mà ngời bán đặt ra.
Nh vậy, khi các giao dịch ngoại thơng diễn ra giữa những đối tác không
quen biết, ngời mua và ngời bán cha có sự hiểu biết về nhau thì cả ba phơng thức
thanh toán trên đều có thể gây bất lợi cho nhà xuất khẩu vì không có một sự đảm
bảo nào rằng nhà nhập khẩu sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình sau khi nhận đợc
hàng hoá.
Làm thế nào để sau một quá trình vận động sản xuất và lu thông, hàng hoá
đợc thực hiện giá trị của mình ở khâu thanh toán để cả đôi bên nhà nhập khẩu
cũng nh nhà xuất khẩu thu hồi đợc lãi, vốn và tiếp tục một chu kỳ tái sản xuất mới
là một vấn đề mà những ngời liên quan tới hoạt động đối ngoại đều quan tâm đến.
Trong trờng hợp này cần có một phơng thức thanh toán giao dịch thơng mại đem
lại hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cả hai bên mua bán - đó chính là phơng thức tín
dụng chứng từ.
2.1. Khái niệm và các bên tham gia trong ph ơng thức tín dụng chứng từ.
Tuỳ theo thói quen và thông lệ của từng nớc mà TDCT đợc gọi với nhiều
tên khác nhau: Letter of credit, Credit, Document of credit. Tơng tự, ở Việt Nam,
ngoài tên là TDCT còn đợc gọi là tín dụng th, th tín dụng, L/C Trớc đây, nó đợc
gọi là tín dụng thơng mại (Commercial letter of credit) nhng nay thì từ này không
10
Luận văn tốt nghiệp
đợc dùng nữa mà thông dụng nhất là "Tín dụng chứng từ " (Documentary credit)
vì nó thể hiện đúng nhất ý nghĩa tín dụng kèm chứng từ .
Phơng thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận trong đó một Ngân
hàng (Ngân hàng mở th tín dụng) đáp ứng những yêu cầu của khách hàng (ngời
xin mở th tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho ngời thứ ba (ngời h-
ởng lợi số tiền của th tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do ngời này ký phát
trong phạm vi số tiền đó khi ngời này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong th tín dụng.
Trong phơng thức này, Ngân hàng không chỉ là trung gian thu hộ, chi hộ
mà còn là ngời đại diện bên nhập khẩu thanh toán tiền hàng cho bên xuất khẩu,
đảm bảo cho bên xuất khẩu nhận đợc khoản tiền tơng ứng với hàng hoá mà họ đã
cung ứng đồng thời bên nhập khẩu nhận đợc số lợng hàng hoá có chất lợng tơng
ứng với số tiền mình phải thanh toán. Ngời bán sẽ đợc thanh toán cho dù ngời mua
không thể trả tiền. Đối với Ngân hàng, đây đợc coi là một khoản tín dụng cấp cho
ngời mua vì nếu ngời mua không trả đợc tiền thì Ngân hàng phải trả thay. Còn
trong trờng hợp nhà xuất khẩu phải ký quỹ 100% số tiền của th tín dụng thì thực
chất Ngân hàng không cấp một khoản tín dụng nào mà là cho ngời mua vay sự tín
nhiệm của mình. TDCT cũng bảo vệ ngời mua ở chỗ họ bảo đảm không bị đòi tiền
cho đến khi đủ chứng từ về việc giao hàng. TDCT trở thành phơng thức thanh toán
đem lại cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu một sự an toàn lớn hơn đồng thời
nâng cao vai trò của Ngân hàng trong hoạt động thanh toán và khắc phục những
mâu thuẫn của các phơng thức thanh toán khác.
Tham gia vào phơng thức thanh toán này có các bên liên quan sau:
Ngời xin mở th tín dụng (Applicant): là ngời mua, ngời nhập khẩu.
Ngân hàng mở th tín dụng (issuing bank): là Ngân hàng đại diện cho
ngời nhập khẩu, cấp tín dụng cho ngời nhập khẩu.
Ngân hàng thông báo (Advising bank): là Ngân hàng ở nớc ngời hởng
lợi, thông báo về th tín dụng cho ngời hởng lợi.
Ngời hởng lợi (Beneficiary): là ngời bán, ngời xuất khẩu hay bất cứ ngời
nào khác mà ngời hởng lợi chỉ định.
Ngoài ra, để tăng sự an toàn cho các bên trong phơng thức TDCT còn có
thể có sự tham gia của các Ngân hàng khác nh:
11
Lê Phơng Anh NH 38B
Ngân hàng xác nhận (Confirrming bank): trong trờng hợp ngời bán
không tín nhiệm Ngân hàng phát hành, họ yêu cầu th tín dụng phải đợc xác nhận
bởi một Ngân hàng khác gọi là Ngân hàng xác nhận. Đây thờng là Ngân hàng có
uy tín cao trong thanh toán quốc tế, có trách nhiệm cùng với Ngân hàng mở trong
việc thanh toán th tín dụng. Ngân hàng xác nhận thờng là Ngân hàng thông báo
nhng cũng có thể là Ngân hàng khác theo yêu cầu của ngời nhập khẩu.
Ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank): là Ngân hàng thanh toán,
chấp nhận chiết khấu hối phiếu do ngời bán ký phát và nhà xuất khẩu phải xuất
trình bộ chứng từ cho Ngân hàng này. Tuỳ theo quy định của L/C, Ngân hàng
chiết khấu thờng là Ngân hàng thông báo hoặc là một Ngân hàng thứ ba nào đó do
Ngân hàng mở chỉ định.
Ngân hàng chuyển chứng từ (Remitting bank): một Ngân hàng thay vì
phải gửi nhiều bộ chứng từ thanh toán tới các Ngân hàng mở khác, họ gửi tất cả
các chứng từ này tới một Ngân hàng gọi là Ngân hàng chuyển chứng từ. Ngân
hàng này có trách nhiệm gửi tiếp các bộ chứng từ đến Ngân hàng mở để thanh
toán.
Ngân hàng chuyển nhợng (Transfering bank): nếu L/C cho phép chuyển
nhợng, Ngân hàng sẽ đứng ra chuyển nhợng L/C từ ngời hởng lợi này sang ngời
khác theo yêu cầu của ngời hởng lợi đầu tiên.
Và cùng với các chủ thể để góp phần tạo nên phơng thức thanh toán bằng
TDCT một cách hoàn chỉnh thì th tín dụng chính là cốt lõi, là phơng tiện chủ yếu.
2.2. Th tín dụng (Letter of credit).
2.2.1. Khái niệm.
Th tín dụng chứng từ là một văn bản cam kết của Ngân hàng (Ngân hàng
mở L/C) cho ngời thụ hởng (ngời xuất khẩu) theo lệnh của ngời trả tiền (ngời nhập
khẩu) để trả ngay hoặc trả vào một thời điểm xác định trong tơng lai một số tiền
xác định trên cơ sở bộ chứng từ hoàn hảo theo các điều khoản, điều kiện quy định
trong L/C.
Đây là một văn bản pháp lý quan trọng. Nó là căn cứ để Ngân hàng mở
quyết định việc trả tiền, chấp nhận hay chiết khấu hối phiếu, là cơ sở để ngời mua
quyết định trả tiền cho Ngân hàng mở hay không. Ngoài ra, L/C còn là một công
cụ để cụ thể hoá, chi tiết hoá hoặc bổ sung một cách đầy đủ hơn vào điều khoản
12
Luận văn tốt nghiệp
của hợp đồng mua bán cũng nh để khắc phục những sai sót, những điều khoản
không có lợi trong hợp đồng hay để huỷ hợp đồng.
Mặc dù L/C đợc soạn thảo trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thơng giữa
ngời nhập khẩu và ngời xuất khẩu để chi trả số hàng ngời xuất khẩu đã giao cho
ngời nhập khẩu nh đã ký kết nhng vì L/C do Ngân hàng mở cam kết nên nó hoàn
toàn độc lập với hợp đồng. Tính chất độc lập của L/C thể hiện ở chỗ Ngân hàng
mở L/C không cần biết đến việc thực hiện hợp đồng mua bán nh thế nào mà chỉ
quan tâm tới việc bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với những điều khoản trong L/C
là sẽ thanh toán. L/C ràng buộc các bên hữu quan tham gia vào phơng thức này và
tất cả những điều kiện, điều khoản quy định trong nội dung của L/C.
Chính vì lẽ đó, L/C đã góp phần làm cho TDCT trở thành phơng thức thanh
toán thơng mại an toàn và đáng tin cậy đợc chấp nhận ở mọi nơi đối với cả ngời
mua và ngời bán.
2.2.2. Nội dung th tín dụng.
Thông thờng một th tín dụng phải đảm bảo những nội dung cơ bản sau:
Số hiệu của L/C.
Mỗi L/C đều đợc đánh số nhằm tạo điều kiện thuận tiện trong việc trao đổi
thông tin giữa các bên có liên quan trong quá trình thực hiện và để ghi vào các
chứng từ trong bộ chứng từ thanh toán.
Địa điểm và ngày mở L/C.
Địa điểm mở L/C là nơi Ngân hàng mở L/C viết cam kết trả tiền cho ngời
hởng lợi.
Ngày mở L/C là ngày bắt đầu phát sinh và có hiệu lực về sự cam kết của
Ngân hàng mở L/C đối với ngời hởng lợi, tức là ngày có hiệu lực của L/C. Nó là
cơ sở để ngời bán kiểm tra xem ngời mua có thực hiện việc mở L/C đúng thời hạn
quy định hay không.
Loại L/C.
Đây là nội dung quan trọng vì mỗi loại L/C đều có tính chất và nội dung
khác nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia khác nhau.
Tên, địa chỉ của các bên tham gia.
13
Lê Phơng Anh NH 38B
L/C phải ghi rõ tên của Ngân hàng mở, ngời xin mở L/C, ngời thụ hởng,
Ngân hàng thông báo, Ngân hàng chiết khấu, Ngân hàng trả tiền, Ngân hàng xác
nhận (nếu có).
Số tiền của L/C.
Số tiền phải đợc ghi bằng số và bằng chữ, phải thống nhất với nhau; tên
đơn vị tiền tệ phải ghi cụ thể, rõ ràng. Số tiền không nên ghi rõ dới dạng một số
tuyệt đối.
Thời gian hiệu lực của L/C.
Đó là thời gian mà Ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho ngời bán nếu
ngời này xuất trình đợc bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C trong thời hạn
đó. Nó đợc tính từ ngày mở L/C tới ngày hết hiệu lực của L/C.
Thời hạn trả tiền của L/C.
L/C đợc trả ngay hay trả chậm. Nếu là trả chậm thì phải quy định rõ là trả
sau bao nhiêu ngày kể từ ngày nhận đợc bộ chứng từ hoàn chỉnh.
Thời hạn giao hàng.
Là thời hạn bên bán phải chuyển giao hàng cho bên mua.
Các quy định về L/C có thể chiết khấu, thanh toán hay chấp nhận (trong
trờng hợp L/C trả chậm) tại đâu (tại một Ngân hàng cụ thể hay bất kỳ Ngân hàng
nào).
Những nội dung có liên quan đến hàng hoá.
Đây là miêu tả chi tiết hàng hoá nh tên hàng, số lợng, giá cả, trọng lợng,
quy cách phẩm chất, bao bì, ký mã hiệu
Những nội dung về vận chuyển, giao nhận hàng hoá.
Là những quy định về điều kiện giao hàng, nơi giữ hàng, giao hàng, cách
vận chuyển, nơi hàng đến.
Các chứng từ ngời xuất khẩu phải xuất trình. Đây là nội dung quan trọng
của L/C.
Bộ chứng từ này là căn cứ để Ngân hàng kiểm tra mức độ hoàn thành
nghĩa vụ chuyển giao hàng hoá của ngời bán để từ đó có quyết định trả tiền cho
ngời bán hay không. L/C phải quy định rõ:
Các loại chứng từ: Thông thờng một bộ chứng từ bao gồm:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét