5
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ cơ sở dịch vụ, trang trại và bất
động sản ở nước ngoài.
+ Tín dụng công và thương nghiệp: đây là các khoản tín dụng cấp cho các
doanh nghiệp để trang trải chi phí thu mua nguyên vật liệu, trả thuế và chi trả
lương.
+Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động
nông nghiệp, nhằm trợ cấp cho các hoạt động nông nghiệp, trợ giúp các hoạt
động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và chăn nuôi gia súc.
+Tín dụng cá nhân: Đây là các khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua sắm
hàng hóa tiêu dung đắt tiền như xe hơi, nhà cửa, trang thiết bị trong nhà…
+ Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
+ Cho thuê tài chính: là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc và
cho thuê lại chúng.
+ Tín dụng khác: bao gồm các khoản tín dụng chưa được phân loại ở trên( ví
dụ như tín dụng kinh doanh chứng khoán)
1.1.3.Các nghiệp vụ tín dụng
1.1.3.1.Chiết khấu thương phiếu:
(1) Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hóa và dịch
vụ giữa khách hàng với nhau.Người bán(hoặc người thụ hưởng) có thể giữ thương
phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc người phải trả) hoặc mang đến ngân hàng
để xin chiết khấu trước hạn. Sau đây là sơ đồ luân chuyển thương phiếu: Người bán
chuyển hàng hóa hoặc dịch vụ cho người mua
(2) Thương phiếu được lập, người mua kí, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng khi
thương phiếu đến hạn và giao thương phiếu cho người bán đồng thời là người thụ
hưởng.
(3) Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang thương phiếu
đến ngân hàng để xin chiết khấu.
5
Chuyên đề thực tập Năm 2008
5
6
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
(4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, ngân hàng có thể phát tiền cho người
bán và nắm giữ thương phiếu( ngân hàng có thể yêu cầu người bán kí hậu thương
phiếu, cam kết trả tiền cho ngân hàng nếu người mua không trả, quyền truy đòi đối
với thương phiếu).
(5) Đến hạn ngân hàng chuyển thương phiếu đến người mua đòi tiền( nếu người mua
không trả, ngân hàng có quyền đòi tiền của các bên kí tên trên thương phiếu).
Số tiền ngân hàng ứng trước phụ thuộc vaò lãi suất chiêt khâú, thời hạn chiết
khấu và lệ phí chiết khấu. Ví dụ, nếu lãi suất chiết khấu là 6%, giá trị của thương
phiếu là 1 triệu đồng, thời hạn còn lại của thương phiếu 6 tháng thì số tiền ngân hàng
phát ra là: 1 triệu*(1-0,06/2)=0,97 triệu
Nếu sau 6 tháng ngân hàng đòi được1triệu thì số lãi mà ngân hàng thu được trong
6 tháng là: 1-0,97= 0,03 triệu.
Vậy lã suất thực là: 0,03*2/0,97=6,185%/năm
Bên cạnh áp dụng lãi suất chiết khấu( thường chung cho các thương phiếu)
ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng trả thêm lệ phí chiết khấu đối với những trường
hợp cụ thể có liên quan đến rủi ro và chi phí đòi tiền.
Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa ngân
hàng và những người kí tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách, ngân hàng
thường kí với khách hợp đồng chiết khấu( cấp cho khách hàng hạn mức chiết khấu
trong kì). Khi cần chiết khấu khách hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên ngân hàng xin
chiết khấu. Ngân hàng sẽ kiểm tra chất lượng của thương phiếu và thực hiện chiết
khấu. Do tối thiểu có 2 người cam kết trả tiền cho ngân hàng nên độ an toàn của
thương phiếu tương đối cao( trừ trường hợp ngân hàng kí miễn truy đòi đối với
khách hàng). Hơn nữa, ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu thương phiếu tại
ngân hàng Nhà nước để đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp( vì vậy thương
phiếu còn được coi là loại tài sản có khả năng chuyển nhượng- có tính thanh khoản
cao).
6
Chuyên đề thực tập Năm 2008
6
7
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
1.1.3.2. Cho vay
+ Thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi
trội (vượt) trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến 1 giới hạn nhất định và trong
khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Để được thấu
chi khách hàng phải làm đơn xin ngân hàng han mức thấu chi và thời gian thấu chi
(có thể phải trả phí cam kết thấu chi cho ngân hàng).
Trong quá trình hoạt động, khách hàng có thể kí séc, lập ủy nhiệm chi…vượt quá
số dư tiền gửi để chi trả (song trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập
về tài khoản tiền gửi ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi. Số lãi mà ngân hàng phải trả là:
lãi suất thấu chi * thời gian thấu chi * số tiền thấu chi
Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng
hình thức này.
Thấu chi dựa trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian
và qui mô. Thời gian và số lượng thiếu có thể dự đoán dựa vào dự đoán ngân quỹ
song không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng trong quá trình thanh toán: chủ động, nhanh, kịp thời.
Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn
là không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong
tháng, vài tháng trong năm dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng…
Hình thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu
nhập đều đặn và kì thu nhập ngắn.
+ Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay tương đối phổ biến của ngân
hàng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để
được cấp hạn mức thấu chi. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu là chủ yếu,
chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng, tức là
vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào 1 số giai đoạn nhất định của chi kì sản xuất kinh
doanh.
Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng
vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và kí hợp đồng cho vay, xác định quy
7
Chuyên đề thực tập Năm 2008
7
8
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần.
Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau.
Theo từng kì hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá
trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả.
Nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển
nợ quá hạn. lãi suất có thể cố định hoặc thả nổi theo thời điểm tính lãi.
Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản.Ngân hàng có thể kiểm soát
từng món vay tách biệt.
+ Cho vay theo hạn mức:
Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng
hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kì hoặc cuối kì. Đó là số dư
tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu
vay vốn của khách hàng.
Trong kì khách hàng có thể thực hiện vay-trả nhiều lần, song dư nợ không được
vượt quá hạn mức tín dụng. Một số trường hợp ngân hàng qui định hạn mức cuối kì.
Dư nợ trong kì có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên, đến cuối kì, khách hàng phải trả
nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kì không được vượt quá hạn mức.
Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các
chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ và nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra
tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong
nghiệp vụ này ngân hàng không xác định trước kì hạn nợ và thời hạn tín dụng. Khi
khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lí ngân quỹ
cho khách hàng. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kì hạn nợ cụ thể
nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. Ngân hàng chỉ có thể
phát hiện vấn đề khi khách hàng nộp báo cáo tài chính hoặc dư nợ lâu không giảm
sút.
8
Chuyên đề thực tập Năm 2008
8
9
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng
hóa. Doanh nghiệp khi mua hàng có thể thiếu vốn. Ngân hàng có thể cho vay để mua
hàng và sẽ thu nợ khi doanh nghiệp bán hàng. Đầu năm hoặc quí, người vay phải làm
đơn xin vay luân chuyển. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận với nhau về phương
thức vay, hạn mức tín dụng, các nguồn cung cấp hàng hóa và khả năng tiêu thụ. Hạn
mức tín dụng có thể được thỏa thuận trong 1 năm hoặc vài năm. Đây không phải là
thời gian hoàn trả mà là thời hạn để ngân hàng xem xét lại mối quan hệ với khách
hàng và quyết định có cho vay nữa hay không tùy mối quan hệ giữa ngân hàng với
khách hàng còng như tình hình tài chính của khách hàng.
Việc cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa nên cả ngân hàng lẫn doanh
nghiệp đều phải nghiên cứu kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân
quỹ trong thời gian tới. Người vay cam kết các khoản vay sẽ được trả cho người bán
và mọi khoản thu bán hàng đều dùng để trả vào tài khoản tiền vay trước khi được
trích trả lại tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Khi vay, khách hàng chỉ cần gửi đến ngân hàng các chứng từ hóa đơn nhập
hàng và số tiền cần vay. Ngân hàng cho vay và trả tiền cho người bán. Theo hình thức
này, giá trị hàng hóa mua vào (có hóa đơn, hợp pháp, hợp lệ đúng đối tượng) đều là
đối tượng được ngân hàng cho vay, thu nhập bán hàng đều là nguồn để chi trả cho
ngân hàng.Ngân hàng sẽ cho vay theo tỷ lệ nhất định tùy theo khối lượng và chất
lượng quan hệ nợ nần của người vay. Các khoản phải thu và cả hàng hóa trong kho
trở thành vật đảm bảo cho khoản cho vay.
Cho vay luân chuyển thường áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệp
hoặc doanh nghiệp sản xuất có chu kì tiêu thụ ngắn ngày, có quan hệ vay-trả thường
xuyên với ngân hàng. Cho vay luân chuyển rất thuận tiện cho các khách hàng. Thủ
tục vay chỉ cần thực hiện 1 lần cho nhiều lần vay. Khách hàng được đáp ứng nhu cầu
vốn kịp thời, vì vậy, việc thanh toán cho người cung cấp sẽ nhanh gọn.Nếu doanh
nghiệp gặp khó khăn trong tiêu thụ (hàng hóa tồn đọng )thì ngân hàng sẽ gặp khó
khăn trong việc thu hồi vốn do thời hạn của khoản vay không được qui định rõ ràng.
9
Chuyên đề thực tập Năm 2008
9
10
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách
hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận. Cho vay trả góp
thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố
định hoặc hàng lâu bền. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả
năng trả nợ (thường là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc từ thu nhập
hàng kì của người tiêu dùng).
Ngân hàng thường cho vay trả góp đối với người tiêu dùng thông qua hạn mức
nhất định. Ngân hàng sẽ thanh toán cho người bán lẻ về số hàng hóa mà khách hàng
đã mua trả góp. Các cửa hàng bán lẻ nhận ngay tiền sau khi bán hàng từ phía ngân
hàng và làm đại lí thu tiền cho ngân hàng, hoặc khách hàng trả trực tiếp cho ngân
hàng. Đây là hình thức tín dụng tài trợ cho người mua (qua đó đến người bán) nhằm
khuyến khích tiêu thụ hàng hóa.Cho vay trả góp rủi ro cao do khách hàng thường thế
chấp bằng hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập đều đặn
của người vay. Nếu người vay mất việc, ốm đau, thu nhập giảm sút thì khả năng thu
nợ của ngân hàng còng bị ảnh hưởng.Chính vì rủi ro cao nên lãi suất cho vay trả góp
thường là cao nhất trong khung lãi suất cho vay của ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp:
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp.Bên cạnh đó ngân hàng
còng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp.Đây là hình thức cho vay thông qua
các hình thức trung gian.
Ngân hàng
Trung gian: tổ, đội, hội, nhóm
Khách hàng (thường là nông dân, người buôn bán nhỏ…)
(1)
(2)
(3)
(3)
10
Chuyên đề thực tập Năm 2008
10
11
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
(1) Phân tích tín dụng trước khi cho vay
(2) Ngân hàng phát tiền vay trực tiếp cho khách hàng
(3) Các tổ chức trung gian thu nợ hộ cho ngân hàng
Ngân hàng cho vay qua các tổ, hội, đội nhóm như nhóm sản xuất,Hội nông
dân, Hội cựu chiến binh,Hội phụ nữ Các tổ chức này thường liên kết các thành viên
theo các mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗi
thành viên. Vì vậy, việc phát triển kinh tế, làm giàu, xóa đói giảm nghèo luôn được
các trung gian quan tâm.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các hoạt
động trung gian, như thu nợ, phát tiền vay…Tổ chức trung gian còng có thể đứng ra
tín chấp cho các thành viên vay, hoặc các thành viên đưa ra bảo lãnh cho một thành
viên vay. Điều này rất thuận tiện cho người vay không có hoặc không đủ thời gian thế
chấp.Để bù đắp một phần chi phí của trung gian, ngân hàng trích một phần thu nhập
để lại cho trung gian.
Ngân hàng còng có thể cho vay thông qua các sản phẩm bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế người vay sử
dụng tiền sai mục đích.
Cho vay gián tiếp thường được dụng đối với thị trường có nhiều món vay
nhỏ, người vay phân tán cách xa ngân hàng. Trong trường hợp như vậy, cho vay qua
trung gian tiết kiệm chi phí cho vay (phân tích,giám sát, thu nợ )
Cho vay qua trung gian đều nhằm giảm bớt rủi ro, chi phí của ngân hàng. Tuy
nhiên, nó còng bộc lộ các khiếm khuyết. Nhiều trung gian đã lợi dụng các vị thế của
mình và nếu ngân hàng không kiểm soát tốt sẽ tăng lãi suất để cho vay lại, hoặc giữ
lấy số tiền của các thành viên khác cho mình. Các nhà bán lẻ có thể lợi dụng để bán
hàng kém chất lượng hoặc với giá đắt cho người vay vốn.
11
Chuyên đề thực tập Năm 2008
11
12
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
1.1.3.3.Cho thuê tài sản (thuê- mua)
Cho thuê của ngân hàng thường là hình thức tín dụng chung và dài hạn.
Ngân hàng mua tài sản cho khách hàng thuê với thời hạn sao cho ngân hàng phải thu
gần đủ ( hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê cộng lãi ( thời hạn khoảng 80-90%
đời sống kinh tế của tài sản). Hết hạn thuê khách hàng có thể mua lại tài sản đó.
Ngân hàng (người cho thuê)
Nhà cung cấp trang thiết bị
Khách hàng (người thuê)
(3)
(2)
(1)
(5)
(4)
(1) Khách hàng làm đơn gưởi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê.Sau khi phân
tích dự án và tình hình tài chính của khách hàng, ngân hàng kí hợp đồng mua với
khách hàng.
(2) Khách hàng gặp người sản xuất để nêu yêu cầu về qui cách, chất lượng tài sản thuê,
người sản xuất có thể phải cam kết bảo hành cho người thuê.
(3) Ngân hàng kí hợp đồng mua tài sản với người sản xuất.
(4) Người bán giao tài sản cho người thuê.
(5) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê, hoặc thu hồi tài
sản nếu thấy người thuê vi phạm.
Cho thuê (thuê – mua )giống một khoản cho vay thông thường ở chỗ ngân
hàng phải xuất tiền thu về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định; khách hàng phải trả
gốc và lãi dưới hình thức thuê hàng kỳ. Ngân hàng còng phải đối đầu với rủi ro khi
12
Chuyên đề thực tập Năm 2008
12
13
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
khách hàng kinh doanh không có hiệu quả không trả được tiền thuê đầy đủ và đúng
hạn. Tuy nhiên, cho thuê có nhiều điểm khác biệt so với cho vay như tài sản cho thuê
vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng( vì vậy không ghi vào bản cân đối tái sản của người
vay, không làm tăng cơ cấu nợ của người vay), ngân hàng có quyền thu hồi nếu thấy
người thuê không thực hiện đúng hợp đồng, đồng thời ngân hàng còng phải có trách
nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần cho khách hàng và phải đảm bảo chất lượng về
tài sản đó. Cho thuê không có tài sản đảm bảo, nhiều tài sản thuê mang tính đặc
chủng, khó bán, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao…nên cho thuê rủi ro rất cao đối với
ngân hàng.
Ngân hàng có thể lập phòng cho thuê hoặc công ty cho thuê để thực hiện và
quản lí hoạt động cho thuê.
1.1.3.4.Bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh
Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo
lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi
khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết.
Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh, và bên
bảo lãnh. Bảo lãnh ngân hàng có nghĩa ngân hàng là bên bảo lãnh; khách hàng của
ngân hàng là bên được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
• Các loại bảo lãnh phân theo mục tiêu:
- Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư
(hay chủ thầu) về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các
qui định trong hợp đồng dự thầu.
Trong hoạt động kinh tế, rất nhiều hoạt động được thực hiện thông qua đấu thầu
như đấu thầu cung cấp thiết bị, xây dựng. Để tìm kiếm được các nhà thầu có đủ năng
lực và hạn chế những rủi ro khi nhà thầu vi phạm các điều khoản tham gia dự thầu
như trúng thầu song không thực hiện hợp đồng, không kê khai đúng các yêu cầu của
chủ đầu tư… chủ đầu tư thường yêu cầu bên dự thầu phải kí quỹ (đặt cọc) dự thầu.
Nếu vi phạm, bên dự thầu sẽ bị mất tiền kí quỹ. Do kí quỹ gây ra nhiều thủ tục phiền
13
Chuyên đề thực tập Năm 2008
13
14
Trần Thị Thanh Nga Lớp TC 46Q
phức cho cả hai bên, đặc biệt làm đọng vốn của bên tham gia dự thầu, nhiều chủ thầu
yêu cầu thay thế tiền kí quỹ bằng bảo lãnh của ngân hàng.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất hộ
khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết, gây tổn
thất cho bên thứ ba.
Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp đồng cung cấp hàng hóa, xây dựng, vật liệu
thiết kế… Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn, không
đúng chất lượng cam kết…đều có thể gây tổn thất lớn cho bên thứ ba. Bảo lãnh của
ngân hàng một mặt bù đắp tổn thất cho bên thứ ba, mặt khác thúc khách hàng nghiêm
chỉnh thực hiện hợp đồng.
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước:
Nhiều người cung cấp yêu cầu khách hàng (người mua hàng hóa dịch vụ) phải
đặt trước một phần tiền trong giá trị cung cấp. Tiền đặt cọc vừa giúp bên cung cấp có
một phần vốn để sản xuất kinh doanh, vừa có tác dụng ràng buộc người mua phải
mua hàng đã đặt. Tuy nhiên, đề phòng người cung cấp không cung cấp hàng đồng
thời không trả tiền đặt cọc, bên mua yêu cầu bên cung cấp phải có bảo lãnh của ngân
hàng về việc phải trả tiền ứng trước. Vậy bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước là
cam kết của ngân hàng về việc hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua ( người hưởng
bảo lãnh) nếu bên cung cấp( người được bảo lãnh) không trả.
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vay vốn (bảo lãnh vay vốn).
Nhiều tổ chức tín dụng khi cho vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo hoặc bằng hàng
hóa, chứng khoán, bất động sản, hoặc bảo lãnh của người thứ ba (tín chấp)… Nhà
nước,doanh nghiệp tổ chức tín dụng có nhu cầu vay vốn bằng cách phát hành trái
phiếu. Tuy nhiên, nếu uy tín của người vay trên thị trường đó chưa cao, việc phát
hành sẽ rất khó khăn. Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay là cam kết của ngân hàng
đối với người cho vay (tổ chức tín dụng, các cá nhân…) về việc sẽ trả gốc và lãi đúng
thời hạn (người đi vay) không trả được.
- Bảo lãnh đảm bảo thanh toán.
14
Chuyên đề thực tập Năm 2008
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét