Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
tình hình tài chính và mối quan hệ với khách hàng. Việc xét duyệt có thể được tính
toán cụ thể dựa trên lợi ích của cả hai bên theo hướng khuyến khích người mua trả
tiền nhanh qua tỷ lệ giảm giá khác nhau theo thời hạn thanh toán. Doanh nghiệp
không được sơ hở trong thỏa thuận ban đầu này nhằm tránh tình trạng nợ khó đòi,
thậm chí thất thu do khách hàng mất khả năng thanh toán.
Gửi hóa đơn tính tiền cho người mua và ghi rõ nghiệp vụ bán hàng: Hóa đơn
bán hàng là chứng từ chỉ rõ mẫu mã, số lượng hàng bán, giá cả hàng hóa và các yếu
tố khác theo luật thuế GTGT. Hóa đơn được lập thành 3 liên: 1 liên giao cho khách
hàng, 1 liên lưu lại ghi sổ và 1 liên theo dõi thu tiền. Như vậy, hóa đơn vừa là
phương thức chỉ rõ cho khách hàng về số tiền và thời hạn thanh toán từng thương
vụ, vừa là căn cứ ghi sổ Nhật ký bán hàng và theo dõi các khoản phải thu.
Xử lý và ghi sổ các khoản thu tiền: Khi các điều kiện ghi nhận doanh thu
được thỏa mãn, kế toán tiến hành ghi sổ và theo dõi mọi khoản thu mà khách hàng
trả từng lần. Trong việc xử lý này, cần đặc biệt chú ý khả năng bỏ sót hoặc dấu
diếm các khoản thu nhất là thu tiền mặt trực tiếp.
Xử lý ghi sổ hàng bán bị trả lại và khoản bớt giá: Các khoản giảm trừ doanh
thu xảy ra khi người mua không thỏa mãn về hàng hóa. Khi đó, người mua phải bớt
giá hoặc nhận lại hàng hóa. Trường hợp này phải lập bảng ghi nhớ hoặc có thư báo
Có hoặc Hóa đơn chứng minh cho việc ghi giảm các khoản phải thu.
Thẩm định và xóa sổ các khoản phải thu không thu được: Có thể có những
trường hợp người mua không còn khả năng thanh toán hoặc đã chết, mất tích, bỏ
trốn. Doanh nghiệp tiến hành thẩm định, nếu thấy khoản thất thu này là “ bất khả
kháng ”, cần xem xét xóa sổ khoản phải thu đó.
Dự phòng nợ khó đòi: Được lập với yêu cầu đủ trang trải các khoản đã tiêu
thụ kỳ này song không có khả năng thu được cả trong tương lai.
1.1.3. Mục tiên kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo
cáo tài chính do Công ty TNHH AAT thực hiện
1.1.3.1. Sự cần thiết phải kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm
toán Báo cáo tài chính
Bán hàng – thu tiền (tiêu thụ) là quá trình chuyển quyền sở hữu của hàng hóa
qua quá trình trao đổi hàng – tiền (giữa khách thể kiểm toán với khách hàng của
họ).Chu trình bán hàng - thu tiền được xem là chu trình cuối cùng của quá trình sản
xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Nó không những đánh giá hiệu quả của những
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
5
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
chu trình trước đó như chu trình tiền, tiếp nhận – hoàn trả vốn, mua hàng - thanh
toán… mà còn đánh giá hiệu quả toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, kiểm toán chu trình này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong các cuộc
kiểm toán.
Vai trò của khoản mục phải thu khách hàng trong chu trình bán hàng – thu
tiền thể hiện như sau:
- Ghi nhận các khoản doanh thu bán hàng theo hình thức bán chịu cho khách hàng.
Đây là vai trò quan trọng nhất nhằm ghi nhận chính xác, kịp thời các khoản bán
chịu
- Theo dõi quá trình thanh toán của khách hàng thông qua sự giảm đi bên ghi Có TK
131. Việc này tăng cường kiểm soát rủi ro khi chấp nhận bán chịu
- Đánh giá và xem xét khả năng thanh toán của khách hàng
- Là cơ sở để hạch toán TK dự phòng nợ phải thu khó đòi
- Theo dõi việc tuân thủ các chính sách bán chịu của doanh nghiệp.
1.1.3.2. Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng trong kiểm toán Báo
cáo tài chính
Theo CMKT Việt Nam số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối
kiểm toán BCTC”, khoản 11 quy định “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho
KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC được lập trên cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp
luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay
không?”. Mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy
rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính
của đơn vị.
Bảng1.1. Mục tiêu kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng
Mục tiêu kiểm toán
chung
Các khoản phải thu
Tính hợp lý chung Số dư các tài khoản bán hàng và thu tiền đều có căn cứ hợp lý
Tính có thật Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu đảm bảo
tuân thủ nguyên tắc ghi nhận
Tính đầy đủ Mọi nghiệp vụ phát sinh liên quan đến các khoản phải thu khách
hàng đều được phản ánh trên sổ sách kế toán một cách đầy đủ và
đúng niên độ
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
6
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Tính đánh giá Việc đánh giá các khoản phải thu trên BCTC là gần đúng với giá trị
có thể thu hồi được: tức là các khoản phải thu phải được công bố
theo giá trị có thể thu hồi được thông qua sự phân tích về dự phòng
nợ khó đòi và chi phí nợ khó đòi.
Đối với các khoản tiền là ngoại tệ phải được quy đổi ra đồng tiền
hạch toán theo tỷ giá quy định
Tính chính xác Các khoản phải thu phải được phản ánh đúng với giá trị thật và phù
hợp với các chứng từ gốc đi kèm
Số liệu trên các khoản phải thu được tính toán đúng đắn và phù hợp
giữa bảng kê, sổ chi tiết, sổ cái và BCTC
Quyền và nghĩa vụ Các khoản phải thu trong bảng kê hoặc bảng cân đối thu tiền theo
thời hạn đều thuộc sở hữu của công ty (không tính các khoản chiết
khấu, hồi khấu…)
Trình bày và khai
báo
Việc kết chuyển số liệu giữa các sổ kế toán và BCTC phải được thực
hiện một cách chính xác và phù hợp với các nguyên tắc kế toán
Tính đúng kỳ Các nghiệp vụ về thu tiền đều ghi đúng thời hạn trong quan hệ với
nghiệp vụ bán hàng
(Nguồn Chương trình kiểm toán khoản mục phải thu khách hàng của AAT)
1.2. Đặc điểm kế toán khoản mục phải thu khách hàng của khách hàng kiểm
toán có ảnh hưởng đến kiểm toán BCTC do Công ty TNHH AAT thực hiện
1.2.1. Nguyên tắc kế toán khoản mục phải thu khách hàng
Các khách hàng của AAT đều có kế toán khoản mục phải thu khách hàng và
tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc kế toán theo quy định của Bộ Tài chính.
* Nguyên tắc ghi nhận các khoản phải thu
Các khoản phải thu có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán không quá 1 năm
( hoặc trong 1 chu kỳ sản xuất kinh doanh ) được phân loại là Tài sản ngắn hạn
Các khoản phải thu có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên 1 năm ( hoặc trên 1 chu
kỳ sản xuất kinh doanh ) được phân loại là Tài sản dài hạn
* Lập dự phòng phải thu khó đòi
Dự phòng phải thu khó đòi là dự phòng phần giá trị bị tổn thất của các khoản
nợ phải thu quá hạn thanh toán, nợ phải thu chưa quá hạn nhưng có thể không đòi
được do khách không có khả năng thanh toán. Điều kiện lập dự phòng theo Thông
tư 228/2009/TT – BTC ngày 07 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài chính.
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
7
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Bảng 1.2: Tỷ lệ trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi theo thời gian quá hạn
Thời gian quá hạn Tỷ lệ trích lập
3 – 12 tháng 30%
12 tháng – 2 năm 50%
2 – 3 năm 70%
> 3 năm 100%
(Nguồn TT 228/2009/TT – BTC ngày 07 tháng 12 năm 2009)
1.2.2. Tổ chức hạch toán kế toán khoản mục phải thu khách hàng của khách
hàng kiểm toán
* Chứng từ sử dụng
Các chứng từ cơ bản của khi hạch toán nghiệp vụ bán hàng và thu tiền cần
quan tâm là Hóa đơn bán hàng, Biên lai thu tiền, Biên bản đối chiếu công nợ, Bảng
kê phải thu khách hàng theo thời hạn, Bảng trích lập dự phòng phải thu khó đòi
theo thời hạn, Biên bản quyết toán giá trị công trình XDCB hoàn thành.
* Tài khoản
Tài khoản chính sử dụng khi hạch toán nghiệp vụ thanh toán với người mua
là TK 131, ngoài ra với những khoản nợ khó đòi cần lập dự phòng trên TK 139.
* Sổ kế toán: Sử dụng Sổ Cái, Sổ Tổng hợp chi tiết tương ứng với các TK sử
dụng.
Sơ đồ 1.1: Quy trình luân chuyển chứng từ
Sơ đồ 1.2: Hạch toán kế toán phải thu khách hàng
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
Khách
hàng
Bộ
phận
bán
hàng
Thủ
trưởng
đơn vị
Bộ
phận
bán
hàng
Bộ
phận
kho
Duyệt
lệnh bán,
phương
thức bán
chịu
Ghi
sổ,
lập
Báo
cáo
Kế
toán
thanh
toán
Phiếu
xuất
kho
Hóa đơn
bán hàng,
vận đơn
Phiếu
tiêu thụ,
Lệnh
bán
Đơn
đặt
hàng
8
Lưu
trữ
chứng
từ
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
TK 511 TK 131 TK 635
Doanh thu Tổng số tiền khách hàng Chiết khấu thanh toán
chưa thu tiền phải thanh toán
TK 33311 TK 521, 531, 532
Thuế GTGT
đầu ra Chiết khấu thương mại
Giảm giá hàng bán
Thuế GTGT Hàng bán bị trả lại
đầu ra TK 33311
TK 711 Thuế GTGT
(nếu có)
Thu nhập khác Tổng số tiền khách hàng TK 111, 112, 113
chưa thu tiền phải thanh toán Khách hàng ứng trước
TK 111, 112 hoặc thanh toán tiền
Các khoản chi hộ khách hàng TK 152, 153, 156, 611
Khách hàng thanh toán bằng hàng
TK 413
theo phương thức hàng đổi hàng
TK 133
Thuế GTGT
Chênh lệch tỷ giá tăng khi cuối kỳ (nếu có)
đánh giá các khoản phải thu khách hàng TK 331
bằng ngoại tệ Bù trừ nợ
TK 139
Nợ khó đòi phải Số đã lập
xử lý khóa sổ dự phòng
TK 642
Chênh lệch tỷ giá giảm khi cuối kỳ
đánh giá các khoản phải thu của Số chưa lập
bằng ngoại tệ dự phòng
TK 004
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
9
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Đồng thời ghi
Sơ đồ 1.3: Hạch toán kế toán dự phòng phải thu khó đòi
TK 131, 138 TK 139 TK 642
Xóa sổ nợ phải thu khó đòi Lập dự phòng phải thu khó đòi
(Đồng thời ghi tăng 004)
Hoàn nhập khoản dự phòng phải thu khó đòi
số chênh lệch phải lập kỳ này nhỏ hơn
kỳ trước chưa sử dụng hết
Xóa sổ phải thu khó đòi (nếu chưa lập dự phòng)
Đồng thời ghi tăng 004
1.2.3. Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ với khoản mục phải thu khách
hàng
Do bán hàng – thu tiền là một quá trình chuyển quyền sở hữu hàng hóa - tiền
tệ giữa người mua và người bán, gắn với lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp lý của
mỗi bên nên công việc kiểm soát nội bộ cần thực hiện chặt chẽ. Các khoản phải thu
ở người mua phát sinh từ quá trình bán hàng nên có quan hệ chặt chẽ với quá trình
này tạo nên chu trình bán hàng – thu tiền. Hơn nữa, quá trình này bao hàm nhiều
chức năng cụ thể có liên quan chặt chẽ với nhau. Vì vậy, những công việc kiểm soát
nội bộ chủ yếu được xác định cụ thể như sau:
Sự đồng bộ của sổ sách
Hệ thống kế toán từ chứng từ phiếu thu đến Nhật ký thu tiền và Bảng kê phải
thu khách hàng theo thời hạn, Bảng tổng hợp dự phòng phải thu khách hàng theo
thời hạn, Sổ Cái TK 131, 139 có tác dụng kiểm soát tối đa các nghiệp vụ do đó các
trình tự kế toán phải có trước khi đặt ra các mục tiêu kiểm soát nội bộ. Mọi đơn vị
sản xuất kinh doanh thông thường đều tuân theo Chế độ kế toán doanh nghiệp ban
hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính, được hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 224/2009/TT- BTC ngày
31/12/2009 của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, mỗi đơn vị lại có thể lựa chọn các hình
thức kế toán, các phương thức kế toán khác nhau dẫn đến trình tự kế toán cụ thể
khác nhau. Ngoài văn bản pháp lý quy định, thực tế hoạt động cũng rất đa dạng,
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
10
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
phong phú. Vì thế mỗi đơn vị cần định sẵn trình tự cụ thể tương ứng với hệ thống
sổ sách tạo thành yếu tố kiểm soát có hiệu lực.
Tương ứng với công việc kiểm soát này, trắc ngiệm đạt yêu cầu dựa vào quy
định về trình tự ghi sổ đã nêu để đối chiếu với thực tiễn của đơn vị được kiểm toán.
Tuy nhiên, trắc nghiệm đạt yêu cầu cũng cần chú ý cả những chi tiết cụ thể của tính
đồng bộ không chỉ trong trình tự mà ngay trong từng sự kết hợp cụ thể.
Việc đánh số thứ tự các chứng từ
Sử dụng chứng từ có đánh số trước theo thứ tự liên tục có tác dụng vừa đề
phòng bỏ sót, dấu diếm, vừa tránh trùng lặp các khoản phải thu, các khoản ghi sổ
bán hàng. Việc đáng số phải có mục đích rõ ràng kèm theo việc tổ chức hợp lý để
đạt mục đích đó.
Trắc nghiệm đạt yêu cầu thông thường cho việc kiểm soát này là chọn ra một
dãy liên tục các chứng từ khác nhau như liên thứ hai của hóa đơn bán hàng đã ghi
vào nhật ký tiêu thụ để phát hiện các trường hợp bỏ sót hay ghi trùng trong dãy số
liên tục. Trắc nghiệm này đồng thời cung cấp bằng chứng cho cả hai mục tiêu: hiệu
lực và trọn vẹn.
Lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gửi cho người mua
Các công ty có nghiệp vụ bán hàng và thu tiền với quy mô lớn, thông thường
hàng tháng có tổng hợp và lập bảng cân đối giữa giá trị hàng bán với các khoản đã
thu tiền, và các khoản phải thu để kiểm soát công việc bán hàng và thu tiền. Do các
cân đối này có liên quan đến người mua nên cần gửi đến người mua để thông báo
đồng thời xác nhận quan hệ mua - bán đã phát sinh trong tháng. Để đảm bảo tính
khách quan, bảng cân đối này có thể do một người kiểm soát độc lập lập ra và gửi
qua đường bưu điện để người mua dễ dàng trả lời ngay cả khi có sai sót.
Trắc nghiệm đạt yêu cầu trong trường hợp này là sự xem xét và đưa ra ý kiến
của KTV về việc lập và xác nhận các bản nói trên.
Xét duyệt nghiệp vụ bán hàng
Nhằm ngăn ngừa tổn thất do vận chuyển đến người mua “ma” hay người
mua không có điều kiện thanh toán hoặc dây dưa trong thanh toán, tránh thất thu
việc kiểm soát nội bộ tập trung chủ yếu vào ba điểm:
- Việc bán chịu phải được duyệt y cẩn trọng trước khi bán hàng
- Hàng bán chỉ được vận chuyển sau khi duyệt với đầy đủ chứng cứ
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
11
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
- Giá bán phải được duyệt bao gồm cả phí vận chuyển, giảm giá, bớt giá và điều
kiện thanh toán
Công việc này đã giải quyết hợp lý và hiệu quả các quan hệ lợi ích giữa các
bên trong quan hệ mua bán. Tương ứng với công việc kiểm soát nội bộ này, trắc
nghiệm đạt yêu cầu được thực hiện qua xem xét chứng từ với các thủ tục xét duyệt
theo ba điểm trên.
Phân cách nhiệm vụ đầy đủ trong tổ chức công tác tài chính kế toán
Nhằm ngăn ngừa những gian lận và sai sót trong kế toán nói chung và kế
toán bán hàng nói riêng, công tác tài chính kế toán cần được theo dõi độc lập bởi
những người giữ các nhiệm vụ khác nhau như: kế toán bán hàng, kế toán tiền mặt,
kế toán ngân hàng, thủ quỹ… định kỳ đối chiếu tạo sự kiểm soát chéo, tăng độ tin
cậy của thông tin.
Trắc nghiệm đạt yêu cầu thích hợp là xem xét chung sự phân công trong
công tác kế toán và quan sát thực tế công việc kế toán.
Tính độc lập của người kiểm tra, kiểm soát
Đây là yếu tố chủ yếu trong việc phát huy hiệu lực của kiểm soát nội bộ.
Thông thường sử dụng KTV nội bộ để kiểm soát việc xử lý và ghi sổ các nghiệp vụ
bán hàng- thu tiền sẽ đảm bảo chất lượng kiểm soát và phục vụ tốt cho các mục tiêu
kiểm toán.
Trắc nghiệm đạt yêu cầu thường được thực hiện thông qua xem xét báo cáo
của KTV nội bộ và xem xét sự xuất hiện của các dấu hiệu của KTV nội bộ đã ký
hoặc ghi dấu đã qui ước trên các chứng từ, sổ sách kế toán.
1.3. Quy trình kiểm toán chu trình bán hàng- thu tiền trong kiểm toán Báo
cáo tài chính do Công ty TNHH AAT thực hiện
1.3.1. Đặc điểm chung về kiểm toán chu trình bán hàng - thu tiền trong kiểm
toán Báo cáo tài chính do Công ty TNHH AAT thực hiện
1.3.1.1. Giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai
trò quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm
toán. Theo khoản 8 VSA số 300 “Lập kế hoạch kiểm toán”: “Kế hoạch kiểm toán
phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán”. Phạm vi kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi tùy
theo quy mô khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, kinh nghiệm
và những hiểu biết của KTV về đơn vị và hoạt động của đơn vị được kiểm toán.
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
12
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch
kiểm toán cụ thể, gồm 7 bước công việc sau:
Sơ đồ 1.4: Trình tự lập kế hoạch kiểm toán
* Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
KTV phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục
kiểm toán một khách hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay không.
Lúc này, KTV tiến hành xem xét các vấn đề: Hệ thống kiểm soát chất lượng của
công ty mình, tính liêm chính của Ban Giám đốc công ty khách hàng kết hợp liên
lạc với KTV tiền nhiệm. Bên cạnh đó, KTV cần nhận diện các lý do kiểm toán của
khách hàng. Đối tượng sử dụng BCTC đã được kiểm toán khác nhau quan tâm đến
những thông tin khác nhau. Thông qua việc nhận diện lý do kiểm toán này, Công ty
ước lượng được quy mô phức tạp của công việc kiểm toán cần thực hiện từ đó tạo
điều kiện thuận lợi cho việc lựa chọn đội ngũ nhân viên thích hợp để thực hiện cuộc
kiểm toán.
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý
của khách hàng
Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi
ro kiểm soát
Đánh giá trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn
thảo chương trình kiểm toán
Thực hiện thủ tục phân tích
13
Chuyên đề thực tập GVHD: TS. Nguyễn Thị Phương Hoa
Khi đã quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn
đề trên, hai bên tiến hành ký kết hợp đồng kiểm toán. Hợp đồng kiểm toán là sự
thỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán với khách hàng về thực hiện cuộc
kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác. Theo VSA số 210 “Hợp đồng kiểm toán”:
“ Hợp đồng kiểm toán phải được lập và ký chính thức trước khi tiến hành công việc
kiểm toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và công ty kiểm toán”. Hợp đồng
kiểm toán phải có đầy đủ các điều khoản chung của hợp đồng kinh tế theo quy định
hiện hành. Sau khi ký kết, Công ty trở thành chủ thể kiểm toán chính thức của công
ty khách hàng.
* Thu thập thông tin cơ sở
Để thực hiện kiểm toán BCTC, KTV phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ về
tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn
hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo KTV có ảnh hưởng trọng yếu đến
BCTC, đến việc kiểm tra của KTV hoặc đến báo cáo kiểm toán. Hiểu biết cần thiết
của KTV để thực hiện một cuộc kiểm toán bao gồm những hiểu biết tổng quan về
nền kinh tế, tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng qua
chính Ban Giám đốc công ty khách hàng, Tổng cục Thống kê, sách báo, tạp chí
chuyên ngành, Internet…
Các hồ sơ kiểm toán năm trước cũng thường chứa rất nhiều thông tin về
khách hàng như lĩnh vực hoạt động, ngành nghề kinh doanh, sơ đồ tổ chức, mô hình
quản lý…qua đó KTV dễ dàng thu thập được những thông tin hữu ích, nhất là khi
hồ sơ này được cập nhật thường xuyên. Tham quan nhà xưởng là cách quan sát trực
tiếp hoạt động bằng mắt thấy tai nghe sẽ giúp KTV có được những nhận định ban
đầu về quy trình sản xuất, bảo vệ tài sản, phong cách quản lý của Ban Giám đốc,…
từ đó dự đoán được những tài khoản trọng yếu trên BCTC.
Trong giai đoạn này, KTV nên xác định tất cả các bên liên quan đến khách
hàng, nhất là những giao dịch có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC. Theo các nguyên
tắc kế toán đã được thừa nhận, bản chất mối quan hệ giữa các bên liên quan phải
được tiết lộ trên sổ sách, báo cáo và qua mô tả các nghiệp vụ kinh tế từ đó bước đầu
hoạch định một kế hoạch xác minh phù hợp.
Khi KTV nhận thấy trong nhóm kiểm toán không ai có chuyên môn hoặc khả
năng về một lĩnh vực nào đó để thực hiện các thủ tục kiểm toán cần thiết nhất định
Sinh viên: Nguyễn Thị Định Lớp: Kiểm toán 48C
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét