Luận văn tốt nghiệp
Đây là chặng đờng sơ khai đầu tiên, tồn tại lâu dài nhất. Khi quản lý sản xuất còn
cha tách ra thành một chức năng riêng biệt của quá trình lao động thì kiểm tra là một
chức năng của quản lý và đợc con ngời dùng đến từ thời xa xa. Chặng đờng này đợc
phân ra thành ba thời kỳ nh sau:
- Thời kỳ kiểm tra sản xuất trực tiếp từ ngời sản xuất.
Những hình thái sản xuất tiền t bản chủ nghĩa là những nền sản xuất nhỏ, dựa trên
sản xuất cá thể hoặc gia đình. Ngời sản xuất ở đây có thể là ngời thợ thủ công, có thể
là ngời chủ gia đình cùng vợ con tạo thành một nhóm sản xuất, ngời chủ gia đình giữ
vai trò ông chủ sản xuất. Ông chủ này thờng tự làm tất cả mọi công việc, từ khâu tìm
kiếm nguyên liệu đến khâu chế tạo ra sản phẩm, tự quản lý mọi hoạt động của mình
cho đến khi mang hàng của mình ra thị trờng để trao đổi hoặc để bán. Nếu sản phẩm
của anh ta không ai muốn trao đổi hoặc muốn mua, anh ta phải tự suy nghĩ, tự giải
thích, tự tìm nguyên nhân để thay đổi, cải tiến sản phẩm của mình sao cho có thể đợc
chấp nhận trên thị trờng. Để làm việc này, anh ta phải khẳng định qui cách chất lợng
sản phẩm của mình, chế tạo đúng nh yêu cầu đã đợc đề ra và tự kiểm tra xem sản
phẩm làm ra có đạt đợc yêu cầu không. Có thể nói đây là thời kỳ manh nha, thô sơ
nhất của kiểm tra chất lợng, bớc đi đầu tiên trên con đờng tiến tới quản lý chất lợng.
- Thời kỳ kiểm tra sản xuất bởi các đốc công.
Bớc sang giai đoạn công trờng thủ công và thời kỳ đầu của cách mạng công
nghiệp, quá trình chuyên môn hoá, hợp tác hoá đợc phát triển, máy móc đợc sử dụng
ngày càng nhiều, năng suất lao động tăng gấp nhiều lần so với lao động thủ công, qui
mô sản xuất đợc mở rộng, các ông chủ phải phân quyền cho các đốc công và các tr-
ởng xởng. Những ngời lãnh đạo trung gian này vừa quản lý sản xuất trong những lĩnh
vực thuộc phạm vi anh ta phụ trách, vừa phải trực tiếp kiểm tra các sản phẩm do công
nhân làm ra xem có phù hợp với yêu cầu đề ra hay không?
- Thời kỳ kiểm tra tự phía phòng kiểm tra.
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
5
Luận văn tốt nghiệp
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ và rộng lớn của cuộc cách mạng công nghiệp ở
thế kỷ 18, các vấn đề kỹ thuật và các hình thức tổ chức ngày càng phức tạp, làm cho ý
nghĩa của vấn đề chất lợng ngày càng đợc nâng cao. Chức năng quản lý sản xuất trở
thành chức năng riêng biệt, bộ máy quản lý chia ra thành nhiều bộ phận chuyên môn
và hoàn thiện sản xuất, quản lý sức lao động và tổ chức lao động, quản lý công việc
hàng ngày, kiểm tra sản xuất Trong các xí nghiệp bắt đầu hình thành những phòng
kiểm tra kỹ thuật với chức năng phát hiện các khuyết tật của sản phẩm và chỉ đa ra thị
trờng những sản phẩm đạt yêu cầu. Hình thức này đợc phát triển rộng rãi sang cả thế
kỷ 20. Việc chuyên môn hoá chức năng kiểm tra đã mang lại những kết quả tốt hơn
so với các hình thức kiểm tra trớc đó. Tuy nhiên, nó chỉ phát hiện đợc các sai lỗi mà
không ngăn chặn đợc tận gốc rễ các vấn đề, đồng thời nó lại tạo nên tâm lý sai lầm là
trách nhiệm về chất lợng thuộc về phòng kiểm tra.
b. Quản lý chất lợng bằng kiểm soát và đảm bảo.
Điều khiển chất lợng (Kiểm soát chất lợng) và đảm bảo chất lợng là những phơng
pháp của quản lý chất lợng đợc xuất hiện trong nửa đầu của thế kỷ 20 và trở thành
những thành phần quan trọng của quản lý chất lợng hiện đại. Khác với kiểm tra với
chức năng chính là phát hiện những phơng pháp mới này mang tính chất phòng ngừa
theo nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh.
Từ giữa những năm 20 cho tới giữa thế kỷ 20, các hoạt động tiêu chuẩn hoá, điều
khiển chất lợng (Quality Control - QC), và đảm bảo chất lợng (Quality assurance -
QA) đợc phát triển mạnh ở Mỹ với những chuyên gia dẫn đầu về quản lý chất lợng
nh Walter A. Shewhart, Joseph M. Juran, W. Edwards Deming Có thể nói Mỹ là n -
ớc đi đầu trong việc hình thành cơ sở lý thuyết và thực hành về quản lý chất lợng và
giữ vai trò chủ chốt trong nửa đầu thế kỷ 20 về quản lý chất lợng trên toàn thế giới.
Tuy Anh là nớc mở đầu cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ 18 và là nớc đi đầu
trong lĩnh vực phân tích thống kê đợc nhiều nớc biết đến, những từ những năm 20
30 của thế kỷ 20 Mỹ đã đẩy mạnh việc ứng dụng các phơng pháp thống kê, coi đó là
công cụ khoa học chủ yếu để triển khai các hoạt động điều khiển chất lợng và đã đạt
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
6
Luận văn tốt nghiệp
đợc nhiều thành tựu trong lĩnh vực đảm bảo nâng cao chất lợng sản phẩm. Quá trình
điểu khiển chất lợng có thể đợc coi là quá trình hoạt động tác nghiệp nhằm thực hiện
và duy trì tiêu chuẩn, làm chủ đợc những yếu tố ảnh hởng trực tiếp đến quá trình tạo
ra chất lợng, ngăn ngừa việc gây khuyết tật cho sản phẩm. Dạng đơn giản nhất của
quá trình điều khiển chất lợng đợc thể hiện trong sơ đồ sau:
Bảng 1: Sơ đồ kiểm soát chất lợng
Muốn điều khiển chất lợng tốt, phải nắm đợc các yếu tố: con ngời, phơng pháp và
quá trình, đầu vào, trang thiết bị dùng trong sản xuất và thử nghiệm, thông tin, môi tr-
ờng. Quá trình điều khiển cần phải đợc tiến hành song song với quá trình kiểm tra
chất lợng để làm sao cho sản phẩm làm ra phải đạt đợc tiêu chuẩn chất lợng.
Điều khiển chất lợng, nhất là điều khiển thống kê chất lợng (Statistical quality
control) đợc sử dụng rộng rãi trong công nghiệp của Mỹ, Anh và các nớc Tâu âu
trong những năm 20. việc áp dụng SQC đã giúp tạo nên nhiều nhà quản lý có t duy
thống kê, nắm đợc các phơng pháp và công cụ thống kê để tiến hành công tác điều
khiển chất lợng và đảm bảo chất lợng.
Đảm bảo chất lợng (QA) không làm thay đổi chất lợng nh điều khiển chất lợng.
Nó là kết quả của sự trắc nghiệm, trong khi điều khiển chất lợng thì tạo ra kết quả.
Đảm bảo chất lợng thiết lập nên một phạm vi trong đó chất lợng đã, đang hoặc sẽ đợc
đợc điều khiển. Mọi hoạt động đảm bảo chất lợng đều phục vụ cho việc tạo dựng lòng
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
7
Tiêu chuẩn
áp dụng
Kiểm chứng
Phù
hợp
Tác động sửa chữa
Không đạt
Đạt
Luận văn tốt nghiệp
tin vào các kết quả, các lời tuyên bố, cách khẳng định Việc đảm bảo chất l ợng
không chỉ đơn thuần là lời hứa, lợi nói xuông mà phải đợc thể hiện bằng các hành
động trong quá trình và phải đợc chứng minh bằng các hồ sơ, biên bản, chơng trình,
kế hoạch, báo cáo Những hành động và tài liệu đó vừa phục vụ cho điều khiển chất
lợng, vừa phục vụ cho đảm bảo chất lợng. Việc đảm bảo chất lợng đợc áp dụng cho
khâu thiết kế, khâu mua sắm, khâu chế tạo và các khâu khác trong chu kỳ sống của
sản phẩm.
Vào năm 1925, khi A. Quarlis, Walter A. Shewart, Harold F. Dodge và Geoge D.
Edwards cùng hoạt động trong phòng thí nghiệm thì họ sáng tạo ra các phơng pháp
điều khiển chất lợng và đảm bảo chất lợng. Họ là những ngời luôn coi hoạt động
kiểm tra vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, họ đã tạo ra thuật ngữ đảm bảo chất l-
ợng khi đó, đảm bảo chất lợng đợc coi nh một hoạt động bổ sung trong công việc
của ngời thiết kế ở mức độ quan trọng nhất.
Từ năm 1925 đến năm 1941, các phơng pháp điều khiển chất lợng và đảm bảo
chất lợng cùng với việc áp dụng các phơng pháp thống kê đã đợc phát triển ở mức độ
đáng kể ở Mỹ và ở các nớc Phơng Tây. Đại chiến thế giới lần thứ 2 đã tạo ra những
nhu cầu cấp bách về sản xuất hàng loạt các nhu yếu phẩm và vũ khí ở Mỹ. Nhiều
ngành công nghiệp phát triển rất nhanh, thu hút nhiều nhân công lao động. Nhiều ch-
ơng trình đào tạo đợc phát triển phục vụ cho việc đảm bảo chất lợng công việc và sản
phẩm. Điều khiển thống kê chất lợng (SQC) đợc phát triển rộng rãi trong công
nghiệp. Trong thời kỳ này, tiến sĩ W. Edwards Deming (sau này trở thành chuyên gia
hàng đầu về chất lợng trên thế giới) đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc giảng
dạy về SQC tại các trờng, các cơ sở của Bộ nông nghiệp và Bộ Quốc phòng Mỹ. Cũng
trong thời kỳ này, các câu lạc bộ chất lợng, tạp chí về chất lợng, hội điều khiển chất l-
ợng cũng lần lợt ra đời ở Mỹ tạo tiền đề cho tiến trình phát triển quản lý chất lợng ở
trình độ cao hơn, nhanh hơn, rộng khắp hơn trong nửa cuối thế kỷ 20.
c. Quản lý chất lợng cục bộ và tổng hợp.
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
8
Luận văn tốt nghiệp
Những quan niệm mới về triển khai chức năng đảm bảo chất lợng đợc phát triển
và hoàn thiện dần cho tới ngày nay. Nhiều quan niệm đã nảy sinh nh một phản ứng
trớc những quan niệm tơng tự về chất lợng ở Nhật. Các quan niệm này đều gặp nhau
ở chỗ nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo chất lợng cho mọi nhân viên trong một tổ chức. A.
V. Feigenbaun là ngời đầu tiên đa ra thuật ngữ điều khiển chất lợng tổng hợp
(Total quality control) khi ông còn làm việc ở công ty General Electric. Quan điểm
của ông cho rằng trách nhiệm quản lý chất lợng thuộc về mọi phòng ban chứ không
chỉ là trách nhiệm riêng của phòng chất lợng. Tuy nhiên, trong nhiều năm, t tởng này
đã bị sao nhãng ở Mỹ và chỉ đến khi chất lợng hàng hoá của Nhật vơn lên dẫn đầu thế
giới vào cuối những năm 70, các kỹ s Mỹ mới tái phát hiện lại những ý tởng của
Feigenbaun để phổ cập trong các công ty Mỹ.
Nếu nh trong nửa đầu thế kỷ 20, quản lý chất lợng đợc phát triển mạnh ở Mỹ và
các nớc phơng Tây thông qua các hoạt động kiểm tra chất lợng, điều khiển chất lợng,
đảm bảo chất lợng thì trong nửa cuối thế kỷ 20, hoạt động quản lý chất lợng đã dần
mang tính hệ thống, tính đồng bộ, đi từ cục bộ tới tổng hợp, dẫn đến việc hình thành
các hệ thống chất lợng, tạo nên một bớc phát triển mới về chất lợng trong hoạt động
quản lý chất lợng ở nhiều nớc trên thế giới.
Các chuyên gia hàng đầu thế giới về chất lợng nh Deming, Juran, Feigenbaun,
Ishikawa, Taguchi đã có nhiều đóng góp tích cực trong việc hoàn thiện các ph ơng
pháp quản lý chất lợng theo hớng hệ thống hoá, đồng bộ hoá, tạo điều kiện để thiết
lập nên các hệ thống chất lợng thoạt đầu áp dụng trong phạm vi từng xí nghiệp, sau
khái quát thành những mô hình chung trong phạm vi quốc gia, dần mở rộng ra phạm
vi quốc tế trong những thập niên cuối của thế kỷ 20, từ đó đã xuất hiện thuật ngữ
quản lý chất lợng tổng hợp (TQM) bao trim các khái niệm điều khiển, đảm bảo và cải
tiến chất lợng nh chúng ta hiểu ngày nay.
Nh vậy, quản lý chất lợng với tên gọi ban đầu của nó là điều khiển chất lợng -
QC là phát minh của ngời Mỹ, thuật ngữ điều khiển chất lợng tổng hợp - TQC
cũng do ngời Mỹ đặt ra, nhng từ sau đại chiến thế giới lần 2, ngời Nhật đã nhanh
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
9
Luận văn tốt nghiệp
chóng học tập và rút ra đợc những điều bổ ích nhất đối với mình, họ đã thực hiện một
cách sáng tạo vào điều kiện thực tiễn của đất nớc mình, qua đó đã tạo nên phơng
thức quản lý chất lợng kiểu Nhật, đa ngành công nghiệp Nhật Bản đi lên bằng con đ-
ờng chất lợng, từ một vị trí thấp kém về chất lợng đã vơn lên dẫn đầu thế giới về chất
lợng sản phẩm. Đây là bài học bổ ích cho chúng ta trong việc tiếp thu những thành
tựu tiên tiến của nớc ngoài để đuổi kịp và vợt những ngời đi trớc, nỗ lực học tập và
ứng dụng nhng không dập khuôn một cách máy móc mà phải luôn phân tích, sáng tạo
theo điều kiện, hoàn cảnh của mình để tìm ra đợc con đờng đi thích hợp sao cho có
thể đuổi kịp và hội nhập vào cộng đồng thế giới trong một thời gian tơng đối ngắn.
2. Lịch sử phát triển quản lý chất lợng ở Việt Nam.
Lịch sử phát triển quản lý chất lợng ở Việt Nam gắn liền với tiêu chuẩn hoá, đo l-
ờng và chất lợng, đợc hình thành bởi các giai đoạn
a. Giai đoạn trớc năm 1973.
Đây là giai đoạn mà các hoạt động quản lý chất lợng sản phẩm thờng đợc tiến
hành phân tán trong các Bộ, các ngành, các xí nghiệp. Nhà nơc cha theo dõi hoạt
động quản lý chất lợng nh một lĩnh vực hoạt động đặc thù.
b. Giai đoạn từ năm 1973 cho đến những năm 80.
ở giai đoạn này các hoạt động quản lý chất lợng sản phẩm ở nớc ta đợc tiến hành
theo tinh thần của quyết định 159 TTg về công tác quản lý chất lợng sản phẩm và
hàng hoá do thủ tớng chính phủ ban hành ngày 7/7/1973. Quyết định này là văn bản
pháp qui đầu tiên ở nớc ta đề cập đến vấn đề quản lý chất lợng một cách đồng bộ, có
hệ thống do đó đã tạo điều kiện cho việc chỉ đạo và thực hiện công tác quản lý chất l-
ợng sản phẩm ở nớc ta phù hợp với cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Thực hiện quyết định 159 TTg đã mang lại những kết quả sau:
- Các hoạt động tiêu chuẩn hoá, đo lờng, kiểm tra chất lợng đợc tăng cờng, phối
hợp với nhau tạo nên một mạng lới từ TW đến địa phơng và các cơ sở. Việc sát nhập
Cục tiêu chuẩn, Cục đo lờng, Cục kiểm tra chất lợng sản phẩm hàng hoá và Viện định
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
10
Luận văn tốt nghiệp
chuẩn thành một cơ quan thống nhất cùng với việc hình thành 3 trung tâm kỹ thuật
khu vực và các chi cục TC - ĐL CL tại các tỉnh, thành phố đã tạo điều kiện thuận
lợi cho việc triển khai đồng bộ các hoạt động tiêu chuẩn, đo lờng, chất lợng trong cả
nớc. Đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất kỹ thuật đợc củng cố, phát huy đợc vai trò tích
cực trong việc thúc đẩy các hoạt động quản lý chất lợng trong cả nớc.
- Công tác thanh tra nhà nớc, công tác kiểm tra chất lợng sản phẩm đợc hình
thành và phát triển từ trung ơng đến cơ sở. Hầu hết các xí nghiệp quốc doanh đều
thành lập phòng kiểm tra chất lợng (KCS).
- Công tác đăng ký chất lợng đợc hình thành là hoạt động có tính đặc thù của n-
ớc ta.
- Công tác chứng nhận chất lợng đợc triển khai từ năm 1980 đã có tác động tích
cực tới việc khuyến khích các nhà sản xuất nâng cao chất lợng sản phẩm. Tính đến
giữa năm 1991 đã có 810 giấy chứng nhận chất lợng nhà nớc cấp cho gần một ngàn
loạt sản phẩm, cụ thể là của gần 300 cơ sở sản xuất bao gồm các xí nghiệp, nhà máy,
hợp tác xã, tổ sản xuất, công ty thuộc 13 bộ, tổng cục và 22 tỉnh thành.
- Công tác nghiên cứu khoa học, nghiệp vụ, tổng kết kinh nghiệm trong nớc, học
tập kinh nghiệm nớc ngoài, công tác thông tin, t liệu, đào tạo, xây dựng và thực hiện
các chơng trình đảm bảo và nâng cao chất lợng đợc chú trọng.
Tuy nhiên, ngoài những kết quả đạt đợc đó, nớc ta còn rất nhiều hạn chế, cha tạo
đợc sự chuyển biến đáng kể về chất lợng, do đó tình hình chất lợng sản phẩm nói
chung vẫn ở trạng thái yếu kém, bấp bênh không ổn định kéo dài nhiều năm.
c. Giai đoạn từ năm 1987 đến nay.
Khi đất nớc ta chuyển sang giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trờng có sự quản lý
của nhà nớc theo định hớng XHCN thì nội dung và phơng thức quản lý chất lợng đã
có nhiều thay đổi về cơ bản theo tinh thần của chỉ thị 222 CTngày 6/8/1988 của chủ
tịch hội đồng bộ trởng và theo tinh thần của pháp lệnh đo lờng ngày 6/7/1990 và pháp
lệnh chất lợng hàng hoá ngày 2/1/1991.
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
11
Luận văn tốt nghiệp
Hơn 10 năm đổi mới và hội nhập đã mang lại nhiều chuyển biến đáng phấn khởi.
Thị trờng hàng nội địa ngày càng đa dạng, phong phú, kiểu dáng bao bì đợc cải tiến,
chất lợng đợc nâng cao hơn trớc.
Tình hình chất lợng sản phẩm ngày càng ổn định và từng bớc đợc nâng cao trong
thập niên 90 chủ yếu là nhở ở chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần và mở cửa nền kinh tế nớc ta cùng với sự hăng hái, chủ động thực
hiện quá trình đổi mới kinh tế xã hội trong mọi ngành, mọi cấp từ sau Đại hội Đảng
lần thứ 6 tới nay.
Trong thời kỳ này có những nhân tố mới xuất hiện nh:
- Nhân tố tích cực của ngời lao động đợc phát huy mạnh mẽ so với thời kỳ thực
hiện kế hoạch hoá tập trung.
- Ngời sản xuất, ngời lu thông và ngời cung cấp dịch vụ đợc tháo gỡ khỏi những
trói buộc của cơ chế hành chính quan liêu, bao cấp, phát huy đợc quyền tự chủ,
sáng tạo trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Vai trò của ngời tiêu dùng ngày càng đợc đề cao và có tiếng nói quyết định
trên thị trờng.
- Cùng với quá trình cải tổ khu vực kinh tế nhà nớc, sự tham gia của các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh vào các hoạt động kinh doanh đã làm cho thị tr-
ờng hàng hoá nớc ta trở nên sôi động, nhộn nhịp và ngày càng phát triển theo
xu thế lành mạnh.
Các nhân tố này đã tạo nên những tiền đề quan trọng để cải thiện tình hình chất l-
ợng sản phẩm ở nớc ta. Tuy nhiên, những nhân tố này sẽ không phát huy đợc tốt nếu
thiết một nhân tố hết sức cơ bản là sự đổi mới chung và đổi mới về quản lý chất lợng
ở cấp nhà nớc cũng nh cấp doanh nghiệp nói riêng.
Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ này, nhiều phơng pháp quản lý chất lợng, hệ
chất lợng đã đợc giới thiệu ở Việt Nam. Trớc khi thống nhất đất nớc, ở Miền Nam đã
có những công ty áp dụng các phơng pháp quản lý chất lợng tổng hợp, trong số gần
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
12
Luận văn tốt nghiệp
300 cơ sở sản xuất của trung ơng và địa phơng đợc mang dấu chất lợng cấp I, và cấp
cao từ năm 1980 đến năm 1991 đã có không ít cơ sở đợc nghe giới thiệu về hệ thống
chế tạo không sai lỗi, hệ thống quản lý quản lý chất lợng tổng hợp Những cơ sở
này ít nhiều có vận dụng những yếu tố thích hợp của hệ này hoặc hệ khác vào điều
kiện của cơ sở mình.
Từ năm 1994 tới nay, hệ chất lợng theo ISO 9000 và nhiều hệ chất lợng khác cũng
đã đợc giới thiệu tơng đối rộng rãi ở Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn thờng có khá
đầy đủ các thông tin về hệ thống chất lợng nhng nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ th-
ờng còn thiếu thông tin về vấn đề này.
Năm 1996 là năm đầu tiên ở Việt Nam có doanh nghiệp đợc cấp giấy chứng nhận
đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000. Cho đến năm 1999 nớc ta có trên 40 doanh nghiệp
đợc cấp giấy chứng nhận đạt ISO 9000, trong đó đa số là các doanh nghiệp có vốn
100% của nớc ngoài, các liên doanh và phần lớn các doanh nghiệp đạt ISO 9002.
Sang năm 2000 những tháng đầu năm 2001, các doanh nghiệp áp dụng và đợc cấp
chứng chỉ đạt ISO 9000 của nớc ta tăng lên rất nhiều và phần lớn các doanh nghiệp
cũng vẫn áp dụng ISO 9002 vì đây là mô hình đảm bảo chất lợng phù hợp và không
khó áp dụng đối với các doanh nghiệp lần đầu tiên áp dụng ở nớc ta.
Mặc dù nớc ta đã có những doanh nghiệp duy trì đợc ý thức phấn đấu thờng xuyên
về chất lợng sản phẩm luôn chú ý đến việc học tập kinh nghiệm trong nớc và nớc
ngoài, biết cách lựa chọn mô hình thích hợp để vận dụng vào điều kiện của mình.
Đồng thời Tổng cục TCDLCL cùng các Bộ đã triển khai các hoạt động thông tin, t
liệu, đào tạo, hỗ trợ các xí nghiệp xây dựng và thực hiện các chơng trình đảm bảo và
nâng cao chất lợng sản phẩm, nhng trong bối cảnh chung còn có nhiều khó khăn thì
tình hình chất lợng của ta vẫn còn ở trình độ thấp, sự tiến bộ cha vững chắc, cha đồng
đều, cha phổ cập.
3. Bản chất của ISO 9000:2000.
a. ISO là gì?
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
13
Luận văn tốt nghiệp
ISO là tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá (International organization for
Standardization), đợc thành lập năm 1946 trên phạm vi toàn thế giới. ISO hoạt động
trên nhiều lĩnh vực nh văn hoá, khoa học, kỹ thuật, kinh tế, môi trờng, với mục đích
tạo thuận lợi cho giao thơng và phát triển hợp tác quốc tế. Trụ sở chính của ISO tại
Thụy Sĩ, ngôn ngữ sử dụng là tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha. ISO có
trên 100 thành viên thuộc các nớc khác nhau trên thế giới, Việt Nam là thành viên
chính thức của ISO từ năm 1977. Hoạt động chủ yếu của ISO là chuẩn bị, xây dựng
các tiêu chuẩn quốc tế ở nhiều lĩnh vực và ban hành để áp dụng.
b. ISO 9000 - Khái niệm và sự hình thành.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 là tập hợp, tổng kết và chuẩn hoá định hớng những thành
tựu và kinh nghiệm quản trị chất lợng của nhiều nớc, giúp cho việc quản trị các doanh
nghiệp, quản trị các định chế công ích một cách hiệu quả hơn.
Bộ ISO 9000 đợc hình thành trong một quá trình nh sau:
Năm 1955: Hiệp ớc Bắc Đại Tây Dơng (NATO) đã đa ra các tiêu chuẩn về đảm
bảo chất lợng tàu Apollo của NASA, máy bay Concorde của Anh Mỹ, tàu vợt Đại
Tây Dơng của nữ hoàng Anh Elizabeth.
Năm 1969: Tiêu chuẩn quốc phòng của Anh, Mỹ thừa nhận lẫn nhau về các hệ
thống đảm bảo chất lợng của những ngời thầu phụ thuộc các thành viên của NATO
(AQAP Allied Quality Assurance Procedures).
Năm 1979: Viện tiêu chuẩn Anh ban hành tiêu chuẩn BS 5750, đó là tiêu chuẩn
tiền thân của ISO 9000.
Năm 1987: ISO công bố lần đầu tiên bộ tiêu chuẩn ISO 9000, khuyến khích áp
dụng trong các nớc thành viên và trên toàn thế giới.
Năm 1994: ISO rà soát và chỉnh lý bộ ISO 9000, bổ sung thêm một số điều khoản
mới. Ngoài ra còn có tiêu chuẩn về bảo vệ môi trờng ISO 14000.
Năm 2000: Với 23 tiêu chuẩn thì bộ tiêu chuẩn ISO 9000:1994 quá cồng kềnh,
nhiều nội dung thiếu nhất quán gây lúng tong cho ngời sử dụng, hơn nữa nhóm mô
Vũ thị hồng vân QTCL 39 QTKDCN & XDCB
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét