Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về lãi xuất và thực trạng điều hành lãi xuất ở Việt Nam

3.3. Căn cứ vào cơ chế lãi suất dơng:
Tỷ suất lợi nhuận bình quân < Tỷ lệ lạm phát bình quân <
Lãi suất huy động vốn bình quân < Lãi suất cho vay bình quân
4-/ Các loại lãi suất tín dụng:
Trên thị trờng vốn ở các nớc, thông thờng có các loại lãi suất sau đây:
4.1. Lãi suất cơ bản:
Là lãi suất do NHTƯ công bố làm cơ sở cho các ngân hàng thơng mại và
các tổ chức ấn định lãi suất kinh doanh.
4.2. Lãi suất sàn và lãi suất trần:
Là lãi suất thấp nhất và cao nhất trong một khung lãi suất nào đó, mà
NHTƯ ấn định cho các NHTM, hoặc do các NHTM qui định trong hệ thống của
nó, nhằm thống nhất các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
4.3. Lãi suất tái chiết khấu:
Là lãi suất cho vay ngắn hạn mà NHTƯ dành cho các NHTM, trong trờng
hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thơng phiếu và giấy
tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất của các NHTM đẻ từ đó chúng ấn
định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất đợc phép.
4.4. Lãi suất tái cấp vốn:
Là lãi suất do NHTƯ áp dụng khi tái cấp vốn.
4.5. Lãi suất danh nghĩa:
Là lãi suất mà ngời cho vay đợc hởng, không tính đén sự biến động của giá
trị tiền tệ.
4.6. Lãi suất thực:
Là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, nh lạm phát
hoặc lên giá tiền tệ.
4.7. Lãi suất trên thị trờng tiền tệ liên ngân hàng:
Là lãi suất mua bán vốn giữa các NHTM do NHTƯ điều hành và ấn định.
Các loại lãi suất tín dụng đợc hình thành một cách đa dạng trong nền kinh
tế thị trờng. Đại bộ phận chúng đều do NHTƯ kiểm soát và khống chế. Xu hớng
chung sẽ tiến tới một lãi suất phổ thông đơn giản. Hiện nay, ở các nớc chậm
phát triển lãi suất tín dụng còn cao. Còn ở các nớc có nền kinh tế phát triển lãi
suất thờng hạ. Ngày nay do sự hội nhập kinh tế giữa các quốc gia, cho nên mặt
5
bằng lãi suất có cơ hội đợc thiết lập giữa nhiều nớc trong khu vực và nhiều nớc
trên thế giới.
5-/ Các yếu tố ảnh hởng đến lãi suất tín dụng:
5.1. Cung và cầu về tiền vay:
Nh phần trên đã đè cập, cung-cầu tiền vay có ảnh hởng đến sự biến động
lãi suất.
5.2. Mức độ rủi ro trong việc hoàn trả vốn:
Khi mức độ rủi ro càng cao thì ngời ta sẽ tính lãi suất càng cao và ngợc lại.
do vậy, tuỳ theo điều kiện đảm bảo và mức độ bảo toàn vốn vay của các khoản
tiền vay mà lãi suất có thể cao hay thấp.
5.3. Số lợng vay và thời hạn vay:
Thông thờng số lợng lớn và thời hạn vay dài sẽ đợc tính lãi suất cao hơn số
lợng nhỏ và thời hạn ngắn vì mức độ rủi ro thờng cao hơn.
5.4. Mức sinh lời của nền kinh tế:
Mức lãi suất cho vay chỉ đợc chấp nhận khi nó nhỏ hơn mức sinh lời của
nền kinh tế đẻ đảm bảo cho ngời vay có lãi khi sử dụng vốn trong quá trình sản
suất kinh doanh. Mức sinh lời cao thì lãi suất sẽ cao và ngợc lại.
5.5 Thu - chi ngân sách:
Khi ngân sách nhà nớc bội chi, chính phủ bù đắp bội chi bằng cách phát
hành và bán tín phiếu, trái phiếu chính phủ, làm tăng nhu cầu vay tiền và tăng lãi
suất.
Ngợc lại khi ngân sách bội thu sẽ tăng mức cung của quỹ cho vay làm cho
lãi suất giảm.
5.6. Chi phí hoạt động ngân hàng:
Vì:
Lãi suất cho vay = Lãi suất huy động +
Chi phí hoạt động ngân hàng
Do đó chi phí hoạt động ngân hàng cao sẽ đẩy lãi suất tăng và chi phí hoạt
động giảm sẽ làm lãi suất giảm.
Nh vậy để duy trì mức lãi suất vừa phải, thúc đẩy nhu cầu vay vốn thì các
ngân hàng cần tích cực giảm chi phí hoạt động cũng nh thu hẹp các bộ phận cán
bộ d thừa hay cán bộ kém năng lực, tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay.
6
5.7. Lạm phát:
Khi lạm phát cao thì ngời cho vay sẽ không muốn cho vay, cung tiền vay
giảm xuống trong khi cầu tiền vay tăng lên (do chi phí cho khoản vay giảm đi)
đẩy lãi suất tăng cao.
Lãi suất tín dụng chịu tác động của rất nhiều yếu tố cho nên để xây dựng
một chính sách lãi suất hợp lý, các nhà quản lý, các cơ quan chức năng có liên
quan phải có một cách nhìn nhận tổng hợp sát thực để có những quyết định đúng
đắn đem lại lợi ích cho ngời đi vay cũng nh đảm bảo quyền lợi của ngời cho vay,
bảo toàn đồng vốn và đảm bảo cho các NHTM, tổ chức tín dụng kinh doanh có
lãi và cao hơn nữa là ổn định giá trị đồng tiền, thúc đẩy tăng trởng kinh tế.
6-/ ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trờng:
Lãi suất tín dụng là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền
kinh tế thị trờng. Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín
dụng nói riêng và do đó đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân nói
chung. tác dụng của lãi suất đợc thể hiện ở những nội dung sau đây:
6.1. Lãi suất tín dụng là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô:
Tăng hay giảm lãi suất cho vay, sẽ làm vốn của doanh nghiệp giảm xuống
hay tăng lên. Nh vậy quyết định đến việc thu hẹp hay mở rộng sản suất. Tình
trạng này sẽ dẫn đến số lợng công việc làm trong xã hội tăng lên hay giảm
xuống. Điều đó có nghĩa rằng, lãi suất tín dụng đã có ảnh hởng trực tiếp đến
việc giải quyết tình trạng thất nghiệp trong xã hội
Mặt khác, tăng hay giảm lãi suất tiền gửi, đặc biệt là lãi suất tái chiết khấu
sẽ có ảnh hởng trực tiếp đến số lợng ngoại tệ đi vào trong nớc. do đó sẽ ảnh h-
ởng đén cung cầu ngoại tệ dẫn đến sự thay đổi tỷ giá và quan hệ xuất nhập khẩu
trong từng thời kỳ.
Nh vậy, có thể khẳng định lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô.
7
6.2. Lãi suất tín dụng là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô.
Trong nền kinh tế, thờng xảy ra những đột biến ở từng khu vực hay trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân do những nguyên nhân không lờng trớc đợc. khi
xảy ra những hiện tợng nh vậy chính phủ thờng sử dụng nhữnh công cụ kinh tế
trong đó có lãi suất tín dụng để điều chỉnh lại những quan hệ tạo điều kiện cho
kinh tế khu vực, ngành hay toàn bộ nền kinh tế phát triển. Chẳng hạn, trong điều
kiện lạm phát, chính phủ có thể tăng lãi suất tiền gửi để rút bớt tiền trong lu
thông về, hoặc có thể áp dụng mức lãi suất khác nhau giữa các khu vực, để điều
hoà lu thông tạo mặt bằng giá cả hợp lý, đảm bảo cho sản suất và lu thông hàng
hoá phát triển.
Là công cụ điều chỉnh kinh tế vi mô, lãi suất tín dụng phải đợc xử lý kịp
thời và chính xác. Điều đó đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải nắm vững thông tin
kinh tế, biết xử lý thông tin, để có những quyết định chính xác trong việc thực
hiện chính sách lãi suất.
6.3. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích cạnh tranh giữa các
ngân hàng thơng mại:
Trong khung lãi suất cho phép, để tăng khối lợng nguồn vốn huy động
đồng thời để mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng, các NHTM có thể nâng
lãi suất tiền gửi và hạ lãi suất cho vay. Đây chính là hoạt động cạnh tranh giữa
các ngân hàng thơng mại. Thực chất của quá trình này là phân chia khối lợng
tiền gửi và mở rộng phạm vi ảnh hởng của ngaan hàng ra thị trờng. Để đảm bảo
cạnh tranh thắng lợi, mỗi ngân hàng thơng mại đều có chiến lợc khách hàng của
mình. Chiến lợc này đợc thực hiện bằng lãi suất u đãi. Muốn vậy các ngân hàng
thơng mại đều tìm mọi biện pháp giảm thấp chi phí kinh doanh và chi phí quản
lý. Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM sẽ tạo ra lợi ích kinh tế chung cho
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
6.4. Lãi suất tín dụng là công cụ khuyến khích tiết kiệm và đầu t:
Theo lý thuyết tài chính, chúng ta có thể đa ra một phơng trình đơn giản về
thu nhập.
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm
Phơng trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia
đình, các doanh nghiệp mà cả đói với nền tài chính quốc gia. Giả sử, trong điều
kiện của mộy nền kinh tế bình thờng, tỷ lệ giữa tiêu dùng và tiết kiệm là hợp lý.
8
Để tăng tỷ lệ tiết kiệm, khuyến đầu t, tức là tăng khả năng tài chính cho toàn bộ
nền kinh tế quốc dân, thì biện pháp có hiệu quả nhất là tăng lãi suất huy động
vốn. Khi lãi suất huy động vốn tăng lên, thì trớc hết các hộ gia đình phải xem
xét lại các khoản chi cho tiêu dùng thờng xuyên, có thể giảm chi hoặc hoãn một
số khoản chi này, để tăng thêm tỷ lệ tiết kiệm trong tổng thu nhạp. Sau đó từ
khoản tiết kiệm này, họ sẽ chọn hớng đầu t : Gửi vào ngân hàng, vào quĩ bảo
hiểm, hay đầu t vào thị trờng chứng khoán. . . khi thấy có lợi hơn.
Nh vậy có thể khẳng định lãi suất là công cụ can thiệp có hiệu lực để phân
chia giữa quỹ tiêu dùng và tiết kiệm. Nhng nâng lãi suất huy động vốn đến mức
độ nào, thì cần phải cân nhắc thận trọng để đảm bảo sự phát triển hài hoà của
nền kinh tế quốc dân.
II-/ Thực trạng lãi suất tín dụng ở Việt Nam
1-/ Giai đoạn từ trớc tháng 3 - 1989:
Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất âm. Trong giai đoạn
này tuỳ từng thời gian Ngân hàng Nhà nớc có điều chỉnh lãi suất nhng do lạm
phát phi mã (tỷ lệ lạm phát năm 1986 là 747,7%, năm 1987 là 301,3%) nên lãi
suất luôn ở tình trạng âm:
+ Lãi suất tiền gửi nhỏ hơn mức lạm phát.
+ Lãi suất cho vay thấp hơn mức lãi suất huy động.
Hệ thống lãi suất âm có nhiều tiêu cực:
+ Khả năng huy động vốn đi với yêu cầu rút bớt tiền trong lu thông, giải
toả áp lực của tiền đối với giá cả hàng hoá bị hạn chế nhiều.
+ Nhu cầu vay vốn tăng lên không thực chất tạo lợi nhuận giả cho
doanh nghiệp.
+ Ngân hàng bao cấp cho khách hàng qua lãi suất tạo lỗ không đáng có cho
ngân hàng, ngân hàng không thể kinh doanh bình thờng, lãi suất hoàn toàn do
Nhà nớc quyết định theo ý muốn chủ quan.
Từ đó hình thành nên các kết quả trái ngợc nhau, bất hợp lý giữa ngời gửi
tiền, ngân hàng và ngời vay vốn. Ngời ta đã ví việc gửi tiền tiết kiệm nh là việc
bán một con trâu lấy tiền gửi vào ngân hàng, khi rút tiền ra thì số tiền ấy chẳng
mua nổi cái dây thừng.
2-/ Giai đoạn từ tháng 3 - 1989 đến tháng 10 - 1993:
Thời kỳ này Ngân hàng Nhà nớc đã chủ động sử dụng công cụ lãi suất,
chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dơng. Để thu hút tiền thừa trong lu thông về,
9
kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Nhà nớc đã nâng lãi suất huy động lên rất cao
trong một thời gian ngắn: lãi suất không kỳ hạn là 9%/tháng tức là 108%/năm,
lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 12%/tháng tức là 144%/năm. Việc làm đó đã
thu hút một khối lợng tiền lớn trong lu thông, tăng nguồn vốn tín dụng, giảm áp
lực lạm phát. Siêu lạm phát bị chặn đứng nhanh chóng, sau đó xảy ra hiện tợng
giảm lạm phát vào tháng 5 đến tháng 7/1989, đợc ổn định với mức thấp cho tới
tháng 6/1990. Giá vàng, đôla Mỹ giảm đáng kể chứng tỏ lòng tin của dân c đối
với đồng nội tệ đợc phục hồi.
Chính sách lãi suất trên đã có hiệu quả tức thì nhng chỉ thích hợp với những
bối cảnh lịch sử nhất định vì đây chỉ là biện pháp can thiệp trực tiếp vào thị tr-
ờng tiền tệ tơng tự nh việc ấn định vì đây chỉ là biện pháp can thiệp trực tiếp vào
thị trờng tiền tệ tơng tự nh việc ấn định giá bằng các biện pháp hành chính của
Nhà nớc cho hàng hoá trên thị trờng. Từ 20/3/1990 đến tháng 11/1990 Ngân
hàng Nhà nớc vẫn để lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng là 4%, tiền gửi không kỳ
hạn là 1,8%/tháng, lãi suất cho vay các tổ chức kinh tế là 2,4%/tháng thấp hơn
lãi suất tiền gửi là 1,6%/tháng, do vậy Nhà nớc phải bù lỗ cho ngân hàng hơn
400 tỷ đồng.
Thực tế lãi suất ở Việt Nam biến động hết sức thất thờng và hệ thống thông
tin số liệu cha cho phép dự đoán tỷ lệ lạm phát chính xác, do đó khi lấy lạm phát
làm cơ sở quy định mức lãi suất đã làm cho mức lãi suất thực tế dao động mạnh,
sự ổn định kinh tế vĩ mô không duy trì đợc trong thời gian dài. Nửa cuối năm
1990 và đầu năm 1992 lạm phát lại quay trở lại.
Trớc tình hình đó, tháng 6/1992, Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam có sự điều
chỉnh lãi suất theo hớng lãi suất dơng và đánh dấu một bớc ngoặt quan trọng
trong hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng:
+ Chuyển lãi suất âm qua lãi suất dơng tức là lãi suất tiền gửi cao hơn mức
lạm phát và lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, xử lý hài hoà lợi ích của
ngời gửi tiền, ngời vay vốn và tổ chức tín dụng.
+ Xoá bỏ bao cấp qua lãi suất ngân hàng, chuyển hoạt động ngân hàng
sang kinh doanh thực sự. Nhờ kiềm chế đợc lạm phát, giảm đợc giá đôla, vàng,
từ tháng 6/1992 Ngân hàng đã giảm dần lãi suất tiết kiệm và từ thágn 8/1992
thực hiện lãi suất dơng.
Tuy vậy trong giai đoạn này còn một số tồn tại:
10
+ Đối với từng ngành kinh tế (công - nông - thơng nghiệp) có mức lãi suất
riêng.
+ Đối với các thành phần kinh tế (quốc doanh và ngoài quốc doanh) có
phân biệt lãi suất.
Chính vì vậy cha khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển sản xuất
kinh doanh một cách bình đẳng.
3-/ Giai đoạn từ 01 - 01 - 1993 đến 01 - 01 - 1996:
Ngân hàng Nhà nớc vừa áp dụng lãi suất trần cho vay vừa áp dụng lãi suất
thoả thuận.
3.1- Lãi suất trần:
Lãi suất trần cho vay doanh nghiệp Nhà nớc là 1,8%/tháng, cho vay thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh là 2,1%/tháng.
3.2- Lãi suất thoả thuận:
Trờng hợp các ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo lãi suất
quy định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì đợc áp dụng lãi suất
thoả thuận: lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn là
0,2%/tháng và cho vay cao hơn mức trần 2,1%/tháng.
Trên thực tế khoảng 30 - 60% tổng d nợ lúc bấy giờ là từ các khoản cho
vay bằng lãi suất thoả thuận và phần lớn là cho vay doanh nghiệp ngoài quốc
doanh và hộ nông dân với lãi suất phổ biến là 2,3% - 3,5%/tháng.
Với mức lạm phát năm 1993 là 5,2%, lãi suất thực của ta trở nên quá cao
(lãi suất thực tiền gửi tiết kiệm là 11,6%/năm, lãi suất thực cho vay theo lãi suất
trần là 20%/năm) lãi suất tiền gửi tiết kiệm của ta cao gấp 1,1 lần của Hàn Quốc,
3,7 lần của Mỹ, lãi suất cho vay cao gấp 1,5 lần của Đức và 4,2 lần của Mỹ.
Vào cuối năm 1995, mức lãi suất trần của Việt Nam là 2,1%/tháng
(25,2%/năm) sau khi trừ đi tỷ lệ lạm phát 12,7% còn 12,5%/năm trong khi lợi
nhuận bình quân của toàn bộ nền kinh tế cha vợt mức 6,5%/năm cho nên nhiều
ngân hàng thơng mại trở nên thừa vốn, dù nền kinh tế còn rất thiếu vốn nhng lãi
suất cho vay quá cao, vợt quá khả năng thanh toán so với lợi nhuận. Một số ngân
hàng thơng mại chủ động hạ lãi suất cho vay, chuyển sang đầu t bất động sản
hoặc tài trợ cho thơng mại bán hàng trả góp thậm chí đầu t vào trái phiếu Ngân
hàng Nhà nớc hàng nghìn tỷ đồng với lãi suất thấp để tiêu thụ vốn dới giá mua
vào nhng an toàn. Nhiều doanh nghiệp và nhà đầu t đã chuyển vốn sang nhập
hàng trả chậm lấy tiền Việt Nam, gửi tiết kiệm lấy lãi cao, ngày càng có xu h-
11
ớng khuyến khích nhập khẩu, kìm hãm xuất khẩu, doanh số tín dụng ngân hàng
đã một phần nhờng chỗ cho doanh số tín dụng thơng mại trong khi Luật Thơng
phiếu và Hối phiếu của Việt Nam cha có, làm hoạt động kinh doanh của ngân
hàng bị thu hẹp.
Với cơ chế lãi suất thoả thuận có thể hiểu là đã tự doa hoá một phần lãi
suất hoặc đó là cơ chế cho vay với lãi suất tơng ứng đi đôi với một biên độ dao
động nhất định. Tuy nhiên, mức chênh lệch giữa sàn tiền gửi và trần cho vay rất
lớn từ 0,7% - 1,0%/tháng làm cho các ngân hàng thơng mại có lợi nhuận quá
cao trong khi doanh nghiệp và hộ nông dân gặp nhiều khó khăn.
Từ thực tế này kỳ họp thứ 8 Quốc hội khoá IX tháng 8/1995 cùng với
Nghị quyết bỏ thuế doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng đã yêu cầu
các ngân hàng tiết kiệm chi phí hoạt động và khống chế mức chênh lệch lãi suất
cho vay huy động và cho vay bình quân là 0,35%/tháng, đây là căn cứ để ra đời
cơ chế lãi suất trần và mức khống chế từ 01/01/1996.
4-/ Giai đoạn từ sau 01 - 01 - 1996 đến nay:
4.1- Cơ chế quản lý lãi suất tín dụng thông qua mức khống chế 0,35%:
Theo quyết định số 381/QĐ - NH1 ngày 28/12/1995 từ 01/01/1996 Ngân
hàng Nhà nớc đã quy định trần lãi suất cho vay tối đa và mức chênh lệch 0,35%
thay cho việc điều hành theo lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi chi tiết và lãi suất
thoả thuận quy định trớc đó.
Về lãi suất trần: do quy mô và địa bàn hoạt động khác nhau nên Ngân
hàng Nhà nớc đã quy định trần lãi suất có phân biệt nh sau:
+ Trần lãi suất cho vay ngắn hạn: là mức lãi suất thấp nhất, áp dụng cho
khu vực thành thị.
+ Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn: cao hơn trần lãi suất cho vay ngắn
hạn một ít do thời hạn dài dễ gặp rủi ro.
+Trần lãi suất cho vaytrên địa bàn nông thôn: cao hơn trần lãi suất cho vay
ngắn hạn và trung - dài hạn do điều kiện hoạt động ở địa bàn nông thôn khó
khăn hơn thành thị.
+Trần lãi suất cho vay của quỹ tín dụng đối với các thành viên: là trần lãi
suất cho vay cao nhất do quỹ tín dụng mới lập thí điểm, quy mô nhỏ bé, chi phí
hoạt động cao.
12
Về mức khống chế 0,35%/tháng đối với chênh lệch bình quân giữa vốn cho
vay (đầu ra) và huy động vốn (đầu vào) ở mỗi ngân hàng. Từ đó đã hình thành
một hành lang vận động hợp pháp của vốn tín dụng về phơng diện giá cả của nó
đó là một hành lang mà đờng biên cứng là mức lãi suất trần cho vay còn đờng
biên còn lại thì không đợc cố định mà đợc thay thế bằng mức chênh lệch bình
quân giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động của một chu kỳ kinh doanh tín
dụng ở mỗi ngân hàng không đợc quá 0,35%/tháng.
Tuy vậy kiểm chứng trên thực tế qua hơn một năm thực hiện, việc khống
chế trực tiếp đối với ngân hàng thơng mại đã bộc lộ nhiều tồn tại, vớng mắc và
hạn chế về hiệu lực thi hành.
Thứ nhất: Theo tài liệu về tình hình chênh lệch lãi suất năm 1996 và 6
tháng đầu năm 1997 cho thấy phần lớn ngân hàng thơng mại có mức chênh lệch
thực tế bình quân đạt dới 0,35%/tháng là do: chất lợng tín dụng cha cao, nợ khó
đòi phát sinh làm giảm doanh thu, vốn huy động tăng mạnh, nhng tín dụng tăng
trởng chậm do tỷ lệ nhu cầu vay vốn của tổ chức kinh tế và cá nhân không đủ
điều kiện cần thiết cao, ngân hàng thơng mại bị ứ đọng vốn tạm thời chi phí tăng
mà doanh thu giảm, tiền gửi kỳ hạn 3 tháng chiếm tỷ trọng lớn đã làm tăng số
lãi phải trả, d nợ cho vay tăng khá nhng lãi suất cho vay giảm, nhiều ngân hàng
thơng mại cho vay chủ yếu bằng ngoại tệ với mức chênh lệch lãi suất thấp (2% -
2,5%/năm) chiếm khoảng 30% tổng d nợ cho vay.
Nh vậy nội dung kinh tế của chỉ tiêu chênh lệch lãi suất chỉ phản ánh thu
nhập thực tế của ngân hàng thơng mại, không phản ánh tính hình chi phí và việc
khống chế chi phí theo mức chênh lệch lãi suất 0,35%/tháng.
Thứ hai: Để chấp hành đúng mức khống chế 0,35% các ngân hàng phải
căn cứ vào cơ cấu nguồn vốn tại thời điểm quyết định cho vay để xác định lãi
suất huy động bình quân từ đó mới có thể xác định lãi suất cho vay, việc đó hết
sức phức tạp và không bao giờ đạt đợc sự chính xác, vì nguồn vốn ngân hàng
không ngừng biến đổi hàng ngày, hàng giờ, cho dù ở thời điểm ngân hàng quyết
định lãi suất cho vay quy định mức chênh lệch (0,35% thì kết quả cũng chỉ
mang tính thời điểm, vì sau đó do sự biến đổi cơ cấu của nguồn vốn, mức chênh
lệch này sẽ thay đổi trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng.
Thứ ba: Việc quản lý và điều hành chênh lệch lãi suất trực tiếp đối với
từng ngân hàng thơng mại là không thể làm đợc. Vì:
13
+Đặc điểm và điều kiện kinh doanh của các loại hình ngân hàng thơng
mại khác nhau, chênh lệch lãi suất của các ngân hàng thơng mại là khác nhau
nên quy định một mức chênh lệch chung là không hợp lý.
+ Cả nớc hiện có hơn 9000 ngân hàng thơng mại và gần 1000 Quỹ tín
dụng nhân dân, Ngân hàng trung ơng làm sao có thể kiểm tra việc chấp hành
theo quy định kỳ tháng, quý, đối với từng đơn vị ? Vả lại nếu kiểm tra hết thì sẽ
tốn kém, mà không kiểm tra thì hiệu lực thi hành rất hạn chế.
+Hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại có tính kỳ hạn, việc huy
động vốn và cho vay việc thu - chi lãi sẽ xảy ra tình trạng thu dồn hoặc chi
dồn trong một thời gian ngắn. Chế độ tài chính hiện hành cha quy định cụ thể
về việc trích trớc, phân bổ đều đặn và đầy đủ các khoản thu - chi trong năm theo
thông lệ quốc tế. Các ngân hàng sẽ có quý lỗ, quý lãi, nên có năm chênh lệch lãi
suất nhỏ hơn 0,35%, có năm lớn hơn 0,35% không phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ
lực chủ quan của mỗi ngân hàng, vì vậy việc khống chế và xử lý chênh lệch là
việc làm khó khăn.
Thứ t: Việc khống chế chênh lệch lãi suất 0,35% có ảnh hởng tiêu cực
đến sự phát triển của thị trờng tiền tệ và hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng
mại, biểu hiện là:
+ Khi lãi suất huy động bình quân bị khống chế cứng nhắc làm giảm sự
cạnh tranh trên thị trờng tiền tệ, không khuyến khích ngân hàng thơng mại đa ra
sản phẩm mới.
+Chênh lệch lãi suất = (Lãi suất cho vay thực tế bình quân - Lãi suất huy
động thực tế bình quân) bị khống chế tối đa là 0,35%, nghĩa là các ngân hàng có
chênh lệch lãi suất càng thấp càng tốt sẽ không khuyến khích các ngân hàng
cạnh tranh bằng uy tín và hiệu quả kinh doanh mà thay vào đó là nâng cao lãi
suất huy động vốn.
+Không khuyến khích ngân hàng thơng mại tập trung huy động vốn đầu t
mở rộng cho vay trung - dài hạn mà chỉ tập trung cho vay ngắn hạn để tránh rủi
ro. Ngân hàng thơng mại sẽ giảm thu lãi, tăng chi lãi huy động vốn vào những
tháng cuối năm để nhằm khống chế chênh lệch lãi suất dới 0,35% làm kết quả
kinh doanh của ngân hàng không đợc phản ánh chính xác, luân chuyển vốn tín
dụng bị ách tắc. Do vậy hạn chế tính năng động trong hoạt động tín dụng, gây nên
tình trạng khó khăn cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét