Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
Nghiên cứu việc áp dụng thuế chống bán phá giá
-5-
hoá xuất khẩu được bán sang một nước khác với giá thấp hơn giá bán tại
thị trường nội địa (của nước xuất khẩu). Nếu đọc lướt qua, định nghĩa
này thật là đơn giản, chỉ việc so sánh giữa giá xuất khẩu với giá bán tại
nội địa, nếu giá xuất khẩu thấp hơn giá nội địa tức là có sự bán phá giá.
Tuy nhiên, sự việc lại không đơn giản chút nào khi m
ột loạt câu hỏi
được đặt ra cần giải quyết khi so sánh giá để đảm bảo sự chính xác và
công bằng: giá nội địa là giá nào? Là giá bán buôn hay giá bán lẻ? Giá
xuất khẩu là giá nào?
2.2 Thuế chống bán phá giá: là một sắc thuế mà nước nhập khẩu đánh vào
một mặt hàng nhập khẩu được bán phá giá với mục đích ngăn cản sự tiếp
diễn của việc bán phá giá đó để tránh gây thiệt hại cho ngành sả
n xuất
mặt hàng tương tự ở trong nước.
3. Ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá
Tác động của việc bán giá được đánh giá một cách đơn giản theo hình
dưới đây. Trước khi có việc hàng của nước được bán vào thị truờng một nước
với giá thấp hơn giá hiện hành, cung và cầu mặt hàng đó cân bằng ở điểm E,
với giá P1 và lượng tiêu thụ Q1, hoàn toàn là hàng sản xuất trong nước. Tuy
nhiên, khi có nguồn hàng nước ngoài bán với giá thấp hơn là P2, lượng tiêu
thụ tăng lên Q2, trong khi đó lượng hàng sản xuất trong nước giảm xuống chỉ
còn Q’2, lượng hàng nhập khẩu là Q2 - Q’2.
D
S
F
P
1
A
B
C
E
S
P
P
2
Q’2
Q1
Q2
Q
D
-6-
Từ hình này cho thấy thặng dư của người tiêu dùng tăng thêm một
lượng bằng diện tích hình thang ABDE, trong khi đó thặng dư của nhà sản
xuất trong nước giảm một lượng bằng diện tích hình thang ABCE.
Như vậy có thể thấy tác động của việc bán phá giá là: gây thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa nhưng lại mang lại lợi ích cho người tiêu dùng. Về
tổng thể
, toàn xã hội được lợi bằng diện tích tam giác CDE.
Xuất phát từ thành kiến cố hữu, việc “bán phá giá” thường được coi là
có tác động tiêu cực, thường vì lý do làm giảm lợi nhuận của những người
bán hàng khác hoặc gây thiệt hại cho các nhà sản xuất cùng một mặt hàng của
nước nhập khẩu, cho nên người ta thường tìm biện pháp để chống lại hành
động này. Tuy nhiên, cần phải có sự phân tích thấu đáo bản chất của m
ọi
trường hợp bán phá giá để xem có phải tất cả mọi hành động bán phá gía đều
có hại hay không để từ đó có biện pháp đối phó thích ứng.
Có thể hình dung các trường hợp bán phá giá sau đây:
Thứ nhất,
giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nước xuất khẩu
nhưng vẫn cao hơn chi phí sản xuất;
Thứ hai
, giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất và tất nhiên là thấp
hơn giá thị trường trong nước. Trong trường hợp này còn có thể xảy ra một số
tình huống khác nhau, tuỳ thuộc vào định nghĩa chi phí sản xuất: chi phí bình
quân hay “chi phí lề”.
Trường hợp thứ nhất
: Giá xuất khẩu thấp hơn giá thị trường nội địa nhưng
cao hơn chi phí sản xuất.
Trường hợp này có thể xảy ra khi một hãng chiếm vị thế độc quyền
hoặc gần như độc quyền ở thị trường nội địa xuất phát từ điều kiện tự nhiên
hoặc do được hưởng lợi thế từ hàng rào thương mại, nhưng phải c
ạnh tranh ở
thị trường nước xuất khẩu. Trong trường hợp này, vì mục đích tối đa hoá lợi
nhuận, hãng đó sẽ lợi dụng vị thế độc quyền của mình để ấn định giá bán
trong nước cao hơn, chừng nào thị trường đó còn chấp nhận được. Trong khi
đó, do phải cạnh tranh ở thị trường nước xuất khẩu, hãng đó chỉ có thể bán
-7-
với giá đang tồn tại ở thị trường đó. Như vậy đã xảy ra việc bán phá giá như
định nghĩa ở trên.
Nếu việc bán phá giá này không làm giá ở thị trường nước nhập khẩu
thay đổi (do cạnh trạnh ở đây hoàn hảo), sẽ không làm ảnh hưởng đến lợi ích
của nước nhập khẩu, và vì thế sẽ không cần thiết phải có biện pháp chống đối
l
ại.
Tuy nhiên, nếu việc bán phá giá này xảy ra với một lượng lớn và trong
thời gian dài, làm giảm giá ở thị trường nước nhập khẩu sẽ gây tác động đến
lợi ích của nước nhập khẩu. Người tiêu dùng sẽ được lợi từ giá thấp nhưng
ngược lại các nhà sản xuất và công nhân trong ngành công nghiệp đó sẽ bị
thiệt hại vì lợi nhuận và lương bị giảm. Lợi ích cuố
i cùng của nước nhập khẩu
phụ thuộc vào việc lợi ích của người tiêu dùng có lớn hơn thiệt hại của người
sản xuất và công nhân hay không.
Ngay cả trong trường hợp về tổng thể nước nhập khẩu bị thiệt hại cũng
khó có lý do để áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hoá của
hãng đó nhằm khắc phục thiệt hại bởi vì hãng đó có thể lậ
p luận rằng do điều
kiện thị trường của nước nhập khẩu là cạnh tranh, bất kỳ hãng nào cũng có thể
tham gia thị trường đó và làm cho giá giảm xuống. Tuy nhiên, để khắc phục
thiệt hại, nước nhập khẩu có thể áp dụng các biện pháp được phép khác như
tự vệ.
Trường hợp thứ hai
: Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất
Trước hết, để hiểu được ý nghĩa kinh tế của việc bán phá giá thấp hơn
chi phí, cần phân biệt các loại chi phí.
Thông thường, chi phí sản xuất được phân biệt theo 2 loại: chi phí bình
quân (average cost) và chi phí lề (marginal cost).
Chi phí bình quân được tính bằng tổng tất cả các chi phí một hãng phải
chịu chia cho lượng sản phẩm sản xuất ra.
Chi phí lề là chi phí phải bỏ
ra để sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm.
Sự phân biệt này có ý nghĩa quan trọng trong ngắn hạn khi nhiều loại
chi phí sản xuất là cố định, không phụ thuộc vào số lượng sản xuất, chỉ có
-8-
một phần nhỏ chi phí sản xuất là thay đổi khi lượng sản xuất thay đổi. Chính
chi phí lề là yếu tố quyết định trong việc định giá của một hãng trong thời
gian ngắn hạn khi phải chịu chi phí nhất định để thâm nhập vào một thị
trường
Khi nhu cầu của thị trường bị giảm, kéo theo giá thị trường giảm và các
hãng theo đó cũng phải giảm giá bán. Nếu giá bán thấp hơn chi phí bình
quân, hãng đó sẽ bị lỗ. Tuy nhiên, khi một phần chi phí là cố định không phụ
thộc vào lượng sản xuất, mức độ lỗ sẽ phụ thuộc vào lượng hàng bán ra và
vào mức chi phí lề. Nếu giá bán vẫn cao hơn chi phí lề, hãng vẫn tiếp tục bán
với hy vọng sau một thời gian ngắn thị trường sẽ phục hồi hoặc chỉ để giảm
thiệt hại trước khi rút lui khỏ
i thị trường đó. Đây là sự phản ứng rất bình
thường của các hãng đối với sự thay đổi của thị trường, kể cả các hãng nước
ngoài và hãng nội địa.
Trong trường hợp này, việc áp dụng một biện pháp chống hàng nhập
khẩu là bất hợp lý vì như vậy sẽ đối xử không công bằng giữa hãng nội địa
và hãng nước ngoài. Tuy nhiên, một nước vẫn có thể áp dụ
ng các chính sách
hỗ trợ cho các hãng nội địa giảm nhẹ thiệt hại dưới hình thức các biện pháp tự
vệ.
4. Tại sao bán phá giá chiếm thị trường ở nước ngoài lại vẫn gia tăng
được lợi nhuận?
Trong thực tế, có những lý do khiến một công ty bán phá giá hàng sản
xuất ra thị trường nước ngoài mà vẫn thu được lợi nhuận. Giả dụ một công ty
sản xuất một triệu chi
ếc radio một năm bằng một nhà máy duy nhất và chỉ
làm ca ban ngày. Giả sử nhà máy đó định giá mặt hàng radio này trong thị
trường nội địa là 20USD/chiếc và lãi được 4USD/chiếc. Ta giả dụ tiếp là
những chi phí biến động của mặt hàng radio (nguyên vật liệu, lương công
nhân ) vào khoảng 10USD/chiếc; Vậy chi phí cố định (nhà xưởng, trang
thiết bị ) khoảng 6USD/chiếc.Nếu nhà máy bán hết một triệu chiếc radio mỗi
năm vớ
i lãi 4USD/chiếc thì nó đã bù đắp xong mọi chi phí cố định và có thể
-9-
bán thêm radio với bất cứ mức giá nào cao hơn chi phí biến động
10USD/chiếc để kiếm thêm tiền lãi.
Giả sử nhà máy có thể chạy thêm ca đêm và sản xuất một triệu chiếc
radio nữa mỗi năm. Các chi phí cố định, theo giả định, đã được trang trải
xong với một triệu chiếc radio đầu tiền. Nếu nó có thể xoay xở bán được một
triệu chiếc radio thứ hai này mà không ảnh hưởng gì tớ
i giá bán một triệu
chiếc radio đầu tiên, vậy thì bất cứ mức giá nào cao hơn mức chi phí biến
động 10 USD/ chiếc cũng làm tăng thêm lợi nhuận cho công ty. Thí dụ nó bán
radio làm ca đêm với giá 14 USD, thì nó lãi thêm 4 triệu USD (ngoài số lãi 4
triệu USD từ một triệu chiếc radio đầu tiên làm ca ngày), tức là tăng gấp đôi
lợi nhuận. Dĩ nhiên, việc bán sản phẩm ca đêm không được ảnh hưởng tới giá
trị bán của một triệu radio đầ
u tiên làm ca ngày. Điều này dẫn đến việc phải
tìm kiếm một thị trường khác hẳn cho sản lượng của ca đêm. Thị trường mới
này phải đảm bảo không dễ gì chuyển ngược hàng trở lại thị trường thứ nhất,
nếu không thì giá bán của radio làm ca ban ngày sẽ bị cắt xuống tới mức thấp
hơn giá thành.
Một phương cách để thực hiện việc trên là tính giá bán khác nhau ở
nh
ững khu vực khác nhau, với điều kiện chi phí vận chuyển hàng theo chiều
ngược lại phải đủ cao để ngăn không cho người mua ở thị trường giá rẻ đem
bán lại ở thị trường giá đắt. Trong trường hợp xuất khẩu sản phẩm, các Chính
phủ có thể dựng hàng rào thuế quan ngăn cản việc chở hàng hoá ngược về thị
trường gốc. Như thế, nếu có mộ
t mức thuế quan 40% đánh lên radio nhập
khẩu, thì sản lượng của ca đêm có thể bán sang nước ngoài sẽ chở radio
ngược về thị trường giá gốc để làm giảm giá bán tại thị trường nội địa.
Có thể chứng minh những lập luận trên bằng trường hợp điển hình về
bán phá giá đã xẩy ra trên thương trường quốc tế sau đây:
Từ những năm 1960, sáu công ty điệ
n tử hàng đầu của Nhật Bản là
HITACHI, MISUBISHI, MASUSHITA, SANYO, SHARP và TOSHIBA đã
cạnh tranh gay gắt với nhau. Nhưng ngày 10/09/1964, họ đã thoả thuận thống
nhất nâng giá bán, quy định sản lượng của mỗi công ty. Kết quả của việc thoả
thuận này là trong nhiều năm trời, người tiêu dùng ở Nhật phải trả 700 USD
1.400
1.200
1.000
800
600
P
USD
(giá)
PT =700
P
C
=450
1
C
3
C
1
2
3
B
P
B
=500
D
C
N
2
C
T
-10-
cho một tivi màu, trong khi các công ty đó ở Mỹ chỉ với giá 400 USD cho
một tivi mầu cùng loại. Việc bán phá giá tivi Nhật ở Mỹ làm cho các công ty
Mỹ không chịu nổi quá trình cạnh tranh. Cho đến năm 1989, sáu hãng tivi lớn
và nhiều hãng nhỏ của Mỹ bị phá sản, công nghiệp sản xuất tivi của Mỹ bị
suy yếu mạnh. Chúng ta có thể lý giải quá trình bán phá giá, chiếm thị trường,
gia tăng lợi nhuận nói trên bằng mô hình sau đây:
Hiệu ứng bán phá giá - chi
ếm thị trường - tăng lợi nhuận
Giả sử có 3 doanh nghiệp Nhật Bản 1,2,3 cạnh tranh trên thị trường
tivi. Nhu cầu là đường NC, chi phí bình quân (C1, C2, C3) và công suất thiết
kế của ba doanh nghiệp là như nhau (500.000 tivi/năm).
Nếu ba doanh nghiệp cạnh tranh bằng giá với nhau, thị trường sẽ cân
bằng ở điểm C, giá bán là P
c
=450 USD và bằng chi phí bình quân thấp nhất
của mỗi doanh nghiệp ở điểm D. Như vậy, cả ba doanh nghiệp đều chỉ hoà
vốn.
Giả sử ba doanh nghiệp thoả thuận giảm 40% sản lượng từ q
c
=1,5 triệu
còn q
T
= 0,9 triệu tivi. Lúc này, giá mà thị trường chấp nhận là P
T
= 700 USD,
thị trường cân bằng ở điểm T. Do sản lượng giảm, chi phí bình quân tăng từ
450 USD ở điểm D, lên 500 USD ở điểm B. Tuy nhiên, do giá tăng rất mạnh,
từ 450 USD lên 700 USD, nên mặc dù sản lượng giảm, chi phí tăng, các
doanh nghiệp vẫn có lãi. Đối với doanh nghiệp 1, điểm bán lúc cạnh tranh là
D, song khi thoả thuận là A, với q
A
= 300.000 tivi. Lợi nhuận của doanh
nghiệp này là:
Lợi nhuận thực tế = 300.000 x (700 USD-500 USD) = 60 triệu USD
Như vậy lợi nhuận đã tăng từ 0 triệu lên 60 triệu USD. Ở tình trạng
thoả thuận bán ở trong nước như vậy, cả ba doanh nghiệp đều có lợi nhuận
cao, song họ không bán thêm vào thị trường trong nước mà xuất khẩu, thì sẽ
không làm giảm giá trị trường trong nước. Và nếu bán ra nước ngoài với giá
-11-
thấp, thì có thể chiếm được thị trường mới. Vấn đề là bây giờ lợi nhuận của
họ thế nào?
Giả sử doanh nghiệp sản xuất hết 100% năng lực, song xuất khẩu 40%
sản phẩm. Tức là mỗi doanh nghiệp sản xuất 500.000 tivi/năm, xuất khẩu
200.000 tivi. Lúc này chi phí mỗi tivi là 450 USD ở điểm D. Giả sử ba doanh
nghiệp quyết định bán phá giá ở nước ngoài, với giá P
N
= 400 USD < P
C
= 450
USD = chi phí bình quân. Như vậy, mỗi doanh nghiệp sẽ lỗ xuất khẩu là:
Lỗ = 200.000 x (450 USD - 400 USD) = 10 triệu USD.
Tuy nhiên do tăng được 40% sản lượng, chi phí bình quân mỗi tivi lại giảm,
từ 500 USD ở điểm B xuống còn 450 USD ở điểm D. Do vậy, mặc dù giá bán
tivi trong nước không tăng, song lợi nhuận do bán trong nước lại tăng:
Lợi nhuận trong nước= 300 x (700 USD - 450 USD) = 75 triệu.
Như vậy lợi nhuận thực tế của mỗi doanh nghiệ
p khi vừa thoả thuận,
vừa bán phá giá ở nước ngoài là:
Lợi nhuận= 75 triệu USD - 10 triệu USD = 65 triệu USD.
Mặc dù chịu lỗ ở nước ngoài, lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp đã tăng
từ 60 triệu USD (khi thoả thuận mà không xuất khẩu) lên đến 65 triệu USD
(khi vừa có thoả thuận vừa có xuất khẩu). Còn nếu so sánh khi các doanh
nghiệp cạnh tranh với nhau trong nước, lợi nhuận đã tăng từ 0 tri
ệu lên đến 65
triệu USD. Nếu chi phí sản xuất tivi ở Mỹ là 400USD, tức là thấp hơn của
Nhật bản là 450USD, thì để có lãi, giá bán tivi của Mỹ phải trên 400USD.
Nếu các doanh nghiệp Nhật bản xuất khẩu sang Mỹ với giá 400USD thì rõ
rằng là các doanh nghiệp Mỹ không chịu đựng nổi. Và như đã nêu ở trên, sau
30 năm bán phá giá, Nhật bản đã đánh bại công nghiệp tivi của Mỹ, mặc dù
chi phí sản xuất củ
a các công ty Nhật bản có thể cao hơn các công ty Mỹ.
Mô hình nêu trên đã chứng minh một khả năng là: Một nước có trình độ
công nghệ không cao hơn, có chi phí sản xuất cao hơn vẫn có thể xuất khẩu
sang nước có chi phí sản xuất thấp hơn, với một giá thấp hơn chi phí của nước
chủ nhà, vừa chiếm được thị trường mà vẫn gia tăng được lợi nhuận.
-12-
Bản chất kinh tế của chiến lược này là: Hạn chế tối đa nhập khẩu, thoả
thuận trong nước về giá và xuất khẩu với giá tiêu diệt địch thủ:
Bằng cách hạn chế nhập khẩu và thoả thuận giữa các doanh
nghiệp, các doanh nghiệp đẩy được giá trong nước lên cao làm
tăng lợi nhuận (điều này làm thiệt hại người tiêu dùng trong
nước).
Bằng cách xu
ất khẩu để sử dụng tối đa công suất, các doanh
nghiệp lại giảm được chi phí, từ đó lại tăng thêm được lợi nhuận
của phần sản phẩm bán trong nước. Chính phần lợi nhuận tăng
thêm này là nguồn tài chính để bù lỗi việc bán phá giá ở nước
ngoài.
Như vậy, trong một cơ chế thị trường có sự hỗ trợ của Nhà nước như
trên (khuyế
n khích thoả thuận, bảo hộ mậu dịch và trợ cấp sản xuất xuất
khẩu), chính người dân Nhật bản là người gánh chịu cái giá của sự mở rộng
thị trường quốc tế của Nhật. Họ phải mua hàng với giá cao ở trong nước để tài
trợ cho các doanh nghiệp bán phá giá ở nước ngoài, còn bản thân các chủ
doanh nghiệp vẫn thu được lợi nhuận cao dù phải bán phá giá để chiếm thị
trường mới.
Cũng có những trường hợp các hãng bán với giá thấp hơn chi phí lề.
Trong các trường hợp này không thể xem xét nguyên nhân hành động của các
hãng với mục tiêu là nhằm tối đa hoá lợi nhuận mà vì các mục tiêu khác.
5. Những nguyên nhân của hành động bán phá giá
Mỗi một hành động bán phá giá đều nhằm đạt được một số mục tiêu cụ
thể và có một số nguyên nhân dẫn đến hành động đó. Chúng ta có thể phân
tích và tổng hợp thành một số nhóm nguyên nhân như sau:
5.1 Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu chính trị thao túng các nước khác
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá
gạo bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn
sàng bỏ ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá
-13-
giá. Điều này làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu
vòng phong toả của Mỹ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng
400USD/ tấn, nhưng các nhà xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá
500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến 800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra
thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%, thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá
này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính nông dân Mỹ sản xuất ra. Như
vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/ năm để tài trợ giá xuất
khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều này mà mặc dù
sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá gạo trên thị
trường thế giới.
5.2 Do có các khoản tài trợ củ
a Chính phủ
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để
đạt đuợc sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách
tối ưu. Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau:
Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu
Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố s
ản xuất như lao
động và tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được
cấp cho người sản xuất cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về
mặt tác động kinh tế thì chúng đều như nhau vì đều đưa đến những
hệ quả tương tự
Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tín dụng ưu
đãi, sự
tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ
xuất khẩu.
- Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển
sản xuất. Ở các nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm
một nửa toàn bộ khối lượng tài trợ. Tỷ trọng của các khoản trợ cấp
cho từng ngành trong tổng số giúp
đỡ của Chính phủ có sự khác nhau
đáng kể giữa các nước. Như ở Anh, Ý, Hà Lan thì trợ cấp chiếm phần
lớn.
-14-
- Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi
cho một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng được
áp dụng rộng rãi ở nhiều nước, mặc dù ít khi được phản ánh trong các
chỉ tiêu của Chính phủ vì chúng là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất
chuẩn. Ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị c
ủa chúng không lớn, còn ở Mỹ
thì tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối lượng
trợ cấp.
- Ưu đãi về tín dụng: Những ưu đãi về tín dụng là sự cho vay của
Chính phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn.
ở các nước thuộc Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoả
ng 14% tổng khối
lượng giúp đỡ cho công nghiệp được thực hiện dưới hình thức tín
dụng ưu đãi. Phần lớn khối lượng tín dụng của Chính phủ Nhật bản
cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lãi suất thấp hơn ở lãi suất thị
trường vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tín dụng, tức là
bảo lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được. Phương pháp tài tr
ợ này
thường dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất
khẩu của nước mình. Theo đánh gái, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản
từ 2% đến 8% tổng tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển.
- Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của
Chính phủ vào chi phí kinhdoanh thường là 15% tổng tài trợ trở
xuống. Từ thập kỷ 80 đến nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt
động kinh doanh có xu hướng giảm. Phương pháp này được sử dụng
để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng đang suy
thoái.
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây
duy trì ở mức khá cao. Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực
hiện công nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành
mới gia nhập thị trường và đẩy mạnh phát triển nh
ững ngành công nghiệp
mũi nhọn của đất nước, tăng cường xuất khẩu.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét