5
không tránh né vấn đề quyền con người mà sẽ giúp nâng cao trách nhiệm của
mỗi cá nhân,
mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong việc hợp sức xây dựng những điều kiện bảo
đảm thực hiện có.
Hiệu quả các quyền này trong phạm vi quốc gia và góp phần vào
cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, hợp tác và ổn định, “ cho con
người và vì con người”. Nhất là trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ
thống pháp luật hiện nay ở nước ta, quan niệm đúng đắn về quyền con người
là một bước quan trọng để đi tới mục tiêu vĩ đại đó - mục tiêu phát triển và
hoàn thiện con người.
Trong lịch sử nhân loại, quyền con người thoạt tiên được coi là
những quyền thiêng liêng và không thể tách rời của con người do trường phái
luật tự nhiên đề xướng. Sau đó, quyền con người ngày càng được xã hội hóa,
được các quốc gia và các cộng đồng quốc tế ghi nhận và bảo vệ bằng các quy
phạm pháp luật - đặc biệt là bằng các quy phạm của luật hiến pháp và các quy
phạm của điều ước quốc tế. Thí dụ, trong hàng loạt các Hiến pháp từ xa xưa
đã từng bước ghi nhận quyền con người, cần phải biết đến Hiến chương vĩ
đại của tự do của nước Anh được ban hành vào ngày 13\6\1215, Luật bảo vệ
thi thể con người được nghị Viện Anh thông qua năm 1689. Tuyên ngôn độc
lập năm 1776 của nước Mỹ; Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789
của nước Pháp.v.v. Cho đến tuyên ngôn độc lập do chủ tịch Hồ Chí Minh đọc
ngày 2-9-1945 khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Từ đó đến nay,
toàn bộ các bản Hiến pháp và toàn bộ hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng
phát triển và hoàn thiện ghi nhận các quyền con người, Điều 50, Hiến pháp
nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận:” Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện các quyền ở các quyền
công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”. Cùng với các quy phạm
pháp luật trong nước, các quy phạm pháp luật quốc tế ngày càng tham gia một
6
cách tích cực và hữu hiệu vào việc bảo vệ và phát triển quyền con người. Thí
dụ, Hiến chương Liên hợp quốc ngày 26/6/1945, Tuyên ngôn về quyền con
người ngày 10/12/1948, các công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và
văn hóa về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966, v.v… Chỉ tính
riêng từ năm 1949 đến nay, Liên hợp quốc đã lần lượt ban hành các điều ước
quốc tế về quyền con người ( trên 50 bản). Quyền con người là một phạm trù
phức tạp, đa dạng biểu hiện các đặc điểm và thuộc tính quan trọng của nhân
cách. Vì vậy đưa ra một định nghĩa về quyền con người dưới hình thức cô
đọng mà nêu bật được thuộc tính và đặc điểm cơ bản, quan trọng nhất của con
người là một điều khó. Khoa học luật quốc tế nói chung và khoa học luật quốc
tế từ trước đến nay cũng chưa đưa ra một định nghĩa đầy đủ về quyền con
người Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy LHQ về Quyền con người thì:
"Quyền con người là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các
cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn
hại đến nhân phẩm, những sự cho phép và tự do cơ bản của con người".
Cho nên có thể định nghĩa về quyền con người như sau: Quyền
con người là khả năng của con người được bảo đảm bằng pháp luật ( luật
quốc tế và luật quốc gia) về sử dụng và chi phối các phúc lợi xã hội, các giá trị
vật chất, văn hóa và tinh thần, sử dụng quyền tự do trong xã hội trong phạm vi
luật định về các quyền quyết định các hoạt động của mình và của người khác
dựa trên cở sở pháp luật. Trong đó, bao gồm các quyền sống, quyền tự do và
mưu cầu hạnh phúc. Quyền sống nghĩa là cá nhân có quyền nuôi sống mình
bằng công việc của chính mình (ở bất cứ trình độ kinh tế nào, ở mức khả năng
cá nhân cho phép); chứ không có nghĩa là những người khác phải cung cấp
cho cá nhân đó các thứ cần để sống. Khi người ta đấu tranh vì quyền con
người cũng tức là đấu tranh cho tự do của con người. Và ngược lại khi đấu
tranh cho tự do cũng chính là đấu tranh cho quyền con người. Tất nhiên, cần
phải hiểu tự do ở đây là tự do chân chính. Song, thế nào là tự do chân chính?
Để trả lời câu hỏi đó phải xem xét vấn đề một cách cụ thể, trong hoàn cảnh cụ
7
thể. Trước hết, đó là sự tự do trong xã hội, gắn với một xã hội cụ thể mà
người ta đang sống. Do đó, những hành vi chạy theo dục vọng và nhu cầu bản
năng, động vật, bất chấp nội quy tắc xã hội, không thể là tự do chân chính.
Sau nữa, chỉ là tự do khi tự do của người này không xâm phạm đến tự do của
người khác. Điều 4 trong Hiến pháp 1791 của Cộng hoà Pháp có ghi : "Tự do
là có thể làm mọi cái không hại cho người khác. Cho nên, việc thực hiện các
quyền tự nhiên của mỗi người chỉ có giới hạn là việc bảo đảm cho những
thành viên khác của xã hội cũng được hưởng chính những quyền ấy". Trong
bất kỳ xã hội nào cũng vậy, muốn có tự do chân chính cho mỗi cá nhân, nghĩa
là bảo đảm quyền con người cho mỗi con người, cần phải có hai tiền đề. Thứ
nhất, pháp luật, các quy tắc chung của xã hội phải là sản phẩm, là sự thể hiện
ý chí chung của xã hội. Chỉ có như thế nó mới xứng đáng là "Kinh thánh của
tự do của nhân dân"
(
1). Thứ hai, mỗi cá nhân phải nhận thức được pháp luật
hay nói cách khác là nhận thức được những "tất yếu xã hội" quy định trong
luật pháp, và điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những quy định đó.
Con người có quyền mưu cầu hạnh phúc, nghĩa là con người có
quyền tìm kiếm hạnh phúc cho mình. Đúng vậy, thực tế cho thấy hạnh phúc
không tự dưng đến với ta mà ta chẳng có chút công sức gì. Lắm lúc người ta
bỏ ra rất nhiều công sức để tìm kiếm hạnh phúc. Ai cũng vậy nếu chúng ta
khôn khéo thì việc tìm kiếm hạnh phúc sẽ trở nên dễ dàng hơn và ngược lại.
Một điều chắc chắn nữa là nếu ta không có sự chủ động tìm kiếm hạnh phúc
thì sẽ chẳng bao giờ có hạnh phúc hay ta chẳng thể nào cảm nhận được hạnh
phúc. Tuy nhiên, việc tìm kiếm hạnh phúc như thế nào ? Việc tìm kiế
phúc phải có sự tiêu hao sức lực hay tiền của nhất định. Sự tiêu hao này phải
là không thiệt hại gì thậm chí là tốt hơn khi ta có hạnh phúc, ta có thể hiểu
(1) C.Mác, F. Engen. Toàn tập, t.I. Nxb Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.85
8
nôm na là "Thả con tép câu con tôm". Như vậy, hạnh phúc là sự phát triển bền
vững. Việc tìm kiếm hạnh phúc mà bất chấp mọi giá là vô cùng nguy hiểm vì
đó là sự mất mát quá lớn không thể bù đắp và sẽ có tác dụng ngược. Việc tìm
kiếm hạnh phúc nói chung phải tuân theo các chuẩn mực đạo đức xã hội ( nói
cách khác là theo chân lý và chính nghĩa ) thì mới có hiệu quả.
2. Khái niệm quyền cơ bản của công dân
2.1. Khái niệm công dân
Trong xã hội, con người luôn tồn tại trong mọi mối quan hệ với
người khác và chịu tác động, ảnh hưởng của môi trường xã hội. Mỗi chế độ
xã hội đều có các cá nhân là những con người chịu sự chi phối của điều kiện
chính trị, kinh tế, đời sống xã hội, hoàn cảnh xã hội và trình độ văn minh của
xã hội ấy. Trong xã hội có giai cấp mỗi cá nhân đều thuộc về một giai cấp,
tầng lớp nhất định. Bất kì Nhà nước nào và bất kì thời đại nào, giai cấp thống
trị nắm Nhà nước luôn tìm mọi cách tách động vào cá nhân nhằm tạo ra một
mẫu người phù hợp với mong muốn lợi ích của giai cấp mình, của thời đại
mình đang thống trị.
Con người trong thời đại có Nhà nước luôn có mối liên hệ, quan
hệ với Nhà nước. Quan hệ đó được thiết lập trên cơ sở pháp luật quy định về
các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia trong quan hệ. Con người đó trở
thành công dân của Nhà nước. Như vậy, trong mối quan hệ giữa một các nhân
và một Nhà nước nhất định, khoa học pháp lý hình thành nên khái niệm công
dân. Vậy công dân là gì?
Công dân là cá nhân trong quan hệ với Nhà nước và pháp luật, là
sự xác định về mặt pháp lý một thể nhân thuộc về một Nhà nước nhất định.
Nhờ sự xác định này mà con người có các quyền do Nhà nước ghi nhận, được
Nhà nước bảo đảm, bảo hộ các quyền, lợi ích ở trong nước cũng như khi ở
nước ngoài và phải làm các nghĩa vụ công dân đối với nhà nước. Ngược lại,
Nhà nước có những quyền yêu cầu công dân của mình thực hiện các nghĩa vụ
công dân và Nhà nước có những nghĩa vụ đối với công dân của mình.
9
Khái niệm công dân ra đời từ lâu trong lịch sử nhưng nó chỉ trở
thành thuật ngữ pháp lý khi Nhà nước tư sản ra đời và được sử dụng rộng rãi
trong xã hội tư sản và xã hội xã hội chủ nghĩa. Nó thể hiện mối quan hệ pháp
lý đặc thù giữa Nhà nước với một số người nhất định, xác định địa vị pháp lý
của cá nhân trong Nhà nước và xã hội. Nhờ khái niệm công dân mà chúng ta
xách định được những quyền mà công dân được hưởng, những nghĩa vụ mà
công dân phải thực hiện đối với Nhà nước của mình và ngược lại, Nhà nước
cũng có trách nhiệm đảm bảo cho các quyền của công dân được thực hiện,
đồng thời yêu cầu công dân thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
So với khái niệm cá nhân thì khái niệm công dân hẹp hơn, bởi cá
nhân bao gồm cả những người là công dân và những người không phải là
công dân. Và trong một quốc gia thì không chỉ có công dân của quốc gia đó
mà còn có thể có công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, thậm chí
có người mang nhiều quốc tịch. Hay nói cách khác không phải mọi cá nhân
sinh sống trên lãnh thổ của một quốc gia đều được coi là công dân của quốc
gia đó. Một cá nhân muốn trở thành công dân thì cần những điều kiện nhất
định. Những điều kiện đó có thể giống hoặc khác nhau tùy thuộc vào pháp
luật của từng quốc gia nhất định. Điều 49 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam quy định:” Công dân nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là người có quốc tịch Việt nam”. Như vậy, thì theo quy định này thì
điều kiện để một người trở thành công dân Việt Nam là người đó phải có quốc
tịch Việt Nam. Hay nói cách khác ai có quốc tịch Việt Nam thì người đó là
công dân Việt Nam. Quốc tịch là trạnh thái pháp lý xác định một cá nhân
thuộc về một Nhà nước nhất định và là tiền đề pháp lý cần thiết để một cá
nhân có thể hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật của Nhà
nước đó quy định. Theo quy định tại Điều 1 Luật Quốc tịch 2008 thì: “Quốc
tịch Việt Nam thể hiện mối quan hệ gắn bó của cá nhân với Nhà nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của công dân
10
Việt Nam đối với Nhà nước và quyền, trách nhiệm của Nhà nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với công dân Việt Nam”
Qua đó có thể thấy khái niệm công dân gắn liền với khái niệm
quốc tịch; muốn xác định người nào đó có phải là công dân Việt Nam hay
không thì phải xem họ có quốc tịch Việt Nam hay không. Quốc tịch Việt Nam
là căn cứ duy nhất để xác định một người nào đó là công dân Việt Nam. Theo
quy định của Luật Quốc tịch 2008 thì những trường hợp được hưởng quốc
tịch Việt Nam đó là: Được nhập quốc tịch Việt Nam; được trở lại quốc tịch
Việt Nam; trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam, quốc tịch của
trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch nhưng thường xuyên cư
trú ở Việt Nam, trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam
Các trường hợp khác được quy định tại Điều 35 và Điều 37 Luật Quốc tịch.
Có thể nói, việc đặt ra khái niệm công dân có một ý nghĩa rất quan
trọng. Điều này thể hiện, nếu là công dân của một Nhà nước thì người đó
được hưởng đầy đủ các quyền và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà Nhà
nước đó quy định. Còn những người không phải là công dân của nước sở tại
thì quyền và nghĩa vụ của họ bị hạn chế trong một số lĩnh vực như: họ không
có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; không có quyền bầu cử; ứng
cử; họ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng
quốc phòng toàn dân,… Mặt khác, khái niệm công dân thể hiện mối quan hệ
pháp lý có tính chất đặc biệt, tồn tại trong cả trường hợp công dân Việt Nam
đã ra nước ngoài sinh sống nhưng vẫn còn mang quốc tịch Việt Nam. Việc
sinh sống ở trong hay ngoài nước sẽ không ảnh hưởng đến tư cách công dân
khi họ vẫn mang quốc tịch Việt Nam.
Tóm lại việc xác định một người có quốc tịch Việt Nam liên quan
trực tiếp đến việc xác định quyền và nghĩa vụ của họ trong mối quan hệ với
Nhà nước Việt Nam.
2.2. Khái niệm quyền cơ bản của công dân
11
Mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân chủ yếu được thể hiện
thông qua quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Tổng thể các quy
phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân tạo nên quy chế
pháp lý công dân. Quy chế pháp lý của công dân bao gồm nhiều chế định
khác nhau: như vấn đề quốc tịch, năng lực pháp luật và nămg lực hành vi của
công dân, các nguyên tắc pháp lý của quy chế pháp lý của công dân, các
quyền tự do và nghĩa vụ pháp lí của công dân, các biện pháp bảo đảm để
quyền, nghĩa vụ công dân được thể hiện trong thực tế… Mỗi chế định điều
chỉnh một mặt trong địa vị pháp lý của công dân. Địa vị pháp lý của công dân
mỗi nước khác nhau là khác nhau vì chúng bị chi phối bởi điều kiện kinh tế-
xã hội của Nhà nước đó. Điều này liên quan đến các biện pháp bảo đảm thực
hiện quyền và nghĩa vụ của công dân giữa các nước có điều kiện kinh tế phát
triển với các nước có nền kinh tế chậm phát triển.
Tư cách công dân đã tạo cho công dân một địa vị pháp lý đặc biệt,
một quan hệ đặc biệt với một Nhà nước nhất định, khác với những người
không phải là công dân, mối quan hệ đặc biệt đó được thể hiện thành quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đối với nước ta vấn đề quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân luôn được ghi nhận thành một chương của Hiến pháp.
Ngay từ Hiến pháp 1946- bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa đã dành chương II để quy định về “ nghĩa vụ và quyền lợi công
dân”. Những quyền được quy định trong Hiến pháp được gọi là quyền cơ bản
và những người có tư cách công dân được Nhà nước quy định cho hưởng
những quyền nhất định đó gọi là quyền cơ bản của công dân. Như vậy có thể
hiểu quyền cơ bản của công dân là khả năng của mỗi công dân được tự do lựa
chọn những hành vi được quy định trong Hiến Pháp và được Nhà nước bảo
đảm thực hiện.
Từ đó có thể đưa ra định nghĩa: Các quyền cơ bản của công dân là
hệ thống các quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, xuất phát từ
quyền công dân và không tách rời nghĩa vụ công dân, biểu hiện mối quan hệ
12
đặc biệt quan trọng giữa công dân và Nhà nước, được Nhà nước bảo đảm trên
thực tế nhằm thỏa mãn những nhu cầu của đời sống công dân và toàn xã hội.
Các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp
gọi là các quyền cơ bản trước hết vì nó xác định mối quan hệ cơ bản nhất giữa
Nhà nước và công dân. Mặt khác, những quyền này lại được quy định trong
đạo luật của Nhà nước. Do vậy, các quyền cơ bản của công dân là cơ sở chủ
yếu, có ý nghĩa quyết định để xác định địa vị pháp lý của công dân, xác định
các quyền cụ thể khác của công dân ở mọi cấp độ và trong mọi ngành luật.
Các quyền này xuất phát từ quyền con người (nhân quyền), nên việc ghi nhận
chúng trong văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất của Nhà nước là
nhằm bảo vệ và không xâm phạm chúng trong quá trình thực hiện quyền lực
Nhà nước.
Trên thực tế, mỗi công dân chỉ có thể tham gia vào một lĩnh vực
sinh hoạt nhất định, đảm nhiệm một chức năng xã hội nhất định tùy thuộc vào
hoàn cảnh, điều kiện, khả năng riêng của mỗi người. Do đó, các quyền cơ bản
của công dân được quy định trong Hiến pháp phải được cụ thể hóa, chi tiết
hóa trong các luật khác. Trong thời kì nhất định, tùy theo mức độ hoàn thiện
của quan hệ sản xuất, trình độ phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội, Nhà
nước quy định về quyền cơ bản của công dân và các biện pháp bảo đảm trên
thực tế. Trên cơ sở đó tạo điều kiện cho mỗi công dân được làm chủ xã hội,
làm chủ bản thân, sử dụng đúng đắn các quyền công dân của mình, tích cực
tham gia các sinh hoạt xã hội, đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
2.3. Khái niệm quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và
tự do cá nhân
Trong hệ thống các quyền cơ bản của công dân mà Hiến pháp ghi
nhận thì các quyền về tự do dân chủ và tự do cá nhân của công dân chiếm số
lượng lớn vì chúng liên quan trực tiếp đến cuộc sống và tự do của mỗi người.
Đồng thời, nó phản ánh bản chất của Nhà nước, trình độ dân chủ của xã hội,
13
mức độ giải phóng cá nhân con người. Ngày nay, trong bất kì quốc gia tiến bộ
nào trên thế giới có Hiến pháp thành văn cũng đều quy định trong Hiến pháp
các quyền tự do, dân chủ của công dân. Đây là một bước tiến bộ lớn trong
mối quan hệ Nhà nước – công dân trong lịch sử nhân loại và cũng là tư tưởng,
nội dung cơ bản của chủ nghĩa lập hiến.
Như phần trên đã phân tích các quyền cơ bản của công dân là
những quyền được nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp. Những quyền này
thường được xuất phát từ quyền con người, quyền sống, quyền tự do, quyền
mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm. Quyền cơ bản của công dân
là cơ sở chủ yếu để xách định địa vị pháp lí của công dân, là cơ sở cho việc
quy định các quyền cụ thể khác của công dân. Mỗi quyền cơ bản của công
dân là một khả năng mà luật cơ bản của nhà nước trao cho công dân được
hưởng gì, được làm gì, được yêu cầu gì từ phía nhà nước và xã hội phù hợp
với pháp luật và khả năng, điều kiện thực tế của đất nước để thỏa mãn những
nhu cầu, lợi ích chính đáng của mình.
Các quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân
thể hiện đậm nét bản chất dân chủ của Nhà nước. Bởi lẽ những quyền này có
mối liên hệ mật thiết với cá nhân từng công dân, cho phép họ được sống trong
tự do, dân chủ, không bị ngăn cấm hoặc lệ thuộc vào người khác. Dưới góc độ
pháp lí, quyền tự do dân chủ của công dân được hiểu là những quyền mà công
dân có được do chế độ dân chủ mang lại, ví dụ: quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí, quyền được thông tin, quyền được tự do hội họp, tự do lập hội…còn
quyền tự do cá nhân được hiểu là những quyền của bản thân mỗi người,
không thể chuyển giao cho người khác, được tự quyết định cuộc sống của
mình, ví dụ: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú…Tuy nhiên, sự phân biệt này không
phải là tuyệt đối. Các quyền này đều ghi nhận các vấn đề liên quan đến tự do
của mỗi công dân, có quan hệ gắn bó với nhau, do đó việc phân biệt một cách
rạch ròi đâu là quyền về tự do dân chủ, đâu là quyền về tự do cá nhân không
14
phải là vấn đề đơn giản và còn nhiều quan điểm trái ngược nhau. Do vậy, khi
phân loại các quyền cơ bản của công dân người ta gộp chung “ quyền tụ do
dân chủ” và “ tự do cá nhân” thành một nhóm quyền trong Hiến pháp. Các
quyền cơ bản của công dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân có liên quan
mật thiết với các quyền khác về kinhh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, thể hiện
địa vị của công dân được tự do trong những lĩnh vực thiết yếu của cuộc sống
để phát triển về mọi mặt.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu các quyền cơ bản của công
dân về tự do dân chủ và tự do cá nhân là cá quyền của công dân được quy
định trong Hiến pháp, cho phép công dân được tự do đi lại và cư trú; tự do
ngôn luận; tự do báo chí; được thông tin, được hội họp, lập hội và biểu tình
theo quy định của pháp luật; được tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào; được bất khả xâm phạm về thân thể, và được
suy đoán vô tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp
luật; quyền được bất khả xâm phạm về chỗ ở; được Nhà nước đảm bảo an
toàn, bí mật về thư tín, điện thoại, điện tín. Những quyền này được Hiến pháp
quy định cho mọi công dân có thể thực hiện.
II. Các quan điểm về quyền con người và quyền công dân
1. Các quan điểm chung về quyền con người và quyền công
dân
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người. Có
những ý kiến trái ngược về lịch sử phát triển của quyền con người. Một học
giả cho rằng : “… các quyền con người không có lịch sử… vì lịch sử, nếu có,
thì hình như rất hỗn độn. Nó pha lẫn những lặp lại, những xen kẽ, những
tương phản và những đứt đoạn giữa những bước tiến triển và những bước thụt
lùi
(
1)
”
. Nhưng trên quan điểm duy vật lịch sử, có thể khẳng định rằng, cũng
như bất kỳ sự vật, hiện tượng nào, quyền con người không phải là một cái gì
siêu lịch sử, siêu giai cấp và siêu xã hội. “Quyền con người là sản phẩm phát
(1) www.http: //chungta.com
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét