Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHẾ TẠO ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN NĂM 2025 CỦA HÀN QUỐC

5
nghiên cứu tiên tiến, chứ không còn thụ động phụ thuộc vào các dòng kỹ năng và đổi
mới công nghệ của nước ngoài.
Các Cheabol đã nhanh chóng phát triển sự hiện diện quốc tế đầy đủ để quản lý việc
nhập khẩu công nghệ của họ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn cần phải
được trợ giúp để tìm kiếm và mua các công nghệ ở nước ngoài. Cũng giống như Đài
Loan và Nhật Bản, Hàn Quốc đã xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) về nguồn và giá cung
cấp công nghệ. CSDL này được liên kết với các CSDL tương tự ở nước ngoài và được
cung cấp thông tin trực tuyến ở các trung tâm công nghiệp chính. Cũng giống như các
nước hướng vào xuất khẩu khác, những khách mua hàng nước ngoài thường là nguồn
cung công nghệ giá trị. Những nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu của Chính phủ đã đóng góp
to lớn cho hình thức tiếp nhận công nghệ này.
Các chính sách của Hàn Quốc khuyến khích một cách lựa chọn các hoạt động và
các hãng thông qua cấp tín dụng và bao cấp. Khi khu vực công nghiệp chế tạo trưởng
thành, đòi hỏi công nghệ nhiều hơn và Chính phủ giảm việc cấp tín dụng thì vai trò
của nó trong việc cấp tài chính cho công nghệ lại tăng lên.
Chính phủ cấp tài chính cho công nghệ bằng hình thức cho không và cho vay
(thường trực tiếp và bao cấp). Các cơ quan khác nhau như các công ty tài chính mạo
hiểm, ngân hàng, công ty bảo lãnh tín dụng và các cơ quan khác đã được sử dụng để
đưa luồng vốn này tới những người sử dụng khác nhau dưới các hình thức khác nhau.
Ba dạng cấp tài chính cho công nghệ được sử dụng là: bao cấp, cho vay và hỗ trợ thể
chế.
Bao cấp, 3 dạng trợ cấp chính cho nỗ lực công nghệ là: Chương trình R&D chỉ định
(triển khai năm 1982), Chương trình hỗ trợ Công nghệ công nghiệp (1987) và Dự án
Tiến tiến cao cấp Quốc gia (HAN) (1992). Những Chương trình này đã đóng góp một
lượng tiền lớn cho nghiên cứu được Chính phủ phê duyệt hoặc đặt mục tiêu, do các
công ty thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu của họ hoặc các công ty hợp tác với các
viện nghiên cứu.

1.2. Các đặc điểm trong nền công nghiệp chế tạo của Hàn Quốc
- Các ngành điện tử và tự động đóng góp đáng kể trong tỉ lệ tăng trưởng của công
nghiệp chế tạo.
- Sự gia tăng trong tăng trưởng và hiệu suất hoạt động được thể hiện rõ trong các
công ty lớn Khoảng cách giữa các công ty lớn và các công ty nhỏ là rất lớn.
- Xuất hiện dấu hiệu tích cực trong sự gia tăng công nghệ tập trung ở các doanh
nghiệp vừa và nhỏ, điều này cho thấy sự thay đổi đối với một nền kinh tế hướng
vào đổi mới.
6
- Sau năm 2000, tổng hệ số hiệu suất (TFP) tăng lên nhanh chóng trong các
ngành điện tử, cơ khí chế tạo và phương tiện giao thông trong khi con số này lại
tăng chậm ở các ngành thực phẩm và đồ uống, dệt may cũng như các ngành
thiết bị chính xác.
- Năng suất lao động thấp trong các ngành xuất bản và chế tạo sản phẩm kim
loại.
Đến năm 2010, Hàn Quốc sẽ phát triển thành một trong bốn cường quốc công
nghiệp chế tạo hàng đầu thế giới, với các đặc điểm:
- Ngành bán dẫn và đóng tàu: Hàn Quốc chắc chắn đảm bảo vị trí đứng đầu thế
giới.
- Sản xuất ô tô và hoá dầu: trở thành một trong bốn nước sản xuất và xuất khẩu
hàng đầu thế giới.
- Điện tử kỹ thuật số: trở thành một trong hai nước sản xuất thiết bị điện tử kỹ
thuật số đứng đầu thế giới.
- Thép, cơ khí và nhiên liệu: đảm bảo năng lực cung ứng toàn cầu.
- Thương mại điện tử, phân phối và vận chuyển: đạt được tiêu chuẩn công nghiệp
hoá của thế giới.

Các mục tiêu phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo truyền thống chủ
chốt của Hàn Quốc
Ngành

Tỉ lệ đóng góp trên thị
trường thế giới

Mục tiêu năm 2012

2003


2012

Doanh nghiệp
cơ khí chế tạo
2,3%
đứng thứ
13
3,0%
đứng thứ 7
- Là một trong 3 nước đứng đầu thế
giới về cơ khí chế tạo.
- Đạt trình độ cao về công nghệ chế
tạo các chi tiết nhỏ.
- Hướng tới xuất khẩu sang Trung
Quốc
- Đứng thứ 7 trên thế giới về cơ khí
chế tạo.
7
Sản xuất ô tô 5,5%
đứng thứ 6
10%
đứng thứ 4
- Tạo ra giá trị gia tăng trong xuất khẩu
(tăng giá hàng xuất khẩu): từ 7.386
USD/xe (2000) lên 8.186 USD/xe
(2001) và 15.000 USD/xe (2012).
- Cạnh tranh trên thị trường Trung Quốc.
Tăng thị phần ở Trung Quốc từ 0,3%
(2001) lên 20% (2010).
Ngành công
nghiệp đóng tàu
33%
đứng đầu
40%
đứng đầu
- Chiếm 40% thị trường của ngành đóng
tàu tăng từ 15% (2003) lên 40% (2012).
- Dẫn đầu thế giới về công nghệ thép.
- Là nhà xuất khẩu lớn về các sản phẩm
thép và công nghệ thép.
- Tiếp tục tăng trưởng dựa trên nhu cầu
thị trường mới.
Hoá dầu 4,9%
đứng thứ 4
5,3%
đứng thứ 4
- Duy trì vị trí là nhà xuất khẩu chủ chốt.
- Đa dạng hoá các sản phẩm xuất khẩu.
- Tăng tỉ lệ các sản phẩm đặc biệt từ
12% (2003) lên 40% (2012).
Dệt may 4,5%
đứng thứ 5
6%
đứng thứ 3
- Tập trung xuất khẩu các sản phẩm có
giá trị gia tăng cao.
- Các sản phẩm sợi xuất khẩu: từ 16,3 tỉ
USD (2003) lên 30 tỉ USD (2012).
- Chiếm 50% thị trường sợi công nghiệp:
tăng từ 25% (2003) lên 50% (2012).
- Tập trung xuất khẩu quần áo thời trang.
- Hàng quần áo xuất khẩu tăng từ 7%
(2003) lên 30% (2012).

Các chiến lược phát triển:
- Thúc đẩy phát triển chu kỳ chế tạo và công nghiệp dịch vụ liên quan tới chế tạo.
- Thay đổi chiến lược dùng vốn và phát triển hướng ngoại sang chiến lược đổi
mới và phát triển chất lượng.
- Thực hiện các chiến lược phát triển khác nhau từ mỗi nhóm công nghiệp khác
nhau:
+ Các ngành công nghiệp cơ bản chủ chốt: hướng tới mục tiêu là một trong
những ngành đứng đầu thế giới.
8
+ Các dự án chiến lược tương lai: Thúc đẩy phát triển công nghệ nhanh hơn
các quốc gia công nghiệp hoá thông qua quá trình chọn lọc.
+ Ngành dịch vụ liên quan tới cơ khí chế tạo: tăng cường các thông tin về
chuyên môn hoá, thông tin tri thức.

1.3. Hỗ trợ của Chính phủ cho phát triển công nghệ
Chương trình R&D chỉ định đã hỗ trợ các hãng tư nhân tiến hành nghiên cứu trong
những dự án phát triển công nghệ chiến lược cốt lõi trong ngành công nghiệp chế tạo
được Bộ KH&CN Hàn Quốc phê chuẩn. Chương trình hỗ trợ tới 50% chi phí R&D
của các hãng lớn và 80% cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong khoảng thời gian từ
1982 đến 1993, Chương trình đã tài trợ cho 2.412 dự án, thu hút khoảng 25.000 nhà
nghiên cứu với tổng chi phí khoảng 2 tỷ USD, trong đó Chính phủ đóng góp tới 58%.
Chương trình đã tạo ra 1.384 đơn cấp patent, 675 sản phẩm thương mại và 33 triệu
USD từ việc xuất khẩu các bí quyết. Đóng góp gián tiếp lớn hơn nhiều dưới góc độ
đào tạo các nhà nghiên cứu và nâng cao năng lực nghiên cứu của doanh nghiệp công
nghiệp. Giá trị tài trợ của năm 1994 là 186 triệu USD.
Chương trình phát triển Công nghệ công nghiệp được bắt đầu từ năm 1987 nhằm
bao cấp tới 2/3 chi phí cho hoạt dộng R&D của các dự án chung vì lợi ích quốc gia
(các Dự án Quốc gia) giữa các hãng tư nhân và các viện nghiên cứu. Từ năm 1987 đến
1993, Chương trình này đã tài trợ cho 1.426 dự án với giá trị 1,1 tỷ USD, trong đó
phần bao cấp của Chính phủ là 41%.
Dự án HAN được khởi xướng năm 1992 để hỗ trợ cho 2 hoạt động: phát triển các
sản phẩm công nghệ cao mà Hàn Quốc có thể cạnh tranh với các quốc gia tiến tiến trên
thế giới trong vòng 1-2 thập kỷ tới và phát triển các công nghệ "lõi" được coi là thiết
yếu cho nền kinh tế mà Hàn Quốc mong muốn đạt mức độ tự chủ sáng tạo.
Cho vay, Chính phủ Hàn Quốc lập 3 quỹ để cung cấp các khoản vay, thường với lãi
suất bao cấp, để phát triển công nghệ. Thứ nhất là Quỹ Phát triển Công nghiệp, cung
cấp các khoản vay lãi suất thấp cho cải thiện năng suất dài hạn và nâng cấp công nghệ
trong các ngành công nghiệp công nghệ cao. Quỹ sử dụng một số ngân hàng làm kênh
chuyển tiền, lên tới 70% chi phí cho các dự án được duyệt của các công ty lớn và
100% cho các công ty vừa và nhỏ. Các khoảng vay trong thời gian 5 năm, với 2 năm
ân hạn và lãi suất 6,5%. Trong giai đoạn 1990-1995, Quỹ đã cho vay tổng cộng lên tới
618 triệu USD. Quỹ thứ hai, là Quỹ Thúc đẩy phát triển KH&CN, bắt đầu từ năm
1992 để cấp tài chính cho các hãng và viện nghiên cứu để tiến hành các hạng mục Dự
án HAN. Các khoản vay có thể lên tới 80% tổng giá trị dự án, tối đa là 1,3 triệu USD
cho mỗi dự án và 3,8 triệu USD cho mỗi hãng. Thời gian vay là 7 năm, với 3 năm ân
9
hạn và lãi suất 6%. Trong 2 năm hoạt động, Quỹ đã cho vay 255 triệu USD. Thứ ba, là
Quỹ hình thành Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) được thiết lập năm 1994 để hỗ
trợ phát triển công nghệ và đầu tư môi trường cho các hãng nhỏ. Quỹ có thế cấp tới
100% giá trị dự án được duyệt với lãi suất 10% trong thời gian 10 năm.
Cấp tài chính cho công nghệ của các cơ quan tài chính. Hàn Quốc có một nền
công nghiệp tài chính mạo hiểm lớn nhất và thành công nhất trong thế giới đang phát
triển. Bắt đầu từ Công ty Phát triển Công nghệ Hàn Quốc (KTDC), một nỗ lực chung
giữa Chính phủ và các Chaebol, trong những năm đầu thập kỷ 80, một số quỹ tài chính
mạo hiểm tư nhân được thành lập. Hiện Hàn Quốc có 58 công ty tài chính mạo hiểm,
cung cấp các khoản vay và đầu tư lên tới 3,5 tỷ USD trong giai đoạn 1990-1994 (85%
trong số đó là cho vay).
Một loạt ngân hàng cho các hãng hay các viện nghiên cứu vay tiền để phát triển
công nghệ mới hoặc cải tiến các công nghệ nhập khẩu. Quỹ Bảo lãnh tín dụng Công
nghệ cung cấp các Chương trình bảo lãnh cho các khoản vay để giúp các hãng phát
triển hay thương mại công nghệ mới, tập trung vào các DNVVN (dưới 1000 nhân
viên) trong các ngành công nghiệp công nghệ mới, cũng như các viện nghiên cứu cần
kinh phí để phát triển công nghệ.
Nhập khẩu công nghệ ở Hàn Quốc. Tình hình nhập công nghệ ở Hàn Quốc và
hoạt động chuyển giao công nghệ được tập trung chủ yếu vào các thập kỷ 70, 80 và
90. Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách nhập công nghệ qua các giai đoạn:
Giai đoạn 1 (1978-1984), giai đoạn 2 (1984-1994, giai đoạn được gọi là thông thoáng
nhất) và giai đoạn từ sau 1994, gọi là “Chiến lược Quốc tế hóa kinh tế mới” nhằm tự
do hóa mà thực chất là đơn giản hóa các thủ tục nhập công nghệ.
Kết quả thực tế nhập công nghệ: Nhập công nghệ ở Hàn Quốc gia tăng trung bình
15%/năm cho đến năm 1984, nhưng từ năm 1989 bắt đầu giảm cho đến năm 1992 và
sau năm 1993 mới khôi phục và tăng dần.

Số trường hợp nhập công nghệ qua các năm
Triệu USD
Năm

1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993
Tổng
1962-93
Số trường hợp nhập 637 751 763 738 582 533 707 8.766
% gia tăng (23,2) (17,9) (1,6) (-3,3) (-21,1) (-8,4) (32,7)
Kim ngạch 523,7 676,3 888,6 1087 1183,8 850,6 946,4 7906,3
% gia tăng (27,4) (29,1) (31,4) (22,3) (8,9) (-28,1) 11,2
10
Nguyên nhân giảm mức nhập công nghệ ở Hàn Quốc là do xu hướng cạnh tranh
công nghệ quốc tế và chủ nghĩa bảo hộ công nghệ được triển khai mạnh mẽ ở 3 khu
vực: Mỹ- Nhật Bản và Liên minh châu Âu (EU). Mặt khác, tại thời điểm trên là do nền
kinh tế Hàn Quốc đã phát triển chậm lại nên nhu cầu nhập công nghệ của các doanh
nghiệp cũng giảm.
Một kênh nhập công nghệ được coi là quan trọng ở Hàn Quốc là đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI):

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (số lượng trường hợp đầu tư)
Triệu USD)
Năm 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993
Tổng số
1962-1993
Số trường
hợp đầu tư
372 343 336 296 286 233 273 4213
Kim ngạch 1.063,3 1.283,8 1.090,3 802,6 1.396 894,5 1044,3 11.208,5

Theo số liệu trên, từ năm 1988 tình hình nhập công nghệ có xu hướng giảm và đến
năm 1993 do tình hình kinh tế đã khởi sắc nên lại bắt đầu tăng lên (từ 233 trường hợp
năm 1992, lên 273 trường hợp năm 1993). Nếu phân tích hiện trạng nhập công nghệ ở
Hàn Quốc (xem bảng dưới), có thể phân chia theo các ngành như sau: Từ 1987 đến
1993, có 4.711 trường hợp nhập công nghệ từ nước ngoài, tập trung vào các lĩnh vực
điện-điện tử chiếm 30,5% (1.436 trường hợp), thiết bị (bao gồm cả ngành đóng tàu)
chiếm 26,7% (1.258 trường hợp), hóa học chiếm 18,1% (853 trường hợp). Tổng cộng
ba lĩnh vực này đã chiếm tới 75,3% số trường hợp nhập công nghệ.

Tình hình các ngành nhập công nghệ
(Số trường hợp nhập, %)
Lĩnh vực

Năm
Tổng số
trường hợp
nhập
Các ngành
Hóa học
Điện-
điện tử
Máy móc,
thiết bị
Ngành
khác
1987 637
135
(21,2%)
164
(25,4%)
161
(25,3%)
177
(27,8%)
1988 751
161
(21,4)
212
(28,2)
195
(26)
183
(24,4)
1989 763
150
(19,7)
231
(30,3)
168
(22)
214
(28)
1990 738
138
(18,7)
219
(29,7)
188
(25,5)
193
(26,2)
1991 582
105
(18)
178
(30,6)
163
(28)
136
(23,4)
11
1992 533
73
(13,7)
194
(36,4)
177
(33,2)
89
(16,7)
1993 707
91
(12,9)
238
(33,7)
206
(29,1)
172
(24,3)
Tổng số 4711
853
(18,1)
1436
(30,5)
1258
(26,7)
1164
(24,7)

Theo kết quả điều tra năm 1991 của Ngân hàng Công nghiệp Hàn Quốc, các doanh
nghiệp của Hàn Quốc hiểu rằng tự mình phát triển công nghệ hơn là du nhập công
nghệ để học tập công nghệ mới liên quan đến sản xuất hoặc sản phẩm. Trường hợp
công nghiệp hóa và công nghiệp chế tạo, mức độ phụ thuộc vào du nhập công nghệ là
59% và 47%, vẫn còn cao. Mặt khác, nếu bằng con đường để học tập công nghệ nước
ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc thì chủ yếu du nhập công nghệ thông qua hợp
đồng chuyển nhượng licence, 34% thông qua nhập thiết bị và nguyên liệu, 18% qua
đầu tư hợp tác. Theo số liệu điều tra của Hiệp hội Phát triển Công nghệ Hàn Quốc,
trong hợp đồng chuyển nhuợng licence của các doanh nghiệp Hàn Quốc, 90,2% của
toàn bộ giao dịch là diễn ra giữa các doanh nghiệp độc lập không có sự quan hệ về vốn
giống như các công ty con hay là công ty hợp tác. Phần lớn hợp đồng du nhập công
nghệ của Hàn Quốc là có mối quan hệ giao dịch của người thứ ba trung gian giữa các
doanh nghiệp độc lập. Trường hợp đã có kinh nghiệm làm ăn với doanh nghiệp cung
cấp công nghệ trong quá khứ chiếm 42,8%, trường hợp chưa có kinh nghiệm là 57,2%.
Điều này có ý nghĩa là du nhập công nghệ từ các doanh nghiệp độc lập công nghệ
không có kinh nghiệm giao dịch là đa số.
Xu hướng mà các doanh nghiệp Hàn Quốc du nhập công nghệ từ các doanh nghiệp
độc lập của Nhật Bản và châu Âu là nhiều hơn so với Mỹ. Nếu so sánh việc nhập công
nghệ với DNVVN, thì các doanh nghiệp quy mô lớn có tính chủ động và tích cực hơn.
Như trên đã nêu, du nhập công nghệ của Hàn Quốc có xu hướng chính là du nhập
công nghệ thông qua hợp đồng chuyển nhượng licence từ công ty xuyên quốc gia nước
ngoài không có quan hệ làm ăn trước đây hoặc từ các doanh nghiệp chuyên ngành.
Nếu nhìn từ quan điểm mang tính dài hạn của mục đích chủ yếu du nhập công nghệ
của Hàn Quốc, thì việc du nhập công nghệ không phải là nâng cao cơ sở kỹ thuật mà là
đẩy mạnh hệ thống sản xuất, tăng sức cạnh tranh về giá cả, linh hoạt với những thay
đổi ngắn hạn của thị trường. Đặc trưng này thông qua sự ưu đãi đầu tư nước ngoài của
Hàn Quốc, đó chính là sự khác biệt so với các nước châu Á khác cũng đang du nhập
công nghệ nước ngoài. Đồng thời nó cũng rất giống với quá trình du nhập công nghệ
trước đây của Nhật Bản. Cùng với sự mạnh lên của Chủ nghĩa bảo hộ công nghệ mang
tính quốc tế, du nhập công nghệ bằng hợp đồng chuyển nhượng licence đã khó khăn,
12
đặc biệt trong trường hợp chuyển giao công nghệ mũi nhọn lại càng khó khăn hơn.
Đứng trước tình trạng khó khăn này, bên cạnh đó cơ sở công nghệ, năng lực tiếp thu
và làm chủ công nghệ nhập còn yếu, buộc Hàn Quốc phải tìm ra một chiến lược mới,
đó là việc nhập công nghệ thông qua tiếp nhận vốn nước ngoài (vốn không hoàn lại,
vốn vay ưu đãi hoặc vốn đầu tư liên doanh với nước ngoài).

1.4. Nhật Bản - nguồn cung công nghệ quan trọng của Hàn Quốc
Từ giữa thập kỷ 80, phân bố về mặt địa lý của FDI Nhật Bản tới châu Á đã thay đổi
lớn, chuyển từ các nền kinh tế mới công nghiệp hóa châu Á (NICs) sang Hiệp hội các
nước Đông Nam Á (ASEAN) sau đó sang Trung Quốc và các nước châu Á khác. Các
NICs thu hút mạnh FDI của Nhật Bản cho tới cuối những năm 80 thông qua các chính
sách thúc đẩy FDI. Các nhà hoạch định chính sách của NICs, đặc biệt là Hàn Quốc,
Đài Loan và Singapo, đã triển khai sử dụng FDI trong quá trình công nghiệp hóa công
nghệ cao của họ. NICs đã có được mức tăng trưởng tích cực do sự phát triển đồng thời
của thương mại và FDI. Tuy nhiên, FDI của Nhật Bản ở các NICs đạt đỉnh cao vào
cuối những năm 80 và sau đó NICs lại đánh mất nhiều lợi thế do chi phí tăng lương
nhanh và tiền tệ tăng giá. Vì thế, các doanh nghiệp Nhật Bản và các nền kinh tế tiên
tiến khác bắt đầu coi các nước châu Á khác ví dụ như các nước thành viên trong
ASEAN là ứng cử viên cho việc đầu tư. Một nhân tố quan trọng để thu hút FDI vào
ASEAN là tự nghiên cứu kinh nghiệm của NICs trước đó và đã đưa ra các chiến lược
tự do hóa các luồng thương mại và FDI của các nước này hợp lý.
Để đánh giá việc du nhập công nghệ của các doanh nghiệp Nhật Bản sang một số
nước châu Á, Viện Nghiên cứu Công nghiệp và Thị trường Nikkei (Nhật Bản) đã tiến
hành một điều tra có quy mô lớn vào tháng 10/1991. Theo nghiên cứu này, các công
nghệ được chia thành các loại khác nhau: hơn 70% các chi nhánh châu Á của các
doanh nghiệp Nhật Bản chuyển giao các nhóm công nghệ như chế tạo, lắp ráp, nhóm
công nghệ bảo dưỡng và vận hành, công nghệ kiểm soát quy trình sản xuất, công nghệ
kiểm định chất lượng. Kết quả điều tra cũng khẳng định rằng các doanh nghiệp Nhật
Bản đã chuyển giao các loại công nghệ được lựa chọn chuyển giao cho các nước ở
châu Á một cách nghiêm ngặt. Đồng thời kết quả điều tra cũng nhận định rằng các
doanh nghiệp Nhật Bản chưa thực sự chuyển giao các loại công nghệ tiên tiến, ví dụ
như những công nghệ đòi hỏi phát triển những sản phẩm mới hoặc những công nghệ
hiện đại hơn có khả năng làm biến đổi mạnh mẽ một lĩnh vực nào đó cho các nước
châu Á. Sự khác biệt đáng quan tâm nữa là về mức độ chuyển giao công nghệ được
tiến hành giữa các công ty con của các doanh nghiệp Nhật Bản ở các nền kinh tế có
trình độ phát triển khác nhau thì trình độ công nghệ được chuyển giao cũng khác nhau.
13
Đối với hầu hết các công nghệ của các doanh nghiệp Nhật Bản được chuyển giao sang
châu Á, trước hết được ưu tiên đối với các công ty con ở các NICs hơn là những công
ty con ở các nước ASEAN. Sự khác biệt này đặc biệt đáng chú ý đối với các công
nghệ tương đối phức tạp hơn ví dụ như việc du nhập và phát triển các công nghệ mới.
Do sự phân biệt trong quan điểm chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp Nhật
Bản nên trình độ, năng lực công nghệ ở những nước tiếp nhận công nghệ hoàn toàn
khác nhau. Vì vậy, chuyển giao công nghệ được thực hiện tương đối thuận lợi ở các
NICs vì năng lực công nghệ của họ cao hơn các nước ASEAN.
Sự phát triển kinh tế Hàn Quốc từ những năm 60 của thế kỷ trước chủ yếu dựa vào
thương mại với Nhật Bản, viện trợ từ Nhật Bản, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và
công nghệ. Mặc dù ngày nay kinh tế Hàn Quốc đã phát triển nhiều hơn, nhưng sự ảnh
hưởng của Nhật Bản vẫn còn. Khi Hàn Quốc ngày càng mở rộng năng lực sản xuất
công nghiệp thì nước này càng phải nhập khẩu hàng hoá, thiết bị và đặc biệt là công
nghệ từ Nhật Bản. Sự phụ thuộc của Hàn Quốc vào vốn, sản phẩm tinh xảo, công nghệ
của Nhật Bản, chủ yếu do sự yếu kém của các DNVVN và R&D của Hàn Quốc.
Công nghệ có thể được du nhập vào Hàn Quốc theo nhiều cách trực tiếp hoặc gián
tiếp, gồm đầu tư 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp tác công nghệ, mua toàn bộ
trang thiết bị sản xuất, cam kết licence, chuyển giao kỹ năng, tài trợ kỹ thuật, mua máy
móc thiết bị… Đối với Hàn Quốc, thời kỳ đầu chủ yếu chuyển giao công nghệ từ Nhật
Bản vào Hàn Quốc là đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhật Bản là đối tác quan trọng nhất
của Hàn Quốc về nhập khẩu công nghệ theo licence và FDI. Trong giai đoạn 1962-
1996, có khoảng 2.647 dự án liên quan đến đầu tư của Nhật Bản vào Hàn Quốc với số
vốn tổng cộng 5,3 tỷ USD, so với 1.316 dự án của Mỹ với tổng số vốn 4,2 tỷ USD.
Trong số 2.647 dự án trên của Nhật Bản, có 2.025 dự án trong lĩnh vực công nghiệp
chế tạo, mà chủ yếu là cơ - điện - điện tử. Về giá trị của dự án, lĩnh vực điện - điện tử
là lớn nhất, sau đó đến cơ khí và vận tải.
Tại Hàn Quốc trong giai đoạn 1962-1994, có 4.502 licence (48,5% tổng số licence)
là từ Nhật Bản, kế tiếp là 2.584 licence từ Mỹ, 522 licence từ Đức. Riêng năm tài khoá
1993, Hàn Quốc trở thành nước nhập khẩu công nghệ hàng đầu của Nhật Bản với 104
licence, so với 100 licence từ Mỹ và 80 licence từ Trung Quốc.
Tuy nhiên, chuyển giao công nghệ vào Hàn Quốc, nhất là từ Nhật Bản cũng gặp
những trở ngại do chính sách cấm xuất khẩu công nghệ liên quan tới chiến tranh,
những công nghệ quân sự hoặc có thể sử dụng đồng thời trong cả dân sự và quân sự.
Đặc trưng công nghệ được du nhập vào Hàn Quốc: Phần lớn công nghệ hướng về
thị trường chủ đạo là sản phẩm hoàn chỉnh. Theo số liệu điều tra 327 hợp đồng nhập
công nghệ trong giai đoạn 1988-1990 do Hiệp hội Phát triển Công nghệ Hàn Quốc tiến
14
hành (1992) thì khoảng 90% toàn bộ công nghệ được nhập, trong đó 45,2% trường
hợp chỉ nhập công nghệ liên quan đến sản phẩm và quy trình sản xuất, 44,6% trường
hợp nhập công nghệ liên quan đến quá trình sản xuất. Xu hướng nhập công nghệ liên
quan đến sản phẩm như thế cho thấy rõ trường hợp các DNVVN nhiều hơn các doanh
nghiệp quy mô lớn và việc nhập công nghệ từ Mỹ rõ hơn từ Nhật Bản và các nước
châu Âu. Điều đó có nghĩa là du nhập công nghệ từ Mỹ có trọng tâm là sản phẩm và
nếu so sánh du nhập công nghệ từ Nhật Bản với du nhập công nghệ từ Mỹ thì tỷ lệ
công nghệ liên quan đến quá trình sản xuất của Nhật Bản tương đối cao. Ngoài ra, nếu
căn cứ theo kết quả điều tra này, tỷ lệ công nghệ phát triển sản phẩm mới trong công
nghệ liên quan đến sản phẩm, tỷ lệ công nghệ nâng cao năng lực thiết kế và mẫu mã
trong công nghệ liên quan đến quá trình sản xuất là cao nhất.

Loại hình công nghệ tiếp nhận
(Đơn vị: %)
Phân chia
Công nghệ
liên quan đến
sản phẩm
Công nghệ
quy trình
sản xuất
Công nghệ sản
phẩm và quy
trình sản xuất
Các quy mô
doanh nghiệp
Doanh nghiệp lớn 44,0 11,1 44,8
DNVVN 47,6 7,9 44,4
Công nghệ đến
từ các nước
Mỹ 62,2 6,1 31,6
Nhật 38,5 10,5 51,0
EU 40,4 12,8 46,8

Tích luỹ công nghệ trong ngành bán dẫn, điện - điện tử:
Khi nói đến du nhập công nghệ vào Hàn Quốc và sự thành công của các doanh
nghiệp trong những thập kỷ gần đây lại không thể không đề cập đến sự phát triển
mạnh mẽ của các ngành bán dẫn ở nước này.
Chỉ trong một thời gian ngắn, từ giữa những năm 80 đến nay, ngành công nghiệp
bán dẫn của Hàn Quốc đã có những bước phát triển nhảy vọt, chủ yếu là việc sản xuất,
xuất khẩu một số lượng lớn bộ nhớ truy bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên (DRAM). Việc
sản xuất và kinh doanh DRAM được khởi đầu với hình thức dựa hoàn toàn vào việc
nhập công nghệ của nước ngoài và sau đó các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc như
SAMSUNG, GOLDSTAR đã thành công trong việc làm chủ và tạo ra công nghệ cho
riêng mình. Từ giữa thập kỷ 90 đến nay, công nghệ sản xuất DRAM của Hàn Quốc đã
được công nhận là ngang bằng với trình độ các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản. Có
thể nêu 5 đặc trưng về sản xuất và công nghệ của ngành bán dẫn mà trọng tâm là sản
xuất DRAM: Thứ nhất, về mặt công nghệ cũng như với tư cách là loại hàng hoá, sự

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét