Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

556 Nâng cao chất lượng công tác huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bắc Hà Nội (56tr)

Khoá luận tốt nghiệp
Hoạt động NH ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trờng
chứng khoán đòi hỏi hình thành nên những NH, những trung gian tài chính chuyên
hoạt động trong một lĩnh vực nào đó, phân chia NH trung gian thành các NH hoạt
động trong lĩnh vực riêng: NHTM, NH đầu t, NH phát triển
Đặc trng NH đợc thể hiện rõ nhất các loại hình NHTM thông qua các chức
năng sau:
Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội.
Chức năng trung gian thanh toán.
Chức năng làm trung gian tín dụng.
Chức năng tạo tiền.
NH làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của
khách hàng nh trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá,
dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các
khoản thu khác theo lệnh của họ.
NH thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sở nó thực hiện chức
năng làm thủ quỹ cho xã hội.Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên
tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để NH thực hiện vai trò trung gian
thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh
tế có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn,
đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua NH.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng với nền kinh tế.
Trớc hết thanh toán không dùng tiền mặt qua NH góp phần tiết kiệm chi phí
lu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. Khả năng lựa chọn hình thức
thanh toán thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán chính xác hiệu
quả. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển
vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội.
Mặt khác, việc cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất
lợng làm tăng uy tín cho NH và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi.
Chu chuyển tiền tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do
vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán đợc hoàn thiện thì vai trò của NHTM
mới đợc nâng cao hơn với t cách là ngời thủ quỹ cho xã hội.
Khoá luận tốt nghiệp
1.2 Khái niệm, sự cần thiết và ý nghĩa thanh toán vốn giữa các NHTM.
Khái niệm: Thanh toán vốn giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa
các chi nhánh NH trong cùng hệ thống hoặc giữa các NH khác hệ thống phát sinh
trên cơ sở đáp ứng yêu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ và điều chuyển của các
đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân
NH.
Sự cần thiết thanh toán vốn giữa các NH: Hoạt động kinh tế ngày càng phát
triển, theo đó là sự phát triển của thanh toán tiền tệ trong nớc và quốc tế. Mối quan
hệ ngày càng đa dạng, điều đó không chỉ đòi hỏi sự gia tăng hoạt động của hệ
thống ngân hàng nói chung mà còn làm cho hoạt động thanh toán vốn giữa các
NH ngày càng trở nên cần thiết. Điều đó thể hiện nh sau:
Nền kinh tế ngày càng phát triển thì việc trao đổi hàng hoá dịch vụ không chỉ
bó hẹp ở một địa phơng mà nó còn mở rộng ra mọi miền đất nớc. Hiện nay nhiều
hệ thống NHTM và các tổ chức tín dụng khác nhau có mạng lói chi nhánh trong
toàn quốc. Bên cạnh đó, khách hàng đợc quyền lựa chọn NH để mở tài khoản cho
mình. Do đó thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ giữa ngời mua và ngời bán qua hai
NH khác nhau là rất cần thiết.
Việc cấp chuyển vốn, kinh phí, chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ ngân sách
diễn ra thờng xuyên, liên tục đòi hỏi phải có nghiệp vụ thanh toán giữa các NH
để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển vốn trong nền kinh tế.
Ngân hàng, tổ chức tín dụng không chỉ là nơi cung ứng các dịch vụ thanh
toán mà còn là chủ thể tổ chức tham gia vào hệ thống thanh toán. Thực hiện việc
thanh toán trong phạm vi nội bộ của chính hệ thống các NH nh: điều chuyển vốn,
cấp vốn, chuyển nhợng tài sản, nộp khấu hao, chuyển lãi lỗ Đảm bảo cho việc
quản lý và sử dụng vốn đợc khép kín trong từng hệ thống NHTM. Điều này đòi
hỏi phải có thanh toán vốn giữa các NH với nhau.
Để làm tốt các nghiệp vụ trên, thanh toán giữa các NH ra đời là một tất yếu.
Nó giúp cho việc thanh toán các khoản nợ giữa các tác nhân trong nền kinh tế một
cách dễ dàng, nhanh chóng, đem lại hiệu quả to lớn cho kinh tế-xã hội.
Khoá luận tốt nghiệp
ý nghĩa :
Thanh toán giữa các NH là hành lang cho thanh toán không dùng tiền mặt
phát triển.
Thanh toán giữa các NH góp phần phục vụ sản xuất, lu thông hàng hoá phát
triển, bởi nếu tổ chức tốt nghiệp vụ thanh toán giữa các NH sẽ đảm bảo cho thanh
toán nhanh, chính xác, an toàn. Từ đó giúp cho các doanh nghiệp, cá nhân thu hồi
vốn nhanh, đầy đủ để tiếp tục chu kỳ sản xuất kinh doanh tiếp theo.
Thể hiện chức năng tập trung vốn trong thanh toán của NH trong nền kinh tế
quốc dân là NH đã phát huy đợc vai trò giám đốc đối với nền kinh tế, nâng cao uy
tín, góp phần tăng cờng vai trò làm trung gian thanh toán cho nền kinh tế.
Thực hiện thanh toán giữa các NH giúp cho NH và các TCTD thu hút đợc l-
ợng vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân c để cho
vay phục vụ phát triển kinh tế, tăng trởng nguồn vốn cho NH. Ngoài ra thông qua
các dịch vụ thanh toán của mình, đã tiết kiệm đợc chi phí trong lu thông, chi phí
bảo quản, hạn chế tham ô, lợi dụng, bảo vệ an toàn tài sản Bởi lẽ trong quá trình
thanh toán ngời mua không phải mang một lợng tiền mặt rất lớn để thanh toán cho
ngời bán mà thực hiện thanh toán thông qua các dịch vụ thanh toán qua NH.
Thanh toán giữa các NH không chỉ tạo điều kiện cho các NH tổ chức quản lý
vốn và điều hoà vốn có hiệu quả trong cả nớc mà còn tạo điều kiện nối liền các cơ
sở NH thành một hệ thống chặt chẽ và điều hoà vốn trong nội bộ hệ thống NH.
Điều đó làm tăng tốc độ vòng quay vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tránh tình
trạng có NH thừa vốn mà vẫn phải trả lãi tiền gửi cho khách hàng, trong khi đó lại
có NH thiếu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, bỏ lỡ các cơ hội kinh doanh có thể
thu đợc nguồn lợi lớn.Thông qua điều chuyển vốn, NH thiếu vốn vẫn giữ đợc
khách hàng và tiến hành hoạt động kinh doanh trôi chẩy, chi nhánh thừa vốn vẫn
có thu nhập từ nguồn vốn thừa do hởng lãi suất điều hoà.
1.3 Điều kiện thanh toán giữa các NH.
Nh ta đã biết, thanh toán giữa các NH là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các
chi nhánh ngân hàng khác nhau trong cùng hệ thống để đáp ứng yêu cầu thanh
toán không dùng tiền mặt và chuyển vốn trong nền kinh tế và chuyển vốn giữa các
NH trong cùng hệ thống và khác hệ thống. Vì vậy điều kiện thanh toán giữa các
NH là:
Khoá luận tốt nghiệp
Điều kiện pháp lý: Phải xây dựng đợc hệ thống pháp lý ổn định và tin cậy,
thể lệ và chế độ đồng bộ, tạo cơ sở vững chắc để tổ chức nghiệp vụ thanh toán. Hệ
thống pháp lý chặt chẽ là cơ sở để giải quyết các tranh chấp nẩy sinh và ngăn ngừa
các sai phạm trong thanh toán.
Thực hiện thanh toán qua tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng khác phải có sự
thoả thuận bằng văn bản của hai ngân hàng chủ quản, đồng thời phải theo đúng
nguyên tắc mở và sử dụng tài khoản. Thanh toán kịp thời, cập nhật chính xác, an
toàn tài sản, không đợc chiếm dụng vốn lẫn nhau.
Đối với uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ phải có văn bản thoả thuận và cam kết chặt
chẽ giữa hai ngân hàng. Bảo đảm sự tín nhiệm trong thanh toán, định kỳ hai bên
phải đối chiếu thanh toán sòng phẳng với nhau.
Đối với thanh toán bù trừ: Các NHTM, TCTD, KBNN muốn tham gia thanh
toán bù trừ phải có đơn xin tham gia thanh toán bù trừ, phải chấp hành nội quy
trong thanh toán nh: giới thiệu ngời giao dịch, mẫu chữ ký, chấp hành giờ truyền
nhận dữ liệu hay phiên giao dịch.
Điều kiện về tổ chức và kỹ thuật: Thanh toán giữa các ngân hàng phải đợc
tổ chức một cách khoa học, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về kỹ thuật khi tham gia
hệ thống thanh toán, để đảm bảo thanh toán chính xác, nhanh chóng, an toàn, chi
phí thấp. Phải bố trí những ngời có trách nhiệm cao, trung thực và thành thạo
nghiệp vụ thanh toán giữa các NH, áp dụng kỹ thuật hiện đại để đẩy nhanh tốc độ
và sự an toàn thanh toán. Phải có trung tâm xử lý thông tin nhanh nhậy, thông suốt
theo các chuẩn mực quy định của NHNN, nhằm đáp ứng đợc các phơng thức
thanh toán giữa các NH. Thông tin phải đợc cập nhật và lu trữ, bảo quản cẩn trọng,
đảm bảo tính bảo mật cao.
Điều kiện về vốn: Các NHTM thực hiện thanh toán giữa các NH phải có đủ
khả năng cân đối nguồn và sử dụng vốn. Phải chuẩn bị đợc đủ lợng vốn đủ đảm
bảo khả năng thanh khoản, đáp ứng nhu cầu về vốn trong thanh toán. Trờng hợp
làm mất khả năng thanh toán phải chịu phạt theo quy định.
Các NHTM khi thực hiện thanh toán qua thanh toán bù trừ phải luôn duy trì
tồn quỹ tiền mặt và số d trên tài khoản tiền gửi cần thiết tại Ngân hàng Nhà nớc để
đảm bảo cho khả năng thanh toán, sẵn sàng chi trả cho khách hàng. Trờng hợp
thiếu vốn thanh toán thì vay Ngân hàng chủ trì hoặc Ngân hàng thành viên.
Khoá luận tốt nghiệp
1.4 Các nghiệp vụ thanh toán (nominal account) của NH và sự phát triển của
chúng.
1.4.1 Các hình thức thanh toán (Means of payment).
Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì các hoạt động nghiệp vụ của NH cũng
không ngừng mở rộng và phát triển. Các nghiệp vụ này ngày càng đợc cải tiến phù
hợp với xu hớng phát triển chung về khoa học công nghệ trên thế giới, trong đó
lĩnh vực thanh toán đặc biệt quan trọng với điều kiện và trình độ phát triển của
mỗi nóc. Nhìn chung các nớc có nền kinh tế thị trờng thì hình thức thanh toán qua
NH phổ biến sau đây:
Hình thức thanh toán séc:
Séc là lệnh trả tiền của chủ tài khoản đợc lập trên mẫu in sẵn do NHNN quy
định để yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán
của mình để trả cho ngời thụ hởng có tên trên séc hoặc ngời cầm séc.
Séc là hình thức thanh toán lâu đời, phổ biến nhất ở hầu hết các NH trên thế
giới với tiêu đề: Cheque (tiếng Anh), Chéque ( tiếng Pháp) dịch ra tiếng Việt là
chi phiếu. Séc bao gồm nhiều loại khác nhau: séc ký danh, séc vô danh, séc tiền
mặt, séc chuyển khoản, séc bảo chi, séc định mức, séc cá nhân, séc du lịch.
Đối tợng áp dụng: Séc thờng đợc áp dụng để thanh toán chi trả các khoản tiền
hàng hoá dịch vụ, công nợ.
Phạm vi áp dụng: Bên mua và bên bán phải mở tài khoản tại cùng một NH
hoặc khác NH cùng một hệ thống. Trờng hợp bên mua và bên bán có tài khoản tại
hai NH khác hệ thống thì hai đơn vị thanh toán đó phải tham gia thanh toán bù trừ
giao nhận chứng từ trực tiếp.
Điều kiện để séc đợc NH chấp nhận thanh toán:
-Ngời phát hành séc chỉ đợc ghi số tiền trên séc trong phạm vi số d tài khoản
tiền gửi của họ tại NH. Nếu phát hành quá số d NH không chấp nhận thanh toán
đồng thời NH còn áp dụng phạt vi phạm hợp đồng thanh toán và phạt chậm trả.
-Trờng hợp có nhiều tờ séc nộp vào NH cùng một lúc để đòi tiền từ một tài
khoản mà số d trên tài khoản đó không đủ để thanh toán toàn bộ những tờ séc đó
thì thứ tự thanh toán đợc xác định theo số séc đã phát hành, các séc có số thứ tự
nhỏ hơn sẽ đợc thanh toán.
-Séc phải đảm bảo tính hợp pháp hợp lệ cả về hình thức và nội dung.
Khoá luận tốt nghiệp
Séc chuyển khoản là loại thanh toán do chủ tài khoản phát hành trực tiếp để
trả tiền cho ngời thụ hởng trên cơ sở số d tài khoản tiền gửi thanh toán của mình
tại NH. Loại séc này rất tiện lợi cho bên mua nhng không tiện lợi cho bên bán. Do
đó trong thanh toán truyền thống séc đợc ghi theo nguyên tắc ghi nợ trớc ghi có
sau.
Trờng hợp bên bán yêu cầu bên mua có sự xác nhận của đơn vị thanh toán
trên tờ séc. Khi nhận đợc yêu cầu, đơn vị thanh toán sẽ làm thủ tục bảo chi trên cơ
sở số tiền mà ngời phát hành đã lu ký, vì vậy ngời chịu trách nhiệm thanh toán séc
là NH hay đơn vị thanh toán bảo chi séc.
Có thể thấy việc áp dụng séc bảo chi rất có lợi cho ngời thụ hởng. Ngời thụ h-
ởng chắc chắn sẽ nhận đợc tiền, do đó ngời thụ hởng không bị mất vốn, không bị
chiếm dụng vốn, quá trình thanh toán đợc thực hiện nhanh chóng vì NH bảo chi
séc hoặc NH phục vụ ngời thụ hởng ghi có ngay cho ngời thụ hởng. Ngợc lại, khi
áp dụng thanh toán bằng séc bảo chi, ngời mua lại phải làm thủ tục ruờm rà để đợc
bảo chi séc, phải lu ký tiền trên tài khoản tiền gửi bảo chi séc và không đợc hởng
lãi trên số tiền lu ký đó.
Nhìn chung thanh toán séc là thể thức đơn giản,thuận tiện đợc sử dụng rộng
rãi ở nhiều nớc trên thế giới. Công ớc séc quốc tế Giơ-ne-vơ năm 1931 đã đợc một
số nớc thông qua cho đến nay vẫn đợc xem là luật điều chỉnh các quan hệ liên
quan đến việc phát hành và sử dụng séc.Tuy nhiên trong thực tế sử dụng séc không
phải tuyệt đối an toàn, đã có xuất hiện séc giả, do vậy kỹ thuật thanh toán séc
không ngừng đợc hoàn thiện trên mọi phơng diện.
Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (UNT):
UNT là chứng từ đòi tiền do ngời bán lập và uỷ nhiệm cho NH phục vụ mình
đòi tiền ngời mua hay ngời nhận cung ứng dịch vụ trên cơ sở hàng hoá hay đơn vị
đã cung ứng. Ngân hàng phục vụ ngời bán không chịu trách nhiệm về việc ngời
mua có thanh toán hay không. Chính vì thế, đối với nghiệp vụ này, NH phải kết
hợp nghiệp vụ bảng, ghi nhập sổ theo dõi UNT gửi đi để theo dõi tình hình thanh
toán, trả tiền của ngời mua nếu ngời mua có tài khoản tiền gửi tại NH khác.
Đối tợng áp dụng: UNT đợc sử dụng để thanh toán tiền hàng hoá, khi ngời
bán cung cấp cho ngời mua hoặc tiền điện, tiền nớc, tiền điện thoại, tiền nhà đất
Khoá luận tốt nghiệp
Điều kiện áp dụng: Hai bên mua bán phải thống nhất với nhau, dùng hình
thức UNT với những điều kiện cụ thể ghi trên hợp đồng, đồng thời phải thông báo
bằng văn bản cho NH phục vụ bên chi trả biết để làm căn cứ thực hiện thanh toán.
Phạm vi áp dụng: Hình thức thanh toán này đợc áp dụng rộng rãi trong quan
hệ thanh toán nội địa và thanh toán quốc tế đối với mọi đối tợng khách hàng dù họ
mở tài khoản tại bất cứ đơn vị thanh toán nào. áp dụng uỷ nhiệm thu rất có lợi
trong trờng hợp thu hộ phí các dịch vụ công cộng, giúp các đơn vị cung ứng dịch
vụ công cộng giảm chi phí nhân viên phải đến từng nhà để thu tiền.
Tuy nhiên nó vẫn còn hạn chế vì UNT do ngời bán lập chứng từ và xuất phát
điểm trong quy trình thanh toán, mà nguyên tắc hạch toán là ghi nợ trớc có sau
nên mặc dù an toàn cho các NH tham gia quy trình thanh tóan nhng quy trình luân
chuyển chứng từ còn vòng vèo, tốc độ thanh toán chậm.
Hình thức thanh toán uỷ nhiệm chi (UNC):
UNC là lệnh của chủ tài khoản đợc lập theo mẫu in sẵn của NHNN uỷ quyền
cho NH phục vụ mình trích một số tiền nhất định từ tài khoản tiền gửi của mình để
trả cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hay khác NH trong cùng hệ thống
hoặc khác hệ thống.
Đối tợng áp dụng: UNC đợc dùng chủ yếu là để thanh toán tiền hàng hoá,
công nợ dịch vụ theo đó ngời mua là ngời mở đầu trong quy trình thanh toán, thực
hiện ra lệnh cho NH phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi thanh toán của mình để
chuyển trả cho ngời bán.
Phạm vi áp dụng: UNC đợc sử dụng rộng rãi, ngời trả tiền hoàn toàn có thể sử
dụng UNC để trả tiền cho ngời thụ hởng có tài khoản cùng NH hoặc khác NH
cùng hệ thống hay khác hệ thống.
Ưu điểm của uỷ nhiệm chi là đợc sử dụng rộng rãi về phạm vi địa lý đối với
mọi đối tợng khách hàng dù họ mở tài khoản tại bất cứ đơn vị thanh toán nào.
UNC đảm bảo quyền lợi cho bên mua do bên mua chỉ chấp nhận thanh toán khi họ
đã nhận đợc hàng hoá, dịch vụ đúng nh trong hợp đã ký kết đồng thời bảo vệ
quyền lợi cho NH do NH thực hiện ghi nợ trớc ghi có sau.
Ngợc lại, UNC không bảo đảm quyền lợi cho bên bán. Bên bán có thể gặp rủi
ro do bên mua không đủ khả năng thanh toán hoặc bên mua cố tình không thanh
toán. Do đó ngời ta chỉ áp dụng hình thức thanh toán này trong trờng hợp bên mua
Khoá luận tốt nghiệp
và bên bán có tín nhiệm nhau hoặc thanh toán có giá trị nhỏ hoặc chủ yếu là thanh
toán phi mậu dịch.
Tuy nhiên, UNC vẫn là hình thức thanh toán đợc a chuộng nhất hiện nay vì
đơn giản, dễ thực hiện. Mặt khác, NH chuyển tiền nhanh đảm bảo yêu cầu của
khách hàng.
Hình thức thanh toán th tín dụng:
Th tín dụng là lệnh của NH phục vụ bên mua gửi cho NH phục vụ bên bán để
tiến hành trả tiền cho ngời bán về giá trị hàng hoá đã cung ứng trên cơ sở ngời bán
xuất trình các hoá đơn, chứng từ hợp lệ, hợp pháp phù hợp với các điều kiện,
phạm vi thời hạn hiệu lực của th tín dụng.
Phạm vi áp dụng: Th tín dụng áp dụng giữa hai chi nhánh NH cùng hệ thống
hoặc trên địa bàn phục vụ ngời bán có NH cùng hệ thống với NH bên mua có
tham gia thanh toán bù trừ, nh thế NH bên mua (NH phát hành) sẽ uỷ quyền cho
NH cùng hệ thống với mình và cùng địa bàn với NH bên bán có tham gia thanh
toán bù trừ thực hiện thanh toán hoặc chiết khấu bộ chứng từ hợp lệ của bên bán
bằng phơng thức thanh toán bù trừ.
Đối tợng áp dụng: Th tín dụng thờng đợc sử dụng để thanh toán tiền hàng
hoá, dịch vụ giữa hai bên mua-bán cha hiểu rõ về nhau, cha có mối quan hệ thân
thiết và không tin tởng nhau. Bởi lẽ thủ tục thanh toán bằng th tín dụng rất rờm rà
khó khăn đối với cả bên mua và bên bán. Bên mua phải thực hiện làm thủ tục mở
th tín dụng và đợc NH phục vụ mình chấp nhận phát hành th tín dụng trớc khi
nhận đợc hàng hoá dịch vụ từ ngời bán. Ngợc lại, bên bán muốn nhận đợc thanh
toán của NH phát hành hoặc NH thanh toán. NH chiết khấu thì phải lập đợc bộ
chứng từ hoàn hảo, phù hợp những điều kiện đã ghi trong th tín dụng. Trong hình
thức này,th tín dụng đợc coi là căn cứ, cơ sở để hai bên mua bán trao đổi, thanh
toán tiền hàng hoá dịch vụ cho nhau.
Thanh toán bằng th tín dụng là hình thức thanh toán hữu hiệu nhất cho cả bên
mua và bên bán vì quyền lợi chính đáng của cả hai bên đều đợc bảo vệ. Bên mua
chỉ chấp nhận thanh toán khi nhận đợc hàng hoá với bộ chứng từ đầy đủ nh đã
thoả thuận trong hợp đồng còn bên bán chắc chắn sẽ nhận đợc tiền khi giao nhận
bộ chứng từ đầy đủ cho NH phục vụ mình. Do an toàn và chuẩn xác cao nên nó đ-
ợc sử dụng phổ biến trong thanh toán quốc tế.
Khoá luận tốt nghiệp
Hình thức thanh toán bằng thẻ NH:
Thẻ NH là một phơng tiện thanh toán hiện đại gắn liền với kỹ thuật tin học và
ứng dụng tin học trong hoạt động NH. Qua thẻ NH, ngời chủ thẻ có thể sử dụng
để rút tiền từ máy rút tiền tự động ATM hoặc thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại
cơ sở chấp nhận thanh toán thẻ.
Thẻ thanh toán chỉ đợc áp dụng trong nền tảng công nghệ tin học và viễn
thông đợc áp dụng trong công nghệ thanh toán của NH.
Thẻ thanh toán do NH phát hành và bán cho khách hàng của mình để thanh
toán chi trả các khoản vật t, hàng hoá,dịch vụ, các khoản thanh toán khác và rút
tiền tại các đại lý thanh toán hay tại các quầy rút tiền tự động.
Phạm vi áp dụng thẻ NH rất rộng rãi và không bị giới hạn về không gian, thời
gian, nếu khách hàng có thể thanh toán, khách hàng có thể sử dụng (rút tiền, gửi
tiền, kiểm tra số d trên tài khoản, thanh toán chi trả tiền hàng hoá dịch vụ ) bất
cứ nơi nào có máy ATM hoặc cơ sở chấp nhận thẻ. Hơn nữa thanh toán bằng thẻ
đã tiết kiệm chi phí, công sức cho ngời mua, ngời bán, tiết giảm lợng tiền mặt
trong lu thông và tăng chu chuyển vốn cho nền kinh tế. Chính bởi tiện ích này mà
thẻ NH rất đợc a chuộng ở các nớc trên thế giới. Tuy nhiên việc sử dụng thanh
toán bằng thẻ NH cũng bị giới hạn một mức tối đa cho phép đợc thanh toán trong
một ngày để đảm bảo an toàn và khả năng chi trả cho nguồn thanh toán.
Với trình độ và tốc độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay, trong tơng
lai chắc chắn thẻ thanh toán cha phải là công cụ thanh toán cuối cùng.
Khoá luận tốt nghiệp
1.4.2 Các phơng thức thanh toán qua NH (Mode of payments):
Tuỳ vào trình độ phát triển của công nghệ ngân hàng cũng nh đặc điểm tổ
chức hệ thống NH, các nớc có các phơng thức thanh toán qua NH khác nhau. ở
Việt Nam, từ khi hệ thống NH đợc tổ chức theo hệ thống hai cấp, các phơng thức
thanh toán vốn giữa các NH bao gồm:
Ph ơng thức thanh toán liên hàng .
Thanh toán liên hàng là quan hệ thanh toán nội bộ giữa các ngân hàng trong
cùng hệ thống phát sinh trên cơ sở các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt
giữa các khách hàng có mở tài khoản ở các chi nhánh ngân hàng khác nhau trong
cùng hệ thống hoặc các nghiệp vụ chuyển tiền, điều hoà vốn trong nội bộ một hệ
thống.
Thanh toán liên hàng là một bộ phận không thể thiếu đợc trong công tác
thanh toán của NH. Làm tốt công tác thanh toán liên hàng sẽ có vai trò rất quan
trọng đối với nền kinh tế nói chung và với ngành NH nói riêng. Cụ thể :
Thanh toán liên hàng thúc đẩy quá trình thanh toán nhanh chóng, chính xác,
thay vì khách hàng phải mang tiền mặt từ NH mua đến thanh toán cho ngời bán
hàng, khách hàng chỉ cần uỷ nhiệm cho NH phục vụ mình trích tài khoản để thanh
toán cho ngời bán thông qua NH phục vụ ngời bán.
Thanh toán liên hàng góp phần nâng cao tốc độ luân chuyển vốn tiền tệ phục
vụ quá trình tái sản xuất mở rộng, do thời gian thanh toán nhanh, rút ngắn quá
trình sản xuất và lu thông hàng hoá dịch vụ.
Thanh toán liên hàng tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển thanh toán
không dùng tiền mặt, góp phần khuyến khích cá nhân, tổ chức mở tài khoản tại
NH các NH.
Thanh toán liên hàng góp phần giảm chi phí lu thông do không phải vận
chuyển tiền mặt từ nơi này đến nơi khác để thanh toán đồng thời hạn chế đợc mất
mát tham ô trong thanh toán.
Thanh toán liên hàng góp phần ổn định và mở rộng khách hàng do đáp ứng đ-
ợc nhu cầu thanh toán thuận tiện nhanh chóng chính xác của khách hàng.
Tuy nhiên thanh toán liên hàng chỉ áp dụng với những ngân hàng trong cùng
hệ thống. Việc xử lý chứng từ vẫn mang tính thủ công, phát hiện sai lầm chậm,

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét