Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* Quy mô vốn nhỏ bé:
Nền kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế chậm phát triển, không có
sự năng động do đó khẳ năng tích luỹ vốn nội bộ rất thấp. Người dân vẫn chưa
có thói quen để đồng tiền nhàn rỗi của mình có thể sinh lời bằng cách đầu tư vào
sản xuất kinh doanh, mà chỉ gửi tiền tiết kiệm vào Ngân hàng hoặc giữ tiền ở
nhà. Các DNNQD dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên nguồn vốn
mang tính chất nhỏ hẹp, mặt khác thâm niên tồn tại chưa lâu nên chưa có điều
kện để tích luỹ vốn. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu là đi vay từ bạn bè, vay tư
nhân, vay Ngân hàng và các TCTD khác. Song do uy tín của các DNNQD chưa
cao nên việc vay vốn gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù đã có nhiều văn bản của
chính phủ, NHNN quy định về việc mở rộng cho vay đối với khu vực này. Hầu
hết các DNNQD có quy mô vừa và nhỏ (theo Nghị định số 90/2001/NĐ - CP
của Chính Phủ định nghĩa thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là cơ sở sản xuất kinh
doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không qúa 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hàng năm không quá 300 người). Thực tế số DNNQD có số
vốn sử dụng dưới 10 tỷ đồng chiếm 70%, bình quân số vốn thực tế sử dụng 1
DNNQD là 4,7 tỷ đồng, lao động bình quân của DNNQD là 36 người. Mức
trang bị tài sản trên 1 lao động chỉ có 44,7 triệu đồng. Lượng vốn tự có của các
doanh nghiệp chỉ đáp ứng từ 30% đến 40% yêu cầu.
Vấn đề thiếu vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh kéo theo các đặc điểm
về trình độ công nghệ lạc hậu, môi trường kinh doanh không thuận lợi.
* Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất lạc hậu:
Do quy mô vốn hạn chế cùng với việc thiếu thông tin về công nghệ, sự
hạn chế trong việc áp dụng công nghệ tiên tiến dẫn đến trình độ công nghệ của
các DNNQD nhìn chung là không đồng bộ. Hầu hết là các thiết bị đều cũ kỹ, lạc
hậu, phần lớn là máy cũ tân trang lại, tuổi của các máy móc thiết vào khoảng 20
tuổi. Theo số liệu điều tra của viện quản lý kinh doanh trung ương năm 2003 thì
chỉ có 25% doanh nghiệp sử dụng công ngệ tương đối hiện đại, 38,5% doanh
nghiệp sử dụng công nghệ cổ truyền, 36,5% doanh nghiệp kết hợp cả công nghệ
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cổ truyền và hiện đại. Do trình độ công nghệ quyết định đến năng suất lao động
và chất lượng sản phẩm nên sản phẩm của DNNQD làm ra có sức cạnh tranh
kém trên thị trường.
* Môi trường sản xuất kinh doanh không thuận lợi, thị trường tiêu thụ
sản phẩm nhỏ bé, bấp bênh:
Kể từ năm 1986 cho tới nay hàng loạt các chính sách, chủ trương liên
quan đến phát triển DNNQD đã được ban hành tạo ra cơ sở pháp lí cho các
DNNQD hoạt động như luật công ty, luật doanh nghiệp tư nhân năm 1990; luật
doanh nghiệp năm 2000. Nhưng để tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho kinh doanh
thì vẫn còn thiếu như luật chống độc quyền, luật doanh nghiệp vừa và nhỏ
Mặc dù quyền bình đẳng pháp lí giữa DNNN và DNNQD đã được thừa
nhận nhưng trong các chính sách kinh tế, điều này vẫn chưa nhất quán, đặc biệt
trong chính sách thuế, tín dụng, vốn, mặt bằng
Một khó khăn lớn của các DNNQD là thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp không
ổn định, mặc dù thị trường trong nước có nhu cầu khá lớn, nhưng do vốn đầu tư
ban đầu ít, công nghệ sản xuất lạc hậu nên sản phẩm của DNNQD làm ra có sức
cạnh tranh kém ngoại trừ một số mặt hàng truyền thống có uy tín. Cùng với đó
là sự cạnh tranh khốc liệt của hàng ngoại nhập tràn lan, hàng nhập lậu với giá rẻ.
Mặt khác, các doanh nghiệp ít có sự giao lưu trên thị trường quốc tế, thiếu hiểu
biết về công nghệ mới, về kiến thức kinh doanh và pháp luật quốc tế dẫn tới
nhiều doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phá sản.
* Trình độ quản lý kinh doanh kém đặc biệt là trình độ yếu kém trong
việc lập kế hoạch tài chính, năng lực của người lao động thấp.
Việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh có
hiệu quả phụ thuộc và nhiều nhân tố: trình độ, kinh nghiệm quản lý kinh doanh,
khả năng dự đoán về sự biến động của ngành, của nền kinh tế Người chủ của
các DNNQD đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu quản trị bằng
kinh nghiệm, theo cách suy nghĩ hiểu biết riêng của mình. Nhiều người trong số
họ chưa qua đào tạo trường lớp nên ít am hiểu về pháp luật, yếu kém về năng
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lực và kiến thức vì vậy rất khó khăn trong việc lập kế hoạch tài chính, xây dựng
các phương án sản xuất kinh doanh khả thi, trong khi thói quen sử dụng các dịch
vụ tư vấn mang tính chuyên nghiệp chưa hình thành.
Các sổ sách kế toán của DNNQD thường quá đơn giản, không cập nhật,
không đầy đủ và không chính xác. Do vậy, việc đánh giá các doanh nghiệp (để
Ngân hàng quyết định cho vay) thực sự khó khăn đối với Ngân hàng, nhất là
hiện nay sổ sách của các doanh nghiệp hầu hết đều chưa được kiểm toán.
Thêm vào đó đội ngũ lao động trong các DNNQD nói chung đều có kỹ
năng thấp, rất ít được qua đào tạo, hầu hết là lao động phổ thông. Điều này cũng
là đặc điểm chung của đội ngũ lao động ở nước ta ảnh hưởng không nhỏ đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các đặc điểm trên đây chính là những yếu tố tiềm ẩn gây rủi ro cho Ngân
hàng khi cho vay, vì thế để có thể tiếp cận được vốn tín dụng DNNQD cần khắc
phục những nhược điểm và phát huy những lợi thế của mình. Cũng như Ngân
hàng khi cho vay cần thẩm định khách hàng một cách kỹ lưỡng, tư vấn cho khách
hàng nhằm tránh các thiệt hại có thể xảy ra.
1.4. Vai trò của các DNNQD trong tiến trình đổi mới
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ra đời và phát triển trong nền kinh tế
thị trường, các DNNQD chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ nên rất linh hoạt, nhạy
bén thích ứng nhanh chóng với sự biến động của thị trường. Nó huy động tối đa
nguồn vốn trong dân cư để phát triển kinh tế đất nước. Với tính tự chủ và khả
năng thích nghi cao, DNNQD đóng một vai trò không thể thiếu được trong nền
kinh tế, thể hiện qua các mặt sau:
* DNNQD góp phần thu hút tối đa mọi nguồn vốn trong dân, giải quyết
nạn thất nghiệp tạo ra sự phát triển cân đối trong nền kinh tế.
- Trình độ lực lượng sản xuất của nước ta còn thấp, trong khi tiềm năng
phát triển còn lớn song khả năng khai thác còn hạn chế. Sự độc chiếm của hình
thức sở hữu Nhà nước và tập thể không cho phép khai thác những tiềm năng lớn
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đó của đất nước, do đó vẫn còn một lượng vốn lớn còn nằm trong dân cư. Chỉ có
con đường phát triển DNNQD mới có thể khai thác chúng.
- DNNQD tham gia vào hầu hết các ngành kinh tế từ công nghiệp, thương
mại đến dịch vụ, với đặc tính nhạy bén, tổ chức gọn nhẹ nên đã thu hút được rất
nhiều lao động có trình độ khác nhau. Đặc biệt trong quá trình cải cách các
DNNN đã nảy sinh một số vấn đề như thất nghiệp, sự bỏ ngỏ một số ngành kinh
tế và khu vực do nhà nước không đủ sức đảm trách hoặc không có tầm quan
trọng sống còn. Chính các DNNQD với đặc tính của mình sẽ tạo ra công ăn việc
làm giải quyết các vấn đề thất nghiệp, điều tiết lực lượng phân giải trên các khu
vực còn nhiều khoảng trống góp phần dãn cách, điều hoà nhu cầu lao động. Sự
hoạt động đa dạng trên nghiều ngành nghề của các DNNQD đã tạo ra sự phát
triển cân đối cho nền kinh tế.
* DNNQD phát triển tạo thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Với đặc điểm là được tổ chức gọn nhẹ, ít nhân công, dây chuyền công
nghệ đơn giản, có mối quan hệ sẵn có về cung cấp nguyên vật liệu và tiêu thụ
sản phẩm nên DNNQD có đặc điểm nổi bật là năng động, linh hoạt thay đổi
nhanh mặt hàng và phương hướng kinh doanh, Do vậy các DNNQD đáp ứng
khá nhanh nhậy các nhu cầu phong phú, đa dạng của thị trường, từ đó tạo ra
ngày càng nhiều lợi nhuận đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách Nhà
nước. Trên thực tế DNNQD đóng góp mỗi năm khoảng 40% - 45% vào ngân
sách Nhà nước.
* DNNQD tạo ra nhiều hàng hoá cho tiêu dùng và cho xuất khẩu.
Theo chiến lược phát triển hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu của Đảng và
Nhà nước ta, DNNQD với sự đa dạng về quy mô, ngành nghề và hình thức kinh
doanh đã khơi dậy tiềm năng to lớn trong dân để phát triển sản xuất, thu hút vốn,
kỹ thuật công nghệ của nước ngoài tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm phục vụ
cho tiêu dùng và cho xuất khẩu. Đặc biệt là sự khôi phục của các làng nghề
truyền thống ở nông thôn đã làm ra các sản phẩm có giá trị xuất khẩu đóng góp
phần quan trọng vào việc nâng cao đời sống cho dân cư ở nông thôn.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* DNNQD có tác dụng quan trọng đối với quá trình CNH - HĐH và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.
Quá trình phát triển DNNQD cũng là quá trình cải tiến máy móc thiết bị,
nâng cao năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu thị
trường, đến một mức độ nhất định sẽ dẫn đến đổi mới công nghệ, làm cho quá
trình CNH - HĐH đất nước không chỉ diễn ra theo chiều rộng mà cả ở chiều sâu.
Mặt khác, sự phục hồi các làng nghề ở một số vùng quê đã thúc đẩy sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế.
* DNNQD phát triển góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Với sự đa dạng về lĩnh vực hoạt động, DNNQD đã tạo nên môi trường
cạnh tranh trong nền kinh tế với các DNNN. Theo quy luật thì cạnh tranh sẽ là
điểm khởi đầu của sự phát triển. DNNQD có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của
DNNN, bù đắp những lỗ hổng do khu vực này tạo ra. Đặc biệt nó có vai trò
quan trọng trong việc chống lại xu thế độc quyền đang tác động làm trì trệ, cản
trở nền kinh tế phát triển. Việc phát triển DNNQD tạo ra một sức ép lớn đối với
DNNN trên cơ sở đó tạo ra hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú đa dạng,
chất lượng cao hơn. Khi đó khách hàng sẽ có điều kiện lựa chọn sản phẩm hàng
hoá mà mình ưa thích. Bằng con đường đó đã buộc DNNN phải quan tâm nhiều
hơn đến vấn đề nâng cao hiệu quả, cải tiến chất lượng sản phẩm, và đây sẽ trở
thành định hướng cơ bản cho sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp này,
từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
* DNNQD góp phần tạo ra thị trường vốn rộng lớn cho Ngân hàng.
Sự xuất hiện và phát triển của các DNNQD đã tạo ra một nhóm khách
hàng thường xuyên cho Ngân hàng. Với tốc độ phát triển nhanh chóng cả về quy
mô và chất lượng các DNNQD đã tạo ra một nhu cầu lớn cho Ngân hàng cả về
vốn, thanh toán và các dịch vụ qua Ngân hàng. Điều này tạo điều kiện cho Ngân
hàng ngày càng phát triển. Như chúng ta biết, hoạt động Ngân hàng phụ thuộc
rất lớn vào nền kinh tế quốc dân mà trong đó DNNQD chiếm một tỷ lệ đáng kể
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
do vậy, trong tương lai DNNQD sẽ là thị trường đầy triển vọng của ngành Ngân
hàng.
Nhận thức được vai trò to lớn của DNNQD, Nhà nước ta đã khuyến khích
và tạo môi trường ngày càng thuận lợi cho khu vực này. Sau khi quốc hội thông
qua luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân tháng 12/1990 DNNQD đã có sự
phát triển nhanh chóng và đã đạt được những kết quả nhất định, phát huy tính
tích cực trong việc huy động vốn, giải quyết việc làm, tạo sự năng động trong
kinh doanh và thoả mãn nhu cầu thị trường. Một kết quả nổi bật là các DNNQD
tăng lên nhanh chóng, tăng mức nộp ngân sách và thu nhập khá cao. Đạt được
những điều đó lá nhờ những điều kiện khá thuận lợi như cơ chế chính sách của
Nhà nước luôn khuyến khích, hỗ trợ cho sự ra đời và hoạt động của DNNQD.
Nhà nước cũng luôn cố gắng tạo ra môi trường pháp lý bình đẳng, tự chủ trong
kinh doanh để các doanh nghiệp này có điều kiện vươn lên. Hơn nữa, lực lượng
lao động Việt Nam dồi dào, luôn sẵn sàng đáp ứng yêu cầu của thành phần kinh
tế này.
2. Thuận lợi và khó khăn của DNNQD trong quá trình đổi mới
2.1. Thuận lợi
* Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh được sự khuyến khích phát triển của
Nhà nước. Nhà nước ta đã có chủ trương đa dạng hoá các thành phần kinh tế,
đặc biệt là tăng tỷ trọng thành phần kinh tế ngoài quốc doanh để tận dụng các
nguồn lực của nền kinh tế như: lao động và vốn. Môi trường pháp lý sẽ ngày
càng được khai thông để tạo điều kiện tối đa cho khu vực này phát triển; bên
cạnh đó Nhà nước có những chính sách ưu đãi cho khu vực này như miễn giảm
thuế trong những năm đầu đối với những lĩnh vực được khuyến khích phát triển,
giảm giá thuê đất Như vậy, các DNNQD sẽ có rất nhiều điều kiện thuận lợi để
phát triển. Nhà nước đã ban hành luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty và luật
doanh nghiệp trong đó công nhận quyền bình đẳng của chúng với các hình thức
kinh tế khác trước pháp luật. Đặc biệt, đối với ngành Ngân hàng, cơ chế cho vay
đối với DNNQD đã thông thoáng hơn: thủ tục cho vay đơn giản hơn, nếu
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp khả thi thì có thể sử dụng
chính số vật tư hàng hoá hình thành từ vốn vay làm tài sản bảo đảm; các hình
thức cho vay phong phú hơn phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng
doanh nghiệp.
* Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: hệ thống giao thông, hệ thống thông tin
liên lạc, khoa học kỹ thuật công nghệ phát triển đã thúc đẩy sự phát triển mạnh
mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các DNNQD nói riêng. Với sự
hình thành và đi vào hoạt động của thị trường chứng khoán đã tạo điều kiện thuận
lợi cho các công ty cổ phần thu hút vốn; là cơ sở để thúc đẩy các doanh nghiệp Việt
Nam làm ăn lành mạnh, có hiệu quả.
* Môi trường tài nguyên còn rất nhiều tiềm năng phù hợp với đặc điểm
của các DNNQD. Lực lượng lao động dồi dào và tiền công thấp là một thuận lợi
cho sự phát triển của các DNNQD. Thị trường trong nước trong những năm gần
đây đã phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng, tuy nhiên các chủng
loại hàng hoá vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng, nên đây là
những tiềm năng để các DNNQD xâm nhập. Ngoài ra thị trường quốc tế còn
chưa có các mặt hàng đặc thù của Việt Nam, điều này cũng tạo ra thị trường đầu
ra lý tưởng cho các DNNQD.
* DNNQD bao gồm phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh
nghiệp này có những thuận lợi riêng như: dễ triển khai hoạt động, linh hoạt, dễ
thích ứng, quay vòng nhanh, chi phí gián tiếp thấp, tận dụng được các nguồn
vốn nhỏ.
Mặc dù có những thuận lợi như vậy, nhưng DNNQD cũng gặp phải
không ít những khó khăn.
2.2. Khó khăn
* Sự non nớt về kinh nghiệm quản lý, thông tin yếu kém. Vì mới khẳng
định sự tồn tại trong nền kinh tế thị trường nên kinh nghiệm thương trường của
các DNNQD còn rất ít, đặc biệt là trên thương trường quốc tế. Điều này làm cho
doanh nghiệp còn lúng túng trong việc chiếm lĩnh thị trường, thất bại trong cạnh
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tranh, thậm chí bị lừa đảo. Trình độ quản lý và thông tin là những yếu tố kỹ
thuật, đòi hỏi phải luôn cập nhật, tuy vậy ở các DNNQD những yếu tố này vẫn
chưa đạt yêu cầu để có thể giúp các doanh nghiệp đứng vững và phát triển trên
thị trường.
* Thiếu vốn là một trong những căn bệnh kinh niên của các nước đang
phát triển, vốn là một trong những yếu tố đầu vào vô cùng quan trọng, quyết
định đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp, quyết
định tới phạm vi ngành nghề kinh doanh, quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Có thể ví vốn là một nguồn thức ăn để nuôi sống doanh
nghiệp. Một doanh nghiệp thiếu vốn như một cơ thể thiếu dinh dưỡng, tê liệt,
không thể hoạt động gì được. Tình trạng thiếu vốn là do nước ta đang trong giai
đoạn CNH - HĐH. Các nguồn vốn lớn tập trung vào các công trình trọng điểm
của quốc gia, cơ sở hạ tầng cần phải tập trung xây dựng vẫn còn nhiều, tích luỹ
từ nội bộ còn ít, số vốn có được thì nằm ứ đọng trong dân cư vì thị trường tài
chính chưa phát triển.
* Một trong những quy luật khắc nghiệt của kinh tế thị trường là quy luật
cạnh tranh. Quy luật này sẽ loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém, không hiệu
quả, thiếu năng động, non nớt trên thị trường. Trong bối cảnh của nền kinh tế thị
trường DNNQD không chỉ cạnh tranh lẫn nhau, mà còn phải cạnh tranh với các
DNNN có sự hỗ trợ của Nhà nước, cạnh tranh với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài mạnh hơn về nhiều mặt.
* DNNQD chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiều về số
lượng nhưng lại bị hạn chế về quy mô và ngành nghề kinh doanh. Cơ cấu kinh tế
mất cân đối của khối kinh tế ngoài quốc doanh là sản phẩm trực tiếp của cấu
trúc thị trường có tính độc quyền. Hầu hết các doanh nghiệp này hoạt động trong
các lĩnh vực thương mại dịch vụ, chế biến lương thực thực phẩm, chưa đến 4%
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp. Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 70%
trong tổng số các doanh nghiệp. Chỉ có khoảng 1/3 số doanh nghiệp nhỏ vay
được vốn của Ngân hàng. Trước mắt do các doanh nghiệp nhỏ chưa đầu tư vào
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
sản xuất, nên không tạo ra được năng lực cải tiến công nghệ nội sinh và kéo theo
nhu cầu đầu tư lớn. Chỉ có cải tiến áp dụng công nghệ mới mới đem lại cơ hội
đầu tư nhờ hạ giá thành, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm hay tạo ra sản phẩm
mới.
Nắm giữ khoảng gần 30% tổng tài sản của xã hội, nhận được khoảng 35%
trong tổng số mức tín dụng của các NHTM, DNNQD đã chứng tỏ hiệu quả việc
sử dụng vốn bằng việc đóng góp 40% - 45% vào Ngân sách Nhà nước. Với sự
phát triển năng động trong các năm qua, nếu giảm bớt các cản trở về thể chế,
DNNQD sẽ nổi nên là khách hàng quan trọng với nhu cầu vốn lớn trong thời
gian tới.
3. Các nguồn vốn của DNNQD
3.1. Vốn tự có
Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi được phép khai trương của
doanh nghiệp là phải có đủ vốn ban đầu theo quy định của pháp luật.
- Đối với các doanh nghiệp tư nhân, nguồn vốn này là của người chủ
đứng lên thành lập doanh nghiệp
- Đối với các công ty cổ phần, nguồn vốn này là vốn đóng góp của các
cổ đông dưới dạng phát hành cổ phiếu.
- Đối với các công ty TNHH, nguồn vốn này là vốn đóng góp của các
thành viên đứng lên thành lập công ty.
- Đối với hợp tác xã, nguồn vốn này do sự đóng góp của các xã viên.
Vốn điều lệ là số vốn đầu tư ban đầu khi thành lập doanh nghiệp và được
ghi rõ trong điều lệ của doanh nghiệp. Vốn điều lệ ít nhất phải bằng số vốn pháp
định theo quy định của pháp luật. Vốn pháp định quy định cho mỗi loại hình
doanh nghiệp nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô hoạt động hay lĩnh vực kinh
doanh . Vốn điều lệ sẽ được tăng và bổ sung dưới các hình thức: huy động thêm
vốn của các cổ đông, lợi nhuận bổ sung Vốn này được dùng vào việc mua
sắm tài sản cố định cho doanh nghiệp, một phần dùng làm vốn lưu động phục vụ
quá trình sản xuất kinh doanh.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngoài vốn điều lệ, các doanh nghiệp còn có thể có các quỹ dự trữ như:
quỹ phát triển kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ
phúc lợi
Nguồn vốn tự có phản ánh sức mạnh tài chính của các doanh nghiệp,
phản ánh khả năng chống đỡ với các rủi ro trên thị trường, là cơ sở rất quan
trọng để thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển.
3.2. Nguồn vốn đi vay
Doanh nghiệp có thể vay từ bạn hàng qua hình thức tín dụng thương mại
hay vay Ngân hàng qua hình thức tín dụng Ngân hàng.
* Tín dụng thương mại.
Các doanh nghiệp khai thác nguồn vốn tín dụng thương mại hay nguồn
vốn tín dụng người cung cấp. Nguồn vốn này được khai thác tự nhiên trong
quan hệ mua bán chịu hay mua bán trả góp. Nguồn vốn tín dụng thương mại có
ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với
toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ tiện lợi và
linh hoạt trong kinh doanh. Mặt khác nó còn tạo ra khả năng mở rộng các quan
hệ hợp tác kinh doanh, thúc đẩy sự lưu thông của hàng hoá. Các điều kiện ràng
buộc cụ thể có thể được ấn định khi hai bên ký kết hợp đồng mua bán. Tuy vậy,
đây chỉ là một nguồn vốn ngắn hạn và sẽ gặp rủi ro khi quy mô tài trợ vượt quá
giới hạn an toàn.
* Tín dụng Ngân hàng.
Các Ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tức thời cho các doanh nghiệp
với thời hạn có thể từ vày ngày cho đến vài năm, với lượng vốn theo nhu cầu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn (dưới 1
năm), vay trung hạn (từ 1 đến 5 năm), vay dài hạn (trên 5 năm) với những mức
lãi suất Ngân hàng và những điều kiện ràng buộc khác nhau. Hiện nay ở Việt
Nam thị trường tài chính chưa hoàn chỉnh, việc thu hút vốn từ thị trường này là
chưa phổ biến thì tín dụng Ngân hàng là một hình thức huy động vốn phổ biến
của các doanh nghiệp. Nó có tác dụng to lớn đối với cả người đi vay và người
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét