Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Một số Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Cty TNHH Việt - Trung tỉnh Lạng Sơn

Hiệu quả kinh doanh, chủ yếu đợc thẩm định bởi thị trờng, là tiêu chuẩn xác
định phơng hớng hoạt động của doanh nghiệp.
Nh vậy hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (bao gồm
nhân lực, tài lực và vật lực) vào hoạt động sản xuất kinh doanh để có đợc kết quả cao
nhất với chi phí thấp nhất.
Từ khái niệm nàycó thể đa ra công thức chung để đánh giá hiệu quả kinh doanh
là:
E =
K
C
(1)


hay
E =
C
K
(2)
* E :
Hiệu quả kinh doanh
* C : Chi phí yếu tố đầu vào
* K : Kết quả nhận đợc
Kết quả đầu ra có thể đo bằng các chỉ tiêu nh: giá trị tổng sản lợng, doanh thu
thuần, lợi nhuận thuần, lợi tức gộp Còn yếu tố đầu vào bao gồm: lao động đối tợng
lao động, vốn chủ sở hữu và vốn vay.
Công thức (1) phản ánh sức sản xuất (mức sinh lời) của các yếu tố đầu vào đợc
tính cho tổng số và riêng cho giá trị gia tăng. Công thức này cho biết cứ một đơn vị
đầu vào đợc sử dụng thì cho ra bao nhiêu kết quả đầu ra.
Công thức (2) đợc tính nghịch đảo của công thức (1) phản ánh suất hao phí các
chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì cần có bao nhiêu đơn vị
yếu tố đầu vào.
1.2. Bản chất đặc điểm và và cách phân loại hiệu quả kinh doanh.
1.2.1. Bản chất của hiệu quả kinh doanh.
Từ khái niệm về hiệu quả nêu ở trên đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh
tế của hoạt động kinh doanh phản ánh đợc tình hình sử dụng các nguần lực của doanh
nghiệp để đạt mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi
doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận.
1.2.2. Đặc điểm của phạm trù hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phức tạp và khó đánh giá. Sở dĩ nh vậy vì ở
khái niệm này cho ta thấy hiệu quả sản suất kinh doanh đợc xác định bởi mối tơng
5
quan giữa hai đại lợng là kết quả đầu ra và chi phí bỏ ra để có đợc kết quả đó mà hai
đại lợng này đều khó xác định.
Về kết quả, chúng ta ít xác định đợc chính xác kết quả mà doanh nghiệp thu đ-
ợc. Ví dụ nh kết quả thu đợc của hoạt động kinh doanh chịu ảnh hởng của thớc đo giá
trị đồng tiền- với những thay đổi trên thị trờng của nó.
Về chi phí cũng vậy việc xác định đại lợng này không dễ dàng. Vì chi phí cũng
chịu ảnh hởng của đồng tiền hơn thế nữa có thể một chi phí bỏ ra nhng nó liên quan
đến nhiều quá trình trong hoạt động kinh doanh thì việc bổ xung chi phí cho từng đối t-
ợng chỉ là tơng đối, và có khi không phải chỉ là chi phí trực tiếp mang lại kết quả cho
doanh nghiệp mà còn rất nhiều chi phí gián tiếp nh: giáo dục, cải tạo môi trờng, sức
khoẻ có tác động không nhỏ đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chi phí
đó rất khó tính toán trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế.
2. Phân loại của hiệu quả kinh doanh.
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh đợc biểu hiện dớc các
dạng khác nhau. Mỗi dạng có những đặc trng và ý nghĩa cụ thể hiệu quả theo hớng nào
đó. Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết
thực cho công tác quản lý kinh doanh. Nó là cơ sở để xác định các chỉ tiêu và định mức
hiệu quả kinh doanh để từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
a) Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân.
Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả doanh
nghiệp là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp. Hiệu quả tài chính phản ánh
mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận đợc và chi phí mà doanh nghiệp
phải bỏ ra để có đợc lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả tài chính là mối quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp, các nhà đầu t. Biểu hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi
nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt đợc. Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là lợi nhuận
cao nhất và ổn định.
Hiệu quả kinh tế quốc dân hay còn gọi là hiệu kinh tế xã hội tổng hợp xét trong
phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả kinh tế quốc dân mà doanh nghiệp mang lại cho
nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của doanh nghiệp vào phát triển xã hội, tích luỹ
ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho
ngời lao động
Hiệu quả tài chính là mối quan tâm của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu t.
Hiệu quả kinh tế quốc dân mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là nhà nớc Hiệu
quả tài chính đợc xem xét theo quan điểm doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế quốc dân
xem xét theo quan điểm toàn xã hội. Quan hệ giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh
tế quốc dân là mối quan hệ giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá
6
nhân với lợi ích tập thể và toàn xã hội. Đó là quan hệ thống nhất có mâu thuẫn. Trong
quản lý kinh doanh không những cần tính hiệu quả tài chính doanh nghiệp mà còn phải
tính đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế quốc dân.
Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ đạt đợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh
nghiệp trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp phải quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội
đó chính là tiền đề cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả. Để doanh nghiệp quan
tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội nhà nớc phải có chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà
lợi ích xã hội với lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân.
b) Hiệu quả chi phí xã hội
Hoạt động của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng gắn với môi trờng và thị trờng
kinh doanh của nó. Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trờng để giải quyết các vấn
đề then chốt: Sản xuất cái gì? Sản xuất nh thế nào? Sản xuất cho ai?
Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện
cụ thể về tài nguyên trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý lao động
quản lý kinh doanh. Họ đa ra thị trờng sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định và ngời
nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất. Tuy vậy khi đa hàng hoá
của mình ra thị trờng, họ chỉ có thể bán sản phẩm của mình theo giá thị trờng nếu chất
lợng sản phẩm của họ là tơng đơng. Bởi vì thị trờng chỉ chấp nhận mức hao phí xã hội
cần thiết trung bình để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá. Quy luật giá trị đặt tất cả các
doanh nghiệp với một mức chi phí khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông
qua mức giá cả thị trờng.
Suy cho cùng chi phí bỏ ra là chi phí xã hội, nhng tại mỗi doanh nghiệp chúng
ta cần đánh giá hiệu quả kinh doanh, thì hao phí lao động xã hội thể hiện dới dạng cụ
thể:
- Giá thành sản xuất.
- Chi phí sản xuất.
Bản thân mỗi loại chi phí lại đợc phân chia chi tiết hơn. Đánh giá hiệu quả kinh
doanh không thể không đánh giá tổng hợp các chi phí trên đây, và cần thiết đánh giá
hiệu quả của từng loại chi phí.
c) Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tơng đối.
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tơng đối là hai hình thức biểu hiện mối quan hệ
giữa kết quả và chi phí. Trong đó hiệu quả tuyệt đối đợc đo bằng hiệu số giữa kết quả
và chi phí. Hiệu quả tơng đối đợc đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
Trong công tác quản lý kinh doanh việc xác định hiệu quả nhằm mục tiêu cơ
bản:
7
+ Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh
doanh
+ Phân tích luận chứng kinh tế của các phơng án khác nhau trong việc thực hiện
một nhiệm vụ cụ thể đó để lựa chọn phơng án tối u nhất.
Ngời ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một ph-
ơng án quyết định nào đó. Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu đợc bao nhiêu lợi ích cụ thể và
mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định bỏ tiền ra thực hiện phơng án hay quyết định
kinh doanh phơng án đó không. Vì vậy, trong công tác quản lý kinh doanh, bất cứ việc
gì đòi hỏi chi phí, dù một phơng án lớn hay một phơng án nhỏ đều cần phải tính hiệu
quả tuyệt đối.
d) Hiệu quả trớc mắt và lâu dài.
Căn cứ vào lợi ích nhận đợc trong các khoảng thời gian dài hay ngắn mà ngời ta
đa ra xem xét đánh giá hiệu quả trớc mắt và hiệu quả lâu dài. Lợi ích trong hiệu quả tr-
ớc mắt là hiệu quả xem xét trong thời gian ngắn. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả dợc xem
xét đánh giá trong một khoảng thời gian dài. doanh nghiệp cần phải xem xét thực hiện
các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại lợi ích trớc mắt cũng nh lâu dài cho
doanh nghiệp. Phải kết hợp hài hoà lợi ích trớc mắt và lợi ích lâu dài, không đợc chỉ vì
lợi ích trớc mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp.
3. Vai trò của nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp.
3.1. Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu của kinh doanh.
Mục tiêu bao trùm và lâu dài của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận , tối u
hoá lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực sẵn có. Để đạt đợc mục tiêu này doanh nghiệp sử
dụng nhiều phơng pháp khác nhau. Trong đó hiệu quả kinh doanh là một trong những
mục đích mà nhà quản lý kinh tế kinh doanh muốn vơn tới và đạt tới. Việc xem xét,
đánh giá tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết sử dụng các nguồn lực vào
các hoạt động kinh doanh ở mức độ nào mà còn cho phép nhà quản trị phân tích tìm ra
các nhân tố để đa ra các biện pháp quản trị kinh doanh thích hợp trên cả hai phơng
diện: tăng kết quả và giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh. Bản chất của hiệu quả kinh doanh chỉ rõ trình độ sử dụng nguồn lực vào kinh
doanh: trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao, các doanh nghiệp càng có khả
năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng của kết quả
lớn hơn so với tốc độ tăng của việc sử dụng nguồn lực đầu vào. Do đó, trên phơng diện
lý luận và thực tiễn phạm trù hiệu quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc
so sánh đánh giá phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối u nhất đa ra phơng
pháp đúng đắn nhất để đạt đợc mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Nh vậy, hiệu quả kinh
8
doanh không những là mục tiêu mục đích của các nà kinh tế, kinh doanh mà còn là
một phạm trù để phân tích đánh giá trình độ dụng các yếu tố đầu vào nói trên.
3.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu kinh doanh.
Kinh doanh cái gì? Kinh doanh nh thế nào? Kinh doanh cho ai? chi phí bao
nhiêu? Câu hỏi này sẽ không thành vấn đề nếu nguồn lực đầu vào của sản xuất kinh
doanh là không hạn chế; ngời ta sẽ không cần nghĩ tới vấn đề sử dụng tiết kiệm và hiệu
quả các nguồn đầu vào nếu nguồn lực là vô tận. Nhng nguồn lực kinh doanh là hữu
hạn. Trong khi đó phạm trù nhu cầu con ngời là phạm trù vô hạn: không có giới hạn
của sự phát triển các nhu cầu - hàng hoá dịch vụ cung cấp cho con ngời càng nhiều,
càng phong phú, càng có chất lợng càng cao càng tốt. Do vậy, của cải càng khan hiếm
lại càng khan hiếm hơn theo cả nghĩa tuyệt đối và nghĩa tơng đối của nó. Khan hiếm
nguồn lực đòi hỏi bắt buộc con ngời phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm
càng tăng nên dẫn tới vấn đề lựa chọn tối u ngày càng đặt ra nghiêm túc và ngay gắt.
Thực ra khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần để lựa chọn kinh tế, nó bắt buộc lựa chọn
con ngời phải lựa chọn kinh tế. Chúng ta biết rằng lúc đầu dân c còn ít mà của cải trên
trái đất còn phong phú, cha bị cạn kiệt vì khai thác và sử dụng: lúc đó con ngời chỉ chú
ý phát triển theo chiều rộng. Điều kiện đủ cho việc lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát
triển nhân loại thì càng ngày ngời ta càng tìm ra nhiều phơng pháp sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, cho phép cùng một nguồn lực đầu vào nhất định ngời ta làm nhiều công
việc khác nhau. Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa
chọn kinh tế tối u. Sự lựa chọn này sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh
cao nhất, thu đợc nhiều lợi ích nhất. Giai đoạn phát triển theo chiều rộng nhờng chỗ
cho phát triển theo chiều sâu: sự phát triển theo chiều sâu nhờ vào nâng cao của hiệu
quả kinh doanh.
Nh vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn
lực có sẵn của doanh nghiệp để đạt đợc sự lựa chọn tối u. Trong điều kiện khan hiếm
nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện sống còn đặt ra đối với
doanh nghiệp trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế khác
nhau là không giống nhau: Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, việc lựa chọn
kinh tế thờng không đặt ra cho mọi cấp xí nghiệp mọi quyết định kinh tế sản xuất cái
gì?sản xuất nh thế nào? sản xuất cho ai? đều đợc giải quyết ở trung tâm duy nhất. Các
đơn vị kinh doanh cơ sở tiến hành các hoạt động của mình theo sự chỉ đạo từ một trung
tâm vì vậy mục tiêu cao nhất của các đơn vị này là hoàn thành kế hoạch nhà nớc giao.
Do hạn chế nhất định của cơ chế kế hoạch hoá tập trung cho nên không những các đơn
9
vị kinh tế cơ sở ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế của mình mà trong nhiều trờng hợp
các đơn vị kinh tế hoàn thành kế hoạch bằng mọi giá.
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trờng, môi trờng cạnh tranh gay gắt,
nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện tồn tại của doanh nghiệp.
Trong cơ chế thị trờng việc giải quyết vấn đề: sản xuất cái gì? sản xuất nh thế
nào? sản xuất cho ai? đợc dựa trên cơ sở quan hệ - cung cầu, giá cả thị trờng, cạnh
tranh và hợp tác Các doanh nghiệp phải tự đặt ra các quyết định kinh doanh của
mình, tự hạch toán lỗ lãi, lãi nhiều hởng nhiều lãi ít hởng ít, không có lãi sẽ đi đến phá
sản doanh nghiệp. Do đó mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan
trọng nhất, mang tính sống còn của doanh nghiệp.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn
tại và phát triển. Môi trờng cạnh tranh càng gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có những
doanh nghiệp vẫn đứng vững và phát triển, bên cạnh đó không ít doanh nghiệp bị thua
lỗ, giải thể, phá sản. Để đứng vững trên thị trờng các doanh nghiệp luôn phải chú ý tìm
mọi cách giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thị
trờng nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Các doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận càng cao càng
tốt. Nh vậy, để đạt đợc hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là
vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và trở thành vấn đề sống còn để
doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
4. Các nhân tố ảnh hởng việc nâng cao hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp .
4.1. Nhóm nhân tố chủ quan.
4.1.1. Lực lợng lao động.
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lực lợng lao động tác động trực
tiếp lên hiệu quả kinh doanh theo các hớng sau:
- Trình độ lao động: Nếu lực lợng lao động của doanh nghiệp có trình độ tơng
ứng sẽ góp phần quan trọng vận hành có hiệu quả yếu tố vật chất trong quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp.
- Cơ cấu lao động: nếu doanh nghiệp có cơ cấu lao động hợp lý phù hợp trớc hết
nó góp phần vào sử dụng có hiệu quả bản thân các yếu tố lao động trong quá trình sản
xuất kinh doanh, mặt khác nó góp phần tạo lập và thờng xuyên điều chỉnh mối quan
hệ tỷ lệ hợp lý, thích hợp giữa các yếu tố trong quá trình kinh doanh.
10
- ý thức, tinh thần, trách nhiệm, kỷ luật của ngời lao động. Đây là yếu tố cơ bản
quan trọng để phát huy nguồn lao động trong kinh doanh. Vì vậy chúng ta chỉ có thể
đạt đợc hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp chừng nào chúng ta tạo đợc đội ngũ
lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất cao.
4.1.2. Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng của tiến bộ khoa
học kỹ thuật.
Nhân tố này tác động vào hiệu quả kinh doanh theo các hớng sau:
- Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật tạo ra cơ hội để nắm bắt thông tin
trong quá trình hoạch định kinh doanh cũng nh trong quá trình điều chỉnh, định hớng
lại hoặc chuyển hớng kinh doanh.
- Kỹ thuật và công nghệ sẽ tác động đến việc tiết kiệm chi phí vật chất trong quá
trình kinh doanh làm cho chúng ta sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm chi phí vật chất
trong quá trình kinh doanh.
- Cơ sở vật chất và ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật: Cơ sở vật chất và
ứng dụng của tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ tạo ra đa ngành nghề kinh doanh.
4.1.3. Hệ thống trao đổi và sử lý thông tin của doanh nghiệp .
Thông tin ngày nay đợc coi là đối tợng lao động của các nhà kinh doanh, và
nền kinh tế thị trờng là kinh tế thông tin hàng hoá. Để kinh doanh thành công trong
điều kiện cạnh tranh trong nớc và quốc tế ngày càng phát triển, các doanh nghiệp cần
có thông tin chính xác về thị trờng, ngời mua , ngời bán, đối thủ cạnh tranh, tình hình
cung-cầu hàng hoá, giá cả Không những thế, doanh nghiệp rất cần hiểu biết thành
công và thất bại của các doanh nghiệp trong nớc và quốc tế, các chính sách kinh tế của
nhà nớc và các nớc khác có liên quan đến thị trờng của doanh nghiệp.
Thông tin chính xác kịp thời là cơ sở vững chắc cho doanh nghiệp xác định ph-
ơng hớng kinh doanh, xây dựng chiến luợc kinh doanh dài hạn cũng nh hoạch định các
chơng trình kinh doanh ngắn hạn. Nếu doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin,
không thờng xuyên lắm bắt thông tin kịp thời thì doanh nghiệp dễ đi đến thất bại.
Trong kinh doanh nếu biết mình biết ngời, lắm đợc thông tin về đối thủ cạnh
tranh thì doanh nghiệp mới có những biện pháp thích hợp để dành thắng lợi trong
kinh doanh và thu lợi nhuận cao bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Một nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản trị doanh nghiệp hiện nay là làm
sao tổ chức đợc hệ thống thông tin của doanh nghiệp một cách hợp lý đáp ứng kịp thời
nhu cầu thông tin.
11
4.1.4. Nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Trong kinh doanh nhân tố quản trị kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng:
Quản trị doanh nghiệp có vai trò định hớng cho doanh nghiệp một hớng đi đúng trong
hoạt động kinh doanh, xác định chiến lợc kinh doanh, phát triển doanh nghiệp. Chiến
lợc kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là cơ sở để đạt hiệu quả hoặc thất bại phi
hiệu quả của doanh nghiệp trong kinh tế thị trờng.
Mọi nhân tố phân tích ở trên đều có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu
quả kinh doanh thông qua hoạt động của bộ máy quản trị doanh nghiệp và đội ngũ các
cán bộ quản trị.
Nhà quản trị doanh nghiệp đặc biệt các lãnh đạo doanh nghiệp bằng phẩm chất
và tài năng của mình có vai trò quan trọng bậc nhất và có ý nghĩa duy trì thành đạt cho
một tổ chức kinh doanh. Trong các nhiệm vụ phải hoàn thành ngời cán bộ doanh
nghiệp phải chú ý hai nhiệm vụ chủ yếu là:
- Xây dựng tập thể thành một hệ thống đoàn kết, năng động với chất lợng cao.
- Dìu dắt tập thể dới quyền hoàn thành mục đích và mục tiêu một cách vững
chắc ổn định.
ở bất kì doanh nghiệp nào hiệu quả kinh doanh đều phụ thuộc lớn vào cơ cấu tổ
chức bộ máy quản trị, nhận thức hiểu biết, trình độ đội ngũ các nhà quản trị, khả năng
xác định mục tiêu và phơng hớng kinh doanh của những nhà lãnh đạo doanh nghiệp.
Hiệu quả kinh doanh đợc xác định bởi tơng quan giữa hai đại lợng kết quả thu
đợc và chi phí bỏ ra. Cả hai đại lợng này phức tạp, khó tính toán và đánh giá một cách
chính xác. Cùng với sự phát triển của khoa học quản trị kinh doanh càng ngày ngời ta
càng tìm ra các phơng pháp đánh giá và xác định hai đại lợng này gần với giá trị thực
của nó hơn. Trong cả hai đại lợng này xem xét trên phơng diện giá trị và giá trị sử
dụng tiêu thức lợi nhuận làm kết quả thì kết quả và chi phí đều có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Có thể biểu diễn mối quan hệ đó nh sau:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Sự khó khăn trớc hết biểu hiện ở hai quan niệm về hai yếu tố này, và cần chú ý
rằng cái gì là lợi nhuận sẽ không là chi phí và ngợc lại, cái gì coi là chi phí sẽ không là
lợi nhuận.
Có rất nhiều dẫn chứng chứng tỏ sự không thống nhất trong quan điểm này. Ví
dụ nh trớc đây chúng ta quan niệm rằng thuế nằm trong phạm trù lợi nhuận là một
phần lợi nhuận. Ngày nay quan niệm này đã dần thay đổi: nhiều loại thuế coi là yếu tố
cấu thành chi phí chứ không là lợi nhuận. Vậy ảnh hởng tính toán kinh tế đến hiệu quả
hiệu quả kinh doanh chính là nằm ở sự phức tạp trong quan niệm về hai yếu tố này.
12
Mặt khác việc áp dụng toán kinh tế trong doanh nghiệp đối với việc xây dựng
mô hình hoá các quá trình kinh doanh là cần thiết, nó là phần quan trọng giúp cho
doanh nghiệp giảm đợc chi phí và không lãng phí nguồn lực làm tăng hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
4.2 Nhóm nhân tố khách quan.
Bất cứ doanh nghiệp nào trong lĩnh vực nào to hay nhỏ, suy cho cùng nó chỉ là
một trong các phần tử cấu thành nền kinh tế quốc dân hay trên phơng diện rộng hơn
trong hoàn cảnh quốc tế hoá đang diễn ra mạnh mẽ thì doanh nghiệp có thể coi là bộ
phận cấu thành nền kinh tế thế giới. Do đó, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
chịu ảnh hởng rất lớn từ môi trờng bên ngoài. Đó là tổng hợp các nhân tố khách quan
tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, và cụ thể là tác động đến hiệu
quả kinh doanh của doanh nghiệp. ở đây chúng ta đi xem xét một số nhân tố chủ yếu
sau:
4.2.1. Môi trờng pháp lý.
Môi trờng pháp lý có ảnh hởng lớn tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Môi trờng pháp lý lành mạnh sẽ giúp cho doanh nghiệp tiến hành hoạt
động kinh doanh thuận lợi và ngợc lại nếu môi trờng pháp lý không ổn định sẽ gây cho
doanh nghiệp nhiều khó khăn, trở ngại và những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của
mình. Môi trờng pháp lý gồm hệ thống các văn bản pháp luật do nhà nớc đặt ra - thể
hiện vai trò quản lý của nhà nớc đối với nền kinh tế và các thông lệ và luật lệ quốc tế -
đối với các doanh nghiệp xuất khẩu. Môi trờng pháp lý tạo ra hành lang pháp lý cho
doanh nghiệp hoạt động, mọi doanh nghiệp đều nằm trong hành lang đó nếu lệch ra
ngoài là phạm luật và bị sử lý. Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình doanh
nghiệp phải chấp hành mọi quy định của Nhà nớc và nếu doanh nghiệp hoạt động liên
quan đến thị trờng nớc ngoài thì doanh nghiệp không thể không nắm chắc và tuân thủ
pháp luật nớc đó và thông lệ quốc tế.
4.2.2. Môi trờng kinh tế.
Môi trờng kinh tế là nhân tố tác động mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Môi trờng kinh tế bao gồm các yếu tố nh tốc độ tăng trởng kinh tế, tốc
độ tăng thu nhập quốc dân, lạm phát Các yếu tố này luôn là các nhân tố tác động trực
tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Môi trờng kinh tế trớc hết phản ánh qua tốc độ tăng trởng kinh tế về cơ cấu
ngành cơ cấu vùng. Tình hình đó có thể tạo nên sự hấp dẫn của thị trờng. Nếu tốc độ
tăng trởng kinh tế của đất nớc cao và ổn định thì nó sẽ tạo ra một môi trờng kinh doanh
ổn định cho doanh nghiệp hoạt động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của mình. Còn
13
ngợc lại tăng trởng kinh tế của đất nớc không ổn định và trì trệ kéo dài sẽ ảnh hởng
xấu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh thị trờng của doanh nghiệp bị thu
hẹp, nguồn lực sử dụng bị lãng phí do không hiệu quả
Mức tăng thu nhập quốc dân cũng ảnh hởng tới hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Mức tăng trởng kinh tế của đất nớc cao và ổn định tức là khả năng tiêu
dùng thực tế của khách hàng doanh nghiệp ngày càng tăng làm cho thị trờng của
doanh nghiệp đợc mở rộng và vấn đề mở rộng sản xuất của doanh nghiệp đợc đặt ra.
Ngợc lại thu nhập quốc dân thấp sẽ làm cho khả năng tiêu dùng giảm thị trờng của
doanh nghiệp bị thu hẹp sản xuất trì trệ, hàng sản xuất ra không tiêu thụ đợc.
Lạm phát cũng là nhân tố ảnh hởng trực tiếp và sâu sắc đến đời sống kinh tế của
đất nớc nói chung và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Tốc độ lạm
phát của đất nớc đợc kìm chế thấp và ổn định sẽ làm cho giá trị đồng tiền trong nớc ổn
định các doanh nghiệp sẽ yên tâm sản suất kinh doanh và đầu t mở rộng sản xuất. Mặt
khác giá trị của đồng tiền trong nớc ổn định cũng là cơ sở quan trọng để đánh giá chính
xác hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngợc lại nếu tốc độ lạm phát cao sẽ làm
cho ngời ta mất lòng tin vào đồng nội tệ và ngời ta không dám đầu t vào sản xuất và
tìm các thoát li khỏi đồng nội tệ bằng cách mua ngoại tệ mạnh và mua những tài sản có
giá trị khác.
Các chính sách kinh tế xã hội của nhà nớc cũng tác động lớn đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Trớc hết các chính sách kinh tế của nhà nớc thể hiện vai
trò của Nhà Nớc trong quản lý nền kinh tế quốc dân. Nếu chính sách kinh tế của nhà n-
ớc đa ra là phù hợp với các điều kiện thực tế thì sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5. Phơng pháp đánh giá hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp.
1. Các quan điểm cơ bản.
Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu chất lợng tổng hợp nó liên quan đến nhiều
yếu tố khác nhau, và nó phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh
nghiệp. Do đó, khi xem xét hiệu quả kinh doanh cần quán triệt một số quan điểm sau:
- Đảm bảo thống nhất giữa nhiệm vụ chính trị và kinh doanh trong việc nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm này đòi hỏi việc nâng cao hiệu quả kinh doanh phải xuất phát từ
mục tiêu chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nớc, trớc hết thể hiện ở
việc thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh hay đơn đặt hàng của nhà nớc giao cho doanh
nghiệp hay là các hợp đồng kinh tế nhà nớc đã ký kết với doanh nghiệp, vì đó là nhu
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét