Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Thực trạng FDI của Hàn Quốc vào Việt Nam. Giải pháp thu hút sau hội nhập

 Mức thuế suất 10%, 15%, 20%, và 28%, tuỳ theo lĩnh vực ngành nghề,
mục tiêu hoạt động và địa bàn đầu tư
 Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp: tối đa 4 năm và giảm 50% thuế
CIT trong 9 năm tiếp theo
 Các doanh nghiệp FDI được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá
nhập khẩu để tạo tài sản cố định (thiết bị máy móc, phơng tiện vận tải
chuyên dùng, vật t xây dựng trong nớc cha sản xuất đợc).
 Dự án phát triển hạ tầng khu công nghiệp: thuế suất 10% trong 15 năm,
miễn 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm tiếp theo.
 Dự án sản xuất trong KCN : thuế suất 15% trong 12 năm, miễn 3 năm
và giảm 50% số thuế phải nộp trong 7 năm liên tiếp theo.
Dự án cung cấp dịch vụ trong KCN: thuế suất 20% trong vòng 10 năm,
miễn 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 6 năm tiếp theo.
 Dự án Đầu tư vào KKT được hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn
4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo.
 Dự án Đầu tư vào KKT có quy mô lớn, có ý nghĩa quan trọng được
hưởng thuế suất 10% trong suốt thời gian thực hiện dự án.
 Giảm 50% thuế thu nhập cá nhân.
 Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu giữa khu phi thuế quan với nước ngoài
và với KCX, doanh nghiệp chế xuất không phải nộp thuế xuât khẩu,
nhập khẩu.
 Hàng hoá sản xuất, tiêu thụ hoặc nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi
thuế quan không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng.
 Ưu đãi cao hơn về thuế thu nhập doanh nghiệp.
 Người nước ngoài được mua nhà ở và thuê đất ở trong KKT…
 Ưu đãi về sử dụng đất : thời gian sử dung đất, thuế sử dung đất, tiền
sử dụng đất, thuê mặt nước.
5
-Thời hạn sử dụng đất của dự án Đầu tư không quá năm mươi năm; đối với
dự án có vốn Đầu tư lớn nhưng thu hồi chậm, dự án Đầu tư vào địa bàn có
điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt
khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, thuê đất không quá 70
năm
-Khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu nhà Đầu tư chấp hành đúng phát luật về
đát đai và có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất thì sẽ được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền xem xét ra hạn sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã
được phê duyệt.
-Nhà Đầu tư Đầu tư trong lĩnh vực ưu đãi Đầu tư, địa bàn ưu đãi Đầu tư
được miễn, giảm tiền thuê đất, tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai và phát luật về thuế.
 Ưu đãi về chế độ chuyển lỗ
- Các doanh nghiệp sau khi quyết toán thếu với cơ quan thuế mà bị lỗ thì
được chuyển lỗ và trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian
chuyển lỗ không quá 5 năm
- Thời điểm bắt đầu thời gian miễn thuế là năm tài chính đầu tiên mà doanh
nghiệp có thu nhập chịu thuế chua trừ số lỗ. Trường hợp năm tài chính đầu
tiên được miễn thuế giảm thuế có thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ dưới 6 tháng, doanh nghiệp có quyền đuợc miễn thuế ngay
năm đó
 Ưu đãi về chế độ khấu hao tài sản cố định
6
Dự án Đầu tư trong lĩnh vực, địa bàn ưu đãi Đầu tư và dự án kinh doanh có
hiệu quả được áp dụng khấu hao nhanh đối với tài sản cố định; mức khấu hao
tối đa là hai lần mức khấu hao theo chế độ khấu hao tài sản cố định.
2.2 Môi trường Đầu tư của Việt Nam
Việt Nam là nước có môi trường chính trị ổn định và môi trường hòa bình,
hữu nghị, hợp tác trong quan hệ quốc tế đó mở rộng với hầu khắp các nước.
Môi trường pháp chế đang được tích cực và hoàn chỉnh. Trong điều kiện tình
hình chính trị thế giới biến động hết sức phức tạp như cuộc chiến ở Trung
Đông ngày càng gay gắt, các cuộc khủng bố nổ ra ở khắp nơi, đặc biết vụ
khủng bố ngày 11/9 vừa qua ở Mỹ làm cho tình hình chính trị kinh tế thế giới
biến động không ngừng. Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có
môi trường chính trị ổn định nhất.
Về kinh tế tương đối ổn định, có khả năng kiểm soát lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại cao trên thế giới (năm 2001 tốc
độ tăng trưởng là 7%). Đặc biệt trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu
vực Đông Nam ở năm 1997, Việt Nam là nước ít chịu ảnh hưởng nhất, điều
đó chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam khá ổn định, những điều chỉnh kinh tế vĩ
mô là hợp lý.
Môi trường kinh tế - chính trị ổn định tạo tâm lý yên tâm cho các nhà đầu tư
nước ngoài về những rủi ro do biến động kinh tế, chính trị. Đây chính là điểm
mạnh để ta tích cực khai thác dòng FDI vào Việt Nam.
2.3 Luật đầu tư nước ngoài ngày càng hoàn thiện .
Thực hiện đường lối mở cửa, phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, luật đầu tư
nước ngoài của Việt Nam đó được ban hành từ thỏng 12 năm 1987 trải qua
hơn 10 năm đớ vào thực tiễn cuộc sống, đầu tư nước ngoài (FDI) đó phát huy
nhiều tác dụng như chúng ta đó thu hút được 3672 dự án, tổng vốn đăng ký
41603,8 triệu USD với tổng số vốn pháp định 19617,8 triệu USD; thu hút
7
được khoảng 67 đối tác trên khắp thế giới đầu tư vào hầu hết các ngành nghề
sản xuất. Vốn FDI cũng được thu hút vào 61 tỉnh, thành phố, đóng góp đáng
kể vào tăng trưởng kinh tế và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao
động.
Kết quả đạt được là do luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam ngày càng
được sửa đổi hoàn thiện theo hướng ngày càng thông thoáng và hấp dẫn các
đối tác đầu tư nước ngoài. Những sửa đổi tạo sức hấp dẫn thu hút FDI cụ thể
một số điểm sau:
* Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài được Quốc
Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tháng 6 năm 2000
đó bổ sung thêm điều khoản: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
bên tham gia hợp đồng, hợp tác kinh doanh trong quá trình hoạt động được
phép chuyển đổi hình thức đầu tư, chia, tách, sát nhập, hợp nhất doanh
nghiệp. Chính phủ quy định về điều kiện, thủ tục chuyển đổi hình thức đầu tư,
sát nhập, hợp nhất doanh nghiệp.”
* Nghị định 24/2000/NĐ-CP ngày 31-7-2000 của Chính phủ: Theo nghị
định này, một số lĩnh vực đầu tư như xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đó được đưa ra khỏi doanh
mục bắt buộc phải liên doanh, thay vào đó nhà đầu tư có thể đầu tư dưới hình
thức 100% vốn nước ngoài.
Hiện nay, luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam chỉ hạn chế đầu tư dưới
hình thức 100% vốn nước ngoài trong 8 lĩnh vực là:
- Xây dựng kinh doanh mạng viễn thông quốc tế, viễn thông nội hạt.
- Khai thác chế biến dầu khí, khoảng sản quý hiếm.
- Dịch vụ tư vấn (trừ tư vấn kỹ thuật).
8
- Vận tải đường hàng không, đường sắt, đường biển, vận tải hành khách
công cộng, xây dựng cảng, ga hàng không.
- Sản xuất thuốc nổ công nghiệp.
- Trồng rừng.
- Du lịch lữ hành.
- Văn hóa.
Ngoài những lĩnh vực này, nhà đầu tư nước ngoài được chủ động lựa chọn
dự án đầu tư, hình thức đầu tư, đối tác đầu tư, địa bàn, thời hạn đầu tư, thị
trường tiêu thụ sản phẩm, tỷ lệ gúp vốn pháp định phù hợp với quy định của
luật đầu tư nước ngoài. Đối với hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng hợp tác kinh doanh, để tạo điều kiện cho triển khai các dự án và cho các
nhà đầu tư nước ngoài , nghị định 24/2000/NĐ-CP quy định rằng trong quá
trình kinh doanh, nếu xét thấy cần thiết các bên hợp doanh có thể thỏa thuận
thành lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Theo luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài thì các
doanh nghiệp liên doanh không bắt buộc phải lấy ý kiến thống nhất của hội
đồng quản trị đối với quyết định liên quan đến bổ nhiệm và miễn nhiệm kế
toán trưởng, chấp thuận báo cáo tài chính, chi phí hàng năm và vay vốn đầu
tư. Sự điều chỉnh như trên tạo điều kiện lành mạnh hơn cho quá trính ra quyết
định của nhà đầu tư.
Theo luật mới sửa đổi thí doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên
hợp doanh thực hiện dự án đầu tư không thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện về
hình thức đầu tư được chuyển đổi hình thức đầu tư.
Như vậy, với việc xây dựng và sửa đổi luật đầu tư nước ngoài của Việt
Nam ngày càng hoàn thiện, thông thoáng, tạo thế chủ động và có lợi cho đối
9
tác đầu tư, làm cho môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên hấp
dẫn hơn.
2.4 Môi trường đối với đầu tư nước ngoài ngày càng thông thoáng.
Chính phủ Việt Nam đã có nhiều thay đổi trong các chính sách đối với đầu
tư nước ngoài theo hướng có lợi hơn cho đối tác. Với mục đích đẩy nhanh tốc
độ thực hiện các dự án đã đăng ký trên tinh thần coi trọng vốn thực hiện hơn
vốn đăng ký, nghị định số 10 và chỉ thị số 11 của Chính phủ ra đời nhằm phát
huy nội lực, tận dụng FDI làm mọi việc giúp các nhà đầu tư yên tâm, trụ vững
ở Việt Nam trong hoàn cảnh khó khăn. Thời điểm bắt đầu là sau hội nghị đầu
tiên của Chính phủ và các nhà đầu tư nước ngoài vào khoảng tháng 2/1998,
Nhà nước chủ trương xóa bỏ một số thủ tục hành chính rườm rà như việc cấp
giấy phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp, đăng ký kinh doanh thời gian làm
thủ tục kiểm hàng, giao nhận hàng ở hải quan cũng đã rút ngắn bằng nửa so
với trước đây.
Chính phủ thực hiện các chính sách ưu đãi đối với đầu tư nước ngoài như:
Tăng mức thuế ưu đãi lợi tức cho một số doanh nghiệp, miễn thuế lợi tức 4
năm và giảm 5% trong 4 năm tiếp theo, thậm chí thuế lợi tức đến 8 năm đối
với các dự án ưu đãi đặc biệt. Đông thời cũng tiến hành giảm giá thuê đất
khoảng 25% cho 170 doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ đã cho phép điều
chỉnh tỷ lệ nội tiêu và khuyến khích xuất khẩu, đồng thời các doanh nghiệp có
vốn FDI cũng được mua hàng hóa Việt Nam để xuất khẩu
Việc phân cấp giấy phép đầu tư cũng được phân cấp toàn diện cho tất cả các
tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương được cấp giấy phép đối với các dự
án đầu tư trực tiếp nước ngoài với quy mô không quá 5 triệu USD cho một dự
án (riêng Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh là 10 triệu) không kể 10 ban quản lý đã
được ủy quyền trước đây, nay bộ Kế hoạch và đầu tư tiếp tục ủy quyền cho
các ban quản lý khu công nghệp khác. Cách phân cấp quản lý này đã rút ngắn
10
thời gian chờ đợi cho các doanh nghiệp có vốn FDI, đảm bảo thời gian tối đa
là 30 ngày, ở TP.Hồ Chí Minh chỉ mất có 9 đến 15 ngày để nhận được giấy
phép. Bên cạnh đó, do chủ trương ủy quyền cấp giấy phép mà việc nhập khẩu
thiết bị, vật tư của doanh nghiệp cũng diễn ra nhanh chóng hơn. Các địa
phương thì có điều kiện theo dõi ngay từ đầu khi các dự án mới hình thành và
chủ động điều chỉnh, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động
của dự án.
2.5 Môi trường và chính sách Đầu tư ra nước ngoài của Hàn Quốc
Với nền kinh tế Hàn Quốc , tổng giá trị thương mại hàng xuất khẩu tương
đương với 70 % GDP của cả nước trong năm 2005, trong khi tổng doanh thu
của các công ty đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 14%. Như vậy, Hàn
Quốc đang cố gắng nỗ lực để hỗ trợ các công ty nước ngoài Ví dụ gần đây
là việc mở cửa cụm công nghiệp sản xuất LCD lớn nhất trên thế giới ở Paju,
cách khu vực phi quân sự vài km.
Chính phủ xây dựng đường sá và cơ sở hạ tầng dể hỗ trợ các khu công
nghiệp có tầm cỡ của Paju. Chính phủ nới lỏng hoặc bãi bỏ mà đã tồn tại
nhiều thập kỉ liên quan đến phát triển các vùng biên giới. Những ưu đãiđó
và các biện pháp khác được tiến hành với tốc độ khẩn trương nhất, một tín
hiệu của thiện chí và cam kết của chính phủ để giúp cho các doanh nghiệp
nước ngoài làm ăn tại Hàn Quốc.
Còn có những ví dụ thành công khác : nhà bán lẻ của Anh(Tesco) đã
làm ăn rất có hiệu quả tại Hàn Quốc chiếm tới 1/3 doanh thu ở nước ngoài của
nhà bán lẻ này; hoạt dộng xuất sắc của GM Daewoo. Công ty này trong quý I
2006 một lần nũa trở thành nhà sản xuấtô tô thứ hai của Hàn Quốc. Đây là
một tiến bộ to lớn vĩ đại chỉ trong vòng bốn năm. Trên thực tế GM Daewwo
hoạt động tốt cũng là để giúp cho tăng cường cho hình ảnh của hãng GM ở
Châu á hy vọng đạt 11 tỷ đô la Mỹ DTNN năm 2006- mức tương đương năm
11
2005. Bên cạnh các lĩnh vực thông thường như tài chính và bảo hiểm, còn có
các khu vực khác mà các nhà đầu tư đang quan tâm trong lĩnh vực thiết bị
nghiên cứu phát triển, trung tâm giao vận và trụ sở các tập đoàn đa quốc gia.
Các công ty sản xuất nguyên vật liệu cũng rất quan tâm tới lĩnh vực điện tử
phát triển cao của Hàn Quốc. Sự quan tâm của các nhà đầu tư trong lĩnh vực
này là đương nhiên khi xem xét tới Đầu tư nghiên cứu và phát triển ( R & D)
khổng lồ của Hàn Quốc hàng năm, giúp cho Hàn Quốc đứng thứ 10 hàng
năm. Việc công hiên như vậy đã đem lại nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực.
Trong năm 2005, Hàn Quốc đứng thứ 6 xét về số lượng xin cấp bằng phát
minh sáng chế quốc tế nộp tại tổ chức sở hữu trí tuệ (WIPO)
Nắm bắt được tầm quan trọng của đầu tư đối với tương lai của đất nước, Hàn
Quốc quyết tâmthực hiện tất cả những gì có thể để thoả mãn nhu cầu của nhà
Đầu tư . Hàn Quốc đang thực thi những biện pháp nhằm trợ giúp cải tiến môi
trường kinh doanh. Khu mới Invest Plaza ở Nam Seoul được hy vọng để giúp
đỡ các doanh nghiệp có Đầu tư nước ngoài thâm nhập dễ dàng vào nền kinh
tế. Có nhiều chương trình tới các nhà đầu tư tiềm năng, chương trình quan
trọng nhất là những tư vấn thực hiện và trợ giúp ban đầu cho các doanh
nghiệp chuẩn bị hoạt động tại Hàn Quốc. Plaza đạt mục tiêu trở thành địa chỉ
dịch vụ một cửa cho các nhà Đầu tư : nhà quản lí dự án sẽ giúp mọi thứ từ
việc tìm ra địa điểm tốt nhất để xây dựng nhà máy, xử lí chi tiết hành chính
cho tới áp dụng tất cả các chương trình và lợi ích của chính phủ tương ứng.
Chính phủ nỗ lực để gia tăng những khuyến khích mà doanh nghiệp Đầu tư
vào lĩnh vực R&D công nghệ cao hay những doanh nghiệp mong muốn đặt
trụ sở ở khu vực Hàn Quốc sẽ được nhận những ưu đãi về tiền bạc
Cuối cùng là Hàn Quốc đang tập trung nỗ lực vào hai mục tiêu: Thứ nhất,
trợ giúp các điều kiện thị trường và cho phép doanh nhân nhận ra đầy đủ tiềm
12
năng doanh nghiệp của họ ở Hàn Quốc. Thứ hai, thực hiện các cam kết của
mình nhằm giúp đỡ doanh nghiệp hoạt động tốt ở Hàn Quốc
Để nền kinh tế có lợi hơn cho Đầu tư nước ngoài, năm 1998, Chính phủ đã
thay thế Đạo. luật quản lí ngoại hối trước đây bằng Đạo luật quản lí ngoại hối
mới. Các biện pháp tự do hoá trong luật mới được thực hiện trong hai giai
đoạn trong khoảng hai năm và những mục tiêu ban đầu của luật mới gồm có
sự tự do hoá tài khoản vốn và phát triển hơn nữa thị trường giao dịch trong
nước.
Nội dung chính của tự do hóa trong giai đoạn đầu là áp dụng” Hệ thống
danh mục phủ định”. Hệ thống này linh hoạt hơn hệ thống danh mục xác thực
trước đây, cho phép tự do hoá giao dịch các tài khoản vốn, trong đó các hoạt
động của doanh nghiệp lien quan với các cơ sở tài chính, bao gồm các khoản
vay ngắn hạn từ nước ngoài. Một nỗ lực tự do hoá thị trường khác của chính
phủ là cho phép uỷ quyền giao dịch ngoại hối nhằm giúp các tổ chức tài chính
đáp ứng một số yêu cầu nhất định.
Nội dung chính của tự do hoá giai đoạn hai gồm việc cho phép thực hiện
các giao dịch bằng tài khoản vốn vẫn còn bị hạn chế trong giai đoạn một, trừ
những giao dịch có liên quan đến an ninh quốc gia và nhằm ngan chặn các
hoạt động tội phạm. Nội dung này cho phép những người (nước ngoài) không
cư trú ở Hàn Quốc được Đầu tư vào các khoản tiền gửi bằng đông won ở Hàn
Quốc với kì hạn thanh toán dưới một năm và cho phép các cá nhân(nước
ngoài) cư trú tại Hàn Quốc Đầu tư vào các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ ở
nước ngoài và chứng khoán. Tuy nhiên các biện pháp tự do hoá này không
phảI là không có những rủi ro. Bởi vây, cùng với việc thực hiện những biện
pháp trên, Chính phủ đang tăng cường các quy chế giám sát thị trường và xây
dựng một hệ thống cảnh báo sớm. Chính phủ đã vạch ra các kế hoạch phát
triển thị trường trung tâm và dài hạn trong tháng 4 năm 2002 để biến Hàn
13
Quốc trở thành một đất nước thân thiệnvới kinh doanh và biến thi trường
ngoại hối Hàn Quốc trở thành một trung tâm tài chính Đông á. Những kế
hoạch này sẽ được triển khai cho tới năm 2011 theo ba giai đoạn. Theo đó,
nhiều hạn chế được áp dụng trong giai đoạn một và hai cuă quá trình tự do
hoá ngoại hối sẽ được bỏ dỡ trong năm 2011.
Trong năm 2002, thủ tục cấp phép của ngân hàng trung ương Hàn Quốc đã bị
bãi bỏ và các thủ tục giấy tờ cho giao dịch tài chính cá nhân và công ty đã
được đơn giản hoá. Cùng lúc này, quá trình lưu chuyển vốn đã được tự do
hơn nhiều. Nhằm phục hồi DTNN , Chính phủ đã tích cực làm việc về tự do
hoá kể từ năm 2005. Ví dụ như nới lỏng các luật lệ về DTNN trực tiếp và
việc mua bán bất động sản ở nước ngoài bởi công dân Hàn Quốc . Trong năm
2006, tất cả các giao dịch vốn được chuyển từ một hệ thống cấp phép sang
một hệ thống báo cáo đơn giản cho tự do hoá việc tái Đầu tư
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét