Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Biện pháp thúc đẩy XK hàng hóa trong nền KTTT (ngành hàng thủy sản)

Xuất khẩu (XK) hàng hoá là một hoạt động nằm trong lĩnh vực phân phối và
lu thông hàng hoá của một quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết
sản xuất với tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra
giữa các cá thể riêng biệt mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự
điều hành của Nhà nớc.
Nền sản xuất xã hội của một nớc phát triển nh thế nào phụ thuộc rất lớn vào
lĩnh vực kinh doanh này. Chính vì vậy, nó có vai trò to lớn đến sự phát triển kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia, thể hiện:
3.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nớc:
Xuất khẩu sẽ mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ to lớn cho đất nớc, góp phần quan
trọng vào việc cải thiện cán cân ngoại thơng và cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại tệ.
Để thực hiện đờng lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, trớc hết chúng ta cần phải
nhập khẩu một số lợng lớn máy móc, trang thiết bị hiện đại từ bên ngoài nhằm trang bị
cho nền sản xuất. Nguồn vốn để nhập khẩu thờng dựa vào các nguồn chủ yếu là vay, viện
trợ, đầu t nớc ngoài và xuất khẩu. Nguồn vốn vay rồi cũng phải trả, còn viện trợ và đầu t n-
ớc ngoài thì có hạn, hơn nữa các nguồn này thờng bị phụ thuộc vào nớc ngoài; vì vậy
nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu chính là xuất khẩu.
3.2. Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy
sản xuất phát triển:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi. Sự
phát triển các ngành công nghiệp XK tác động đến các ngành công nghiệp cung cấp
đầu vào cho các ngành sản xuất, tạo ra "mối liên hệ ngợc" thúc đẩy sự phát triển của
các ngành này. Bên cạnh đó khi tích luỹ của các ngành kinh tế đợc nâng cao thì sản
phẩm thô sẽ tạo ra "mối liên hệ xuôi" là nguồn cung cấp đầu vào cho các ngành công
nghiệp chế biến và mối quan hệ này tiếp tục đợc phát triển. Xuất khẩu tạo ra khả năng
mở rộng thị trờng tiêu thụ, góp phần cho sản xuất ổn định và phát triển.
3.3. Xuất khẩu có vai trò kích thích đổi mới trang thiết bị và công nghệ
sản xuất:
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động hớng ra thị trờng thế giới, một thị trờng mà
ngày càng cạnh tranh quyết liệt. Sự tồn tại và phát triển của hàng hoá xuất khẩu
phụ thuộc rất lớn vào chất lợng, giá cả do đó phục thuộc rất lớn vào kỹ thuật, công
nghệ sản xuất chúng. Điều này thúc đẩy các doanh nghiệp trong nớc phải luôn
luôn đổi mới, luôn luôn tìm tòi, sáng tạo để cải tiến, nâng cao chất lợng công nghệ
sản xuất. Mặt khác, xuất khẩu trong nền kinh tế cạnh tranh còn đòi hỏi các doanh
nghiệp phải đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị sản xuất và kinh doanh, đòi
hỏi phải nâng cao tay nghề ngời lao động.
5
3.4. Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm và
cải thiện đời sống của nhân dân:
Thông qua hoạt động sản xuất hàng hoá xuất khẩu, với nhiều công đoạn khác
nhau đã thu hút hàng triệu lao động với thu nhập không thấp, tăng giá trị ngày
công lao động, tăng thu nhập quốc dân, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho ngời lao động.
3.5. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của nớc ta:
Đẩy mạnh xuất khẩu có vai trò tăng cờng sự hợp tác quốc tế với các nớc,
nâng cao địa vị và vai trò của nớc ta trên thơng trờng quốc tế xuất khẩu và công
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quỹ tín dụng, đầu t, mở rộng vận tải quốc
tế, Mặt khác chính các quan hệ kinh tế đối ngoại mà chúng ta vừa kể ở trên lại
tạo tiền đề cho việc mở rộng xuất khẩu.
Có thể nói, xuất khẩu không chỉ đóng vai trò chất xúc tác hỗ trợ phát triển
kinh tế mà nó còn cùng với hoạt động nhập khẩu nh là yếu tố bên trọng trực tiếp
tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thuộc nội bộ nền kinh tế nh: vốn, kỹ
thuật, lao động, nguồn tiêu thụ thị trờng,
Tóm lại: thông qua xuất khẩu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội
bằng việc mở rộng trao đổi, thúc đẩy việc tận dụng các lợi thế các tiềm năng của
đất nớc và tranh thủ đón bắt thời cơ, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, rút
ngắn sự chênh lệch về trình độ phát triển của Việt Nam so với thế giới.
II-/ Những hình thức và nội dung kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
1-/ Những hình thức kinh doanh xuất khẩu chủ yếu:
Theo thuật ngữ chung, TMQT là quá trình trao đổi mua bán hàng hoá và dịch
vụ vợt ra khỏi biên giới một quốc gia để thiết lập quan hệ với nớc khác. Thuật ngữ
này nhấn mạnh đến tính khác biệt về giới hạn địa lý giữa các quốc gia. Ngày nay,
TMQT đã phát triển ở khắp mọi nơi, mọi lĩnh vực trên thế giới dới các hình thức
rất đa dạng và phong phú. Điều này đã dẫn đến một yêu cầu là phải đa ra đợc một
định nghĩa mới bao hàm đợc toàn bộ nội dung cũng nh hình thức TMQT. Ngời ta
đi đến thống nhất với nhau rằng, TMQT là lĩnh vực trao đổi hàng hoá và dịch vụ
giữa các chủ thể mang quốc tịch khác nhau, không phân biệt thời gian và địa
điểm. Theo t duy mới này, mọi hoạt động chuyển giao quyền sở hữu giữa các chủ
thể ở các quốc gia khác nhau với mục đích sinh lời đều đợc coi là hoạt động
TMQT.
6
Xuất khẩu hàng hoá là một bộ phận rất quan trọng của TMQT. Trong nền
kinh tế thị trờng ngày nay thì lĩnh vực hoạt động này đợc biểu hiện dới nhiều hình
thức rất khác nhau. Theo quy định của Nghị định 33 CP (19/4/1994) lĩnh vực kinh
doanh này bao gồm các hình thức chủ yếu sau:
- Xuất khẩu hàng hoá dới các hình thức trao đổi hàng hoá, hợp tác sản xuất
và gia công quốc tế.
- Xuất khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ, vật t, phụ tùng cho sản xuất.
- Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
- Làm các dịch vụ nh đại lý, nhận uỷ thác xuất khẩu cho các tổ chức kinh tế
nớc ngoài.
- Hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế Việt Nam ở nớc ngoài hợp
tác sản xuất và gia công quốc tế.
2-/ Nội dung của kinh doanh xuất khẩu hàng hoá:
Xuất khẩu là hoạt động hết sức phức tạp và chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố
khác nhau. Hoạt động xuất khẩu phải trải qua nhiều khâu ràng buộc lẫn nhau và
đòi hỏi nhà kinh doanh phải hết sức thận trọng, linh hoạt để nắm bắt đợct hời cơ,
giảm rủi ro và thu về lợi nhuận cao nhất. Tuỳ theo các loại hình xuất khẩu khác
nhau mà số bớc thực hiện cũng nh cách thức tiến hành có những nét đặc trng
riêng. Song trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá trực tiếp thì nội dung cơ bản của
xuất khẩu có thể đợc thực hiện bởi các vấn đề sau:
2.1. Nghiên cứu thị trờng:
Nghiên cứu thị trờng là một việc làm cần thiết đầu tiên đối với bất cứ một công
ty nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới. Việc nghiên cứu thị trờng tốt sẽ tạo khả
năng cho các nhà kinh doanh nhận ra đợc quy luật vận động của từng loại hàng hoá
cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, hàng cung ứng, giá cả thị trờng, qua đó giúp
nhà kinh doanh giải quyết đợc các vấn đề của thực tiễn kinh doanh nh yêu cầu của thị
trờng, khả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh hàng hoá.
Nội dung chính của nghiên cứu thị trờng là xem xét khả năng xâm nhập và
mở rộng thị trờng. Nghiên cứu thị trờng đợc thực hiện theo hai bớc là nghiên cứu
khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trờng. Nghiên cứu thị trờng thờng đợc tiến
hành theo hai phơng pháp chính là phơng pháp nghiên cứu tại bàn và phơng pháp
nghiên cứu tại hiện trờng. Thông thờng nghiên cứu thị trờng bao gồm các công
việc sau:
Một là: nghiên cứu thị trờng, bao gồm phân tích tình hình cung, cầu và
những điều kiện của thị trờng nh quy chế pháp lý,
Hai là: lựa chọn đối tác buôn bán, cần tìm hiểu quan điểm kinh doanh, lĩnh
vực kinh doanh, khả năng vốn và cơ sở vật chất của đối tác,
7
2.2. Lập phơng án kinh doanh:
Trên cơ sở những kết quả thu đợc trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị tr-
ờng đơn vị kinh doanh lập phơng án kinh doanh cho mình. Việc xây dựng phơng
án bao gồm: Đánh giá tình hình thị trờng và thơng nhân, phác hoạ bức tranh tổng
hợp về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn, lựa chọn mặt hàng,
thời cơ, điều kiện và phơng thức kinh doanh, đề ra mục tiêu cụ thể, đề ra biện pháp
và công cụ thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra, và sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh
tế của việc kinh doanh.
2.3. Tạo nguồn hàng xuất khẩu:
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty, một địa phơng, một
vùng hoặc toàn bộ đất nớc có khả năng và bảo đảm điều kiện xuất khẩu đợc, nghĩa là
nguồn hàng xuất khẩu phải đảm bảo những yêu cầu về chất lợng quốc tế.
Công tác thu mua tạo nguồn hàng ảnh hởng trực tiếp đến chất lợng của hàng
xuất khẩu và tiến độ giao hàng, đến việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu, uy tín của
doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh. Công tác thu mua tạo nguồn hàng có thể
tiến hành qua các hình thức nh: thu mua tạo nguồn hàng theo hợp đồng, không
theo hợp đồng, thông qua liên doanh, liên kết với các đơn vị sản xuất, qua đại lý,
Các công việc thực hiện nh: Nghiên cứu nguồn hàng xuất khẩu, tổ chức hệ thống
thu mua, ký kết hợp đồng, xúc tiến, khai thác nguồn hàng, tiếp nhận, bảo quản và
xuất kho giao hàng xuất khẩu.
2.4. Thanh toán trong kinh doanh xuất khẩu hàng hoá:
Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong kinh doanh xuất khẩu hàng
hoá. Hiệu quả kinh tế trong lĩnh vực kinh doanh này một phần lớn nhờ vào chất lợng
của việc thanh toán. Trong xuất khẩu hàng hoá, thanh toán phải xem xét đến các vấn
đề sau đây: tỷ giá hối đoái, các điều kiện đảm bảo hối đoái, tiền tệ trong thanh toán
quốc tế, thời hạn trong thanh toán, các phơng thức và hình thức thanh toán quốc tế.
2.5. Giao dịch - đàm phán - ký kết hợp đồng xuất khẩu:
2.5.1. Các hình thức giao dịch:
Trên thị trờng thế giới tồn tại nhiều phơng thức giao dịch, mỗi phơng thức
giao dịch có những đặc điểm riêng với kỹ thuật giao dịch riêng. Căn cứ vào mặt
hàng dự định xuất khẩu, đối tợng, thời gian giao dịch và năng lực của ngời tiến
hành giao dịch, mà doanh nghiệp chọn phơng thức giao dịch phù hợp. Thông th-
ờng có các hình thức giao dịch sau: giao dịch trực tiếp, giao dịch qua th tín, giao
dịch qua điện thoại.
8
2.5.2. Đàm phán và nghệ thuật đàm phán:
Đàm phán trong kinh doanh bất kỳ một loại hình nào, đều là một nghệ thuật.
Trong kinh doanh TMQT, các chủ thể đàm phán từ các quốc gia khác nhau, với
ngôn ngữ và tập quán trong kinh doanh cũng khác nhau làm cho việc đàm phán
phức tạp hơn. Quá trình đàm phán về các điều kiện của hợp đồng ngoại thơng là
cơ sở để đi đến ký kết hợp đồng. Bên cạnh đó, những tranh chấp trong TMQT đòi
hỏi chi phí cao, Chính vì vậy, đàm phán kinh doanh xuất nhập khẩu càng đòi hỏi
phải tinh tế, khéo léo.
2.5.3. Ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá:
Đối với quan hệ mua bán hàng hoá, sau khi các bên mua và bán tiến hành
giao dịch và đàm phán có kết quả thì phải thực hiện lập và ký kết hợp đồng.
Hợp đồng thể hiện bằng văn bản là hình thức bắt buộc đối với các đơn vị xuất
nhập khẩu ở nớc ta. Đây là hình thức tốt nhất để đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên.
Hợp đồng xác nhận trách nhiệm rõ ràng của bên mua và bên bán tránh đợc những
biểu hiện không đồng nhất trong ngôn từ hay quan niệm. Trớc khi ký kết bất kỳ
một hợp đồng kinh doanh xuất khẩu nào, nhà xuất khẩu cần lu ý đến các khía cạnh
dới đây:
Thứ nhất là tính hợp pháp của hợp đồng xuất khẩu, thể hiện: Ngời ký hợp
đồng phải có năng lực hành vi, chủ thể của hợp đồng phải hoàn toàn tự nguyện,
nội dung của hợp đồng phải hợp pháp,
Thứ hai là nội dung các điều khoản của hợp đồng. Một hợp đồng ngoại thơng
thông thờng gồm có các điều khoản nh: điều khoản tên hàng, điều khoản về phẩm
chất, điều khoản về số lợng, điều khoản giao hàng, điều khoản giá cả, điều kiện cơ
sở giao hàng, điều khoản thanh toán, điều khoản bao bì, ký mã hiệu, điều khoản
bảo hành, phạt, bồi thờng thiệt hại, điều khoản bảo hiểm, điều khoản về bất khả
kháng, điều khoản về xử lý và giải quyết tranh chấp và các điều khoản khác nh: lệ
phí, thuế quan,
2.6. Thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
Thực hiện hợp đồng xuất khẩu là một quá trình có ảnh hởng rất lớn đến hiệu
quả kinh tế của hoạt động kinh doanh xuất khẩu, đồng thời nó cũng ảnh hởng đến
uy tín của doanh nghiệp và các mối quan hệ với bạn hàng ở các nớc. Bất kỳ một
sai sót nào xảy ra trong quá trình thực hiện các hợp đồng xuất khẩu đều có thể dẫn
đến những hậu quả đáng tiếc nh làm chậm tiến độ hợp đồng, suy giảm chất lợng
hàng hoá, dẫn đến những tranh chấp khiếu nại rất khó giải quyết, gây tổn thất về
mặt kinh tế. Vì vậy tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu đòi hỏi phải tiến hành
chu đáo, có bài bản trên cơ sở tiết kiệm tối đa các khâu chi phí, nhằm nâng cao lợi
nhuận từ hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
9
Nội dung trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu nh sau:
1. Kiểm tra L/C.
2. Xin giấy phép xuất khẩu (nếu có).
3. Chuẩn bị hàng hoá xuất khẩu.
4. Thuê tàu và mua bảo hiểm cho hàng hoá (nếu đợc quyền).
5. Làm thủ tục hải quan.
6. Giao hàng lên tàu.
7. Làm thủ tục thanh toán.
8. Khiếu nại, trọng tài (nếu có).
III-/ Những nhân tố chủ yếu ảnh hởng đến hoạt động xuất khẩu
hàng hoá.
A-/ Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp:
Mỗi một chủ thể hoạt động trong xã hội đều chịu sự chi phối nhất định các môi
trờng bao quanh nó. Đó là tổng hợp các yếu tố có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp qua
lại lẫn nhau. Chính những nhân tố này quy định xu hớng và trạng thái hành động của
chủ thể. Trong kinh doanh TMQT, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu, các doanh
nghiệp xuất khẩu phải chịu sự chi phối của các nhân tố bên trong lẫn nhân tố bên ngoài
nớc. Các nhân tố này thờng xuyên biến đổi, và vì vậy làm cho hoạt động kinh doanh
xuất khẩu ngày càng phức tạp hơn. Để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh đòi hỏi
các nhà kinh doanh phải nắm bắt và phân tích đợc ảnh hởng của từng nhân tố cá biệt
tới hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể.
1-/ Nhân tố kinh tế - xã hội trong nớc:
1.1. Trạng thái của nền kinh tế trong nớc:
a-/ Dung l ợng sản xuất:
Dung lợng sản xuất thể hiện số lợng đầu mối tham gia vào sản xuất hàng xuất
khẩu và với số lợng sản xuất lớn thì nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp
xuất khẩu trong công tác tạo nguồn hàng; song cũng trong thuận lợi đó, doanh
nghiệp có thể phải đơng đầu với tính cạnh tranh cao hơn trong việc tìm bạn hàng
xuất khẩu và nguy cơ phá giá hàng hoá bán ra thị trờng thế giới.
b-/ Tình hình nhân lực:
Một nớc có nguồn nhân lực dồi dào là điều kiện thuận lợi để các doanh
nghiệp trong nớc xúc tiến các mặt hàng xuất khẩu có sử dụng sức lao động. Nớc ta
nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ là điều kiện thuận lợi để xuất khẩu các
sản phẩm sử dụng nhiều lao động nh hàng thủ công mỹ nghệ, may mặc, giày
dép, và nhận gia công xuất khẩu.
c-/ Nhân tố công nghệ:
10
Ngày nay, khoa học công nghệ tác động đến tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội và
mang lại nhiều lợi ích, trong xuất khẩu nó cũng mang lại hiệu quả cao. Nhờ sự phát
triển của hệ thống bu chính viễn thông, các doanh nghiệp ngoại thơng có thể đàm thoại
trực tiếp với khách hàng qua telex, điện tín, fax, giảm bớt những chi phí đi lại, xúc
tiến hoạt động xuất khẩu. Giúp các nhà kinh doanh nắm bắt các thông tin về diễn biến
thị trờng một cách chính xác, kịp thời. Bên cạnh đó, yếu tố công nghệ còn tác động tới
quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng xuất khẩu. Khoa học công nghệ còn tác
động tới các lĩnh vực nh vận tải hàng hoá, các kỹ thuật nghiệp vụ trong ngành ngân
hàng, Đó cũng chính là các yếu tố tác động tới hoạt động xuất khẩu.
d-/ Cơ sở hạ tầng:
Cơ sở hạ tầng là yếu tố không thể thiếu nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động
xuất khẩu. Cơ sở hạ tầng bao gồm: đờng sá, bến bãi, hệ thống vận tải, hệ thống
thông tin, hệ thống ngân hàng, có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động xuất khẩu.
Nếu các hệ thống nàylà hiện đại sẽ thúc đẩy hiệu quả xuất khẩu, ngợc lại nó sẽ
kìm hãm tiến trình xuất khẩu.
1.2. Các chính sách và quy định của Nhà nớc:
Thông qua việc đề ra các chính sách và quy định, Nhàn ớc thiết lập môi trờng
pháp lý nhằm điều chỉnh các hoạt động của các doanh nghiệp, nên nó ảnh hởng rất
lớn đến hoạt động xuất khẩu. Chúng ta có thể xem xét tác động của các chính sách
đó dới các khía cạnh sau:
a-/ Tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là quan hệ so sánh tỷ lệ giữa giá trị của hai đồng tiền của hai
nớc với nhau.
Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố quan trọng thực hiện
chiến lợc hớng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Chế độ tỷ giá "cứng" có thể tác động tích
cực đến tăng trởng xuất khẩu một cách cụ bộ thông qua việc giảm giá đầu vào nhập
khẩu của hàng xuất khẩu, song đây chỉ là tác động cục bộ. Tỷ giá hối đoái tác động
đến giá cả từng mặt hàng xuất khẩu. Nếu tỷ giá hối đoái đợc xác định mang tính cạnh
tranh cao (tỷ giá "mềm") thì các nhà xuất khẩu sẽ có lợi do bán đợc nhiều hàng hơn
ra nớc ngoài. Ngợc lại, nếu đồng Việt Nam bị nâng giá thì hàng xuất khẩu lại trở nên
quá đắt trong khi hàng nhập khẩu lại quá rẻ. Ngời ta đã rút ra một kết luận khá tổng
quát rằng: bất cứ nớc nào muốn thúc đẩy tăng trởng chung bằng động lực xuất khẩu
cũng đều phải thận trọng để tránh có một tỷ giá hối đoái bị nâng cao. Khi xem xét
vấn đề tỷ giá, cần đặc biệt lu tâm đến mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái danh nghĩa và
tỷ giá hối đoái thực tế. Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ giá danh nghĩa đợc điều chỉnh
theo biến động của lạm phát. Tỷ giá hối đoái thực tế có thể chênh lệch khá nhiều so
với tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Nếu tỷ giá hối đoái thực tế tăng so với tỷ giá hối đoái
danh nghĩa thì các nhà xuất khẩu các sản phẩm sơ chế, là nời bán theo mức giá cả
11
quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát của họ sẽ bị thiệt. Các nhà xuất khẩu các sản phẩm
chế tạo có thể làm tăng giá cả xuất khẩu của họ để bù đắp lại chi phí nội địa cao hơn,
nhng kết quả khả năng chiếm lĩnh thị trờng sẽ giảm. Họ chỉ có thể giữ nguyên mức
giá tính theo ngoại hối và lợi nhuận thấp. Nếu tình trạng ngợc lại là tỷ giá hối đoái
thực tế giảm so với tỷ giá hối đoái danh nghĩa, khi đó sẽ có lợi cho các nhà xuất khẩu.
b-/ Thuế quan và quota:
Khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất trong nớc tại thị trờng xuất khẩu
cũng chịu ảnh hởng trực tiếp của thuế xuất khẩu và quota. Thuế xuất khẩu có xu
thế làm giảm xuất khẩu và do đó làm giảm nguồn ngoại tệ của đất nớc. Còn quota
là hình thức hạn chế về số lợng xuất khẩu có tác động một mặt làm giảm số đầu
mối tham gia xuất khẩu trực tiếp, mặt khác tạo cơ hội thuận lợi cho những ngời
xin đợc quota xuất khẩu.
c-/ Các chính sách khác của Nhà n ớc:
Các chính sách khác của Nhà nớc nh xây dựng các mặt hàng chủ lực, trực
tiếp gia công xuất khẩu, đầu t cho xuất khẩu, lập các khu chế xuất, các chính sách
tín dụng xuất khẩu, chính sách trợ cấp xuất khẩu cũng góp phần to lớn tác động tới
tình hình xuất khẩu của một quốc gia. Bên cạnh các chính sách trên, nhóm các
chính sách hỗ trợ mang tính thể chế - tổ chức, các khung pháp lý và hệ thống hành
chính cũng là một trong các nhân tố tác động trựng tiếp tới hoạt động xuất khẩu
của các doanh nghiệp
2-/ Nhân tố tài nguyên thiên nhiên và địa lý:
Nguồn tài nguyên thiên nhiên là một trong những nhân tố quan trọng làm cơ
sở cho quốc gia xây dựng cơ cấu ngành và vùng để xuất khẩu. Nó góp phần ảnh h-
ởng đến loại hàng, quy mô hàng xuất khẩu của quốc gia. Vị trí địa lý có vai trò nh
là nhân tố tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển kinh tế cũng nh xuất khẩu
của một quốc gia. Vị trí địa lý thuận lợi là điều kiện cho phép một quốc gia tranh
thủ đợc phân công lao động quốc tế, hoặc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ nh du lịch,
vận tải, ngân hàng,
3-/ ảnh hởng của tình hình kinh tế - xã hội thế giới:
Trong xu thế toàn cầu hoá thì phụ thuộc giữa các nớc ngày càng tăng, vì vậy
mà mỗi sự biến động của tình hình kinh tế xã hội ở nớc ngoài đều có những ảnh h-
ởng nhất định đến hoạt động kinh tế trong nớc. Lĩnh vực hoạt động xuất khẩu là
lĩnh vực trực tiếp quan hệ với các chủ thể nớc ngoài, chịu sự chi phối và tác động
của các nhân tố ở nớc ngoài nên nó lại càng rất nhạy cảm. Bất kỳ một sự thay đổi
nào về chính sách xuất khẩu, tình hình lạm phát, thất nghiệp hay tăng trởng và suy
thoái kinh tế của các nớc đều ảnh hởng tới hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp xuất khẩu ở nớc ta.
12
B-/ Nhóm nhân tố thuộc bản thân doanh nghiệp:
1-/ Nhân tố bộ máy quản lý hay tổ chức hành chính:
Là sự tác động trực tiếp của các cấp lãnh đạo xuống cán bộ công nhân viên
nhằm mục đích buộc phải thực hiện một hoạt động. Để quản lý tập trung thống
nhất phải sử dụng phơng pháp hành chính. Việc thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ
máy doanh nghiệp cũng nh cách thức điều hành của các cấp lãnh đạo là nhân tố
quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh. Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổ
chức hợp lý, cách điều hành sáng suốt sẽ góp phần thúc đẩy hiệu quả hoạt động
kinh doanh, ngợc lại nếu cơ cấu tổ chức không hợp lý, không thống nhất, cách
điều hành kém sẽ dẫn đến hiệu quả thấp trong hoạt động kinh doanh.
2-/ Nhân tố con ngời:
Con ngời luôn đợc đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt động. Hoạt động xuất
khẩu hàng hoá đặc biệt phải nhấn mạnh đến yếu tố con ngời bởi vì nó là chủ thể sáng
tạo và trực tiếp điều hành các hoạt động, ảnh hởng của nhân tố này thể hiện qua hai
chỉ tiêu chủ yếu nhất, đó là tinh thần làm việc và năng lực công tác. Tinh thần làm
việc đợc biểu hiện bởi bầu không khí trong doanh nghiệp, tinh thần đoàn kết và ý chí
phấn đấu cho mục tiêu chung. Năng lực của nhân viên lại biểu hiện qua kỹ năng điều
hành, công tác các nghiệp vụ cụ thể và qua kết quả của hoạt động. Để nâng cao vai
trò của con ngời, các doanh nghiệp một mặt phải chú trọng đào tạo cán bộ, công nhân
viên, bồi dỡng và nâng cao nghiệp vụ của họ, mặt khác phải quan tâm thích đáng đến
lợi ích cá nhân, bao gồm cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần.
3-/ Mạng lới kinh doanh của doanh nghiệp:
Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp ngoại thơng phụ thuộc rất lớn vào hệ
thống mạng lới kinh doanh của nó. Một mạng lới kinh doanh rộng lớn, với các điểm
kinh doanh đợc bố trí hợp lý là điều kiện để doanh nghiệp thực hiện các hoạt động
nh tạo nguồn hàng, vận chuyển, làm đại lý xuất khẩu, một cách thuận tiện hơn và
do đó góp phần nâng cao hơn hiệu quả kinh doanh xuất khẩu. Nếu mạng lới kinh
doanh là quá thiếu hoặc bố trí ở các điểm không hợp lý sẽ gây cản trở cho hoạt động
kinh doanh, làm triệt tiêu tính năng động và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
trên thơng trờng.
4-/ Khả năng cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp:
Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp nh vốn cố định bao gồm các máy
móc, thiết bị chế biến, hệ thống kho hàng, hệ thống phơng tiện vận tải, các điểm
thu mua hàng, các đại lý, chi nhánh và trang thiết bị của nó cùng với vốn lu động
là cơ sở cho hoạt động kinh doanh. Các khả năng này quy định quy mô, tính chất
của lĩnh vực hoạt động xuất khẩu, và vì vậy cũng góp phần quyết định đến hiệu
quả kinh doanh.
13
phần II
phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh xuất khẩu
hàng thuỷ sản trong nền kinh tế quốc dân
I-/ Tình hình xuất khẩu ở nớc ta:
1-/ Kim ngạch xuất khẩu:
Từ năm 1986 đến nay, dới sự khởi xớng của Đảng và Nhà nớc, con đờng đổi
mới ở Việt Nam đã thu đợc nhiều thành tựu đáng kể, nền kinh tế đã đi vào thế ổn
định và đang phát triển đi lên, quan hệ quốc tế đợc mở rộng. Trong giai đoạn này,
kim ngạch xuất khẩu cũng không ngừng gia tăng, đóng góp một phần đáng kể cho
GDP. Với chính sách hớng về xuất khẩu, xuất khẩu đã và đang trở thành một trong
những nhân tố quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nớc.
Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn (1986 - 1999)
Đơn vị: triệu USD
Năm 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
kim
ngạch
677,8 723,9 833,5 1524 1815 2082 2475 3000 3600 5500 7100 8700 9352 11000
% tăng 6,8 15,1 82,9 19,0 14,7 18,9 21,2 20,0 52,8 29,0 22,5 7,5 17,5
Nguồn: Niên giám thống kê 1997 + 1998 và dự báo năm 1999
Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu đã tăng liên tục từ 20-30% một
năm. Năm 1996, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 0,6778 tỷ USD thì đến năm 1998
giá trị xuất khẩu đã đạt trên 9,352 tỷ USD, tăng hơn 13,8 lần. Dự báo kim ngạch
xuất khẩu năm 1999 là 11 tỷ USD tăng 17,5% so với năm 1998 vợt 10,5% kế
hoạch; trong đó: Doanh nghiệp Việt Nam là 8,55 tỷ USD chiếm 77,7%, tăng
15,8%. Doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài là 2,55 tỷ USD, chiếm 22,3%, tăng
23,6%.
Riêng năm 1989 xuất khẩu tăng 82,9% so với năm 1998, là năm có tốc độ
tăng cao nhất, năm 1998 mặc dù không nằm trong trung tâm cơn bão tài chính tiền
tệ khu vực nhng ảnh hởng rất nặng nề đến Việt Nam, đó là kim ngạch ngoại thơng
giảm đột ngột xuống còn 7,5% so với năm 1997. Do trong kim ngạch ngoại thơng
Việt Nam có tới trên 60% là giao dịch với các nớc Châu á và 70% vốn đầu t nớc
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét