Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Rủi ro và tính thanh khoản trong lý thuyết lương cầu tiền tệ

thức đầu tư nào là mang lại hiệu quả cao nhất, tốn ít chi phí nhất mà khả năng thanh khoản
của nó cao nhất…Đó chính là: “ Lý thuyết lượng cầu tài sản”.
Trong đề tài này, chúng tôi sẽ đi sâu vào hai yếu tố cơ bản và quan trọng trong việc
hình thành quyết định đầu tư vài loại tài sản nào của các nhà đầu tư. Đó là: “ Tính thanh
khoản và rủi ro” của tài sản.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: RỦI RO
1.1.Định nghĩa
1.1.1 Các khái niệm rủi ro theo nghĩa thông thường
Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lai hay là
những khả năng của kết quả bất lợi.
Chẳng hạn, khi nói việc một học sinh có sức học trung bình quyết định dự thi vào
trường ĐH Kinh tế-Luật mang nhiều rủi ro, thì phải hiểu rằng rủi ro ở đây chính là sự
5
không chắc chắn của khả năng đậu đại học nguyện vọng một, hay nói khác hơn việc dự thi
này rất có thể khiến em học sinh đó thi trượt đại học nguyện vọng một.
Rủi ro ứng với sai lệch giữa dự kiến và thực tế.
Rủi ro là sự không thể đoán trước được nguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với
kết quả dự đoán.
Trong lĩnh vực tài chính, rủi ro được hiểu như mức độ không chắc chắn của suất
sinh lời dự tính của tài sản, ví dụ, đối với trái phiếu ta có rủi ro biến động lãi suất, đối với
cổ phiếu ta có rủi ro liên quan đến biến động cổ tức, biến động giá trị cổ phiếu và rủi ro lớn
nhất là khi công ty phá sản (giá trị cổ phiếu bằng zero).
Ví dụ: có hai tài sản
• Trái phiếu A có suất sinh lời dự tính sau một năm là 9.6%
• Tín phiếu kho bạc thời hạn 1 năm cho lợi suất đáo hạn (bằng với suất sinh lời dự
tính) chắc chắn là 9.60%.
Tuy hai loại tài sản này đều cho một suất sinh lợi dự tính như nhau là 9.60% nhưng
tín phiếu kho bạc T-Bill ít rủi ro hơn do chắc chắn mang lại suất sinh lời 9.6% trong khi
trái phiếu A có thể mang lại các suất sinh lợi khác nhau, có khả năng là 15% và có thể là
18%.
Những nhà đầu tư e ngại rủi ro sẽ thích tín phiếu kho bạc hơn do ít rủi ro hơn trong
khi những người ưa mạo hiểm thích trái phiếu A hơn do có khả năng mang lại suất sinh lời
cao hơn (15% và 18%) cho dù xác suất xảy ra tình huống này là thấp.
Khả năng thâm hụt là một định nghĩa khác về rủi ro. Khả năng thâm hụt là khả năng
mà tỷ suất sinh lợi sẽ nằm dưới con số mục tiêu nào đó. Việc định nghĩa rủi ro bằng khả
năng thâm hụt có liên quan đến một khái niệm thuộc về trực giác rủi ro là gì. Ví dụ khả
năng thua lỗ của quỹ Magellan hàng tháng vượt quá 10% là 3.4%.
6
1.1.2. Tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro
Tài sản rủi ro là một tài sản có tỷ suất sinh lợi không chắc chắn trong tương lai và ta
đo lường sự không chắc chắn trong tỷ suất sinh lợi của tài sản rủi ro bằng phương sai hoặc
độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi.
Ví dụ: cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, …
Tài sản phi rủi ro là tài sản có tỷ suất sinh lợi hoàn toàn chắc chắn và độ lệch chuẩn
tỷ suất sinh lợi mong đợi của tài sản này bằng không. (Tỷ suất sinh lợi có được trên tài sản
đó sẽ là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro)
Ví dụ: Trái phiếu chính phủ, chứng chỉ tiền gửi,…
1.1.3.Hai đặc trưng của rủi ro
-Tần số xảy ra (rủi ro có thường xuyên xảy ra hay không): thể hiện bằng xác suất
hoặc khả năng xuất hiện của biến cố.
-Biên độ (rủi ro có lớn hay không, lớn bao nhiêu): được thể hiện bằng giá trị của các
biến cố.
1.1.4. Thái độ đối với rủi ro của nhà đầu tư
Về cơ bản những nhà đầu tư luôn từ chối rủi ro. Bằng chứng là hầu hết các nhà đầu
tư không thích rủi ro thì họ luôn theo đuổi những hình thức bảo hiểm khác nhau, bao gồm
bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm xe hơi, bảo hiểm sức khỏe. Mua bảo hiểm là trả một khoản
phí tổn để phòng ngừa cho những biến cố không chắc chắn trong tương lai. Thêm một
bằng chứng của thái độ đối với rủi ro là sự khác biệt lợi tức mong đợi (tỷ suất sinh lợi
mong đợi) đối với các loại trái phiếu khác nhau, giả sử có sự khác biệt về rủi ro tín dụng.
Chẳng hạn, lợi tức mong đợi trên trái phiếu chúng ta sở hữu tăng từ AAA đến AA đến A
khi rủi ro tăng tương ứng cho thấy nhà đầu tư luôn yêu cầu một tỷ suất sinh lợi cao hơn để
có thể chấp nhận một mức rủi ro cao hơn.
7
Tuy nhiên, điều này không ám chỉ tất cả mọi người đều từ chối rủi ro hay các nhà
đầu tư hoàn toàn từ chối rủi ro đối với tất cả các cam kết tài chính. Và sự thật là không một
ai mua bảo hiểm cho tất cả mọi thứ xung quanh mình. Thêm vào đó, một vài cá nhân mua
bảo hiểm liên quan đến một vài rủi ro, nhưng họ cũng mua vé số và chơi game, đánh bạc
tại casino, nơi được biết đến với những khoản sinh lợi tiêu cực bao hàm nhiều rủi ro. Việc
kết hợp thái độ thích hay không ưa thích rủi ro có thể được giải thích bằng lượng tài sản
hiện có. Nghiên cứu của Friedman và Savage cho thấy con người thích mạo hiểm cho
những khoản tiền nhỏ nhưng lại không muốn mạo hiểm với những khoản tiền lớn. Đó là lý
do họ mua bảo hiểm để bảo vệ mình khỏi những thất thoát to lớn tiềm ẩn.
Trong khi có nhiều thái độ ứng xử khác nhau đối với rủi ro, thì giả định cơ bản của
chúng ta là trên thị trường tài chính, phần lớn các nhà đầu tư e ngại rủi ro. Vì vậy, nếu các
yếu tố là như nhau thì tài sản ít rủi ro hơn sẽ được ưa thích hơn. Ví dụ, khi đứng trước sự
lựa chọn giữa hai tài sản có cùng tỷ suất sinh lợi, nhà đầu tư sẽ chọn tài sản có mức độ rủi
ro thấp hơn.
1.1.5. Một số thuật ngữ khác liên quan đến rủi ro
• Chỉ số rủi ro
Chỉ số rủi ro đo lường sự dịch chuyển của các cổ phiếu được thể hiện trong chủ đề
đầu tư chung. Chỉ số rủi ro mà chúng ta có thể xác định được ở thị trường Mỹ và một số
thị trường cổ phiếu khác đều được phân thành nhiều nhóm:
 Độ lệch chuẩn: Phân biệt những cổ phiếu thông qua độ lệch chuẩn của
chúng. Những tài sản có độ lệch chuẩn ở thứ hạng cao được xem là biến
động nhiều hơn mức trung bình.
 Đà phát triển: Phân biệt những cổ phiếu thông qua thành quả gần đây của
công ty phát hành cổ phiếu.
 Quy mô: Phân biệt những cổ phiếu lớn so với những cổ phiếu nhỏ.
8
 Tính thanh khoản: Phân biệt những cổ phiếu thông qua lượng cổ phiếu mua
bán.
 Tăng trưởng: Phân biệt cổ phiếu thông qua sự tăng trưởng thu nhập trong
quá khứ và dự đoán trong tương lai.
 Giá trị: Phân biệt những cổ phiếu thông qua những chỉ tiêu cơ bản, cụ thể là
tỷ suất thu nhập, cổ tức, dòng tiền, giá trị sổ sách, doanh thu… so với giá cổ
phiếu: giá cổ phiếu thấp hay cao liên quan đến chỉ tiêu cơ bản.
 Độ lệch chuẩn thu nhập: Phân biệt những cổ phiếu thông qua độ lệch chuẩn
thu nhập.
 Đòn bẩy tài chính: Phân biệt những công ty thông qua tỷ lệ nợ trên vốn cổ
phần và độ nhạy cảm rủi ro lãi suất.
Bất kỳ thị trường cổ phiếu nào đều ít nhiều bao hàm chỉ số rủi ro, tủy thuộc vào đặc
trưng riêng của thị trường
• Rủi ro sụt giá: Là rủi ro liên quan đến việc tỷ suất sinh lợi không được như
mong đợi. Rủi ro sụt giá được tính bằng căn bậc hai của bán phương sai.(Nếu
như tỷ suất sinh lợi cân xứng, nghĩa là tỷ suất sinh lợi đó gần như bằng nhau và
bằng x% trên hoặc dưới giá trị trung bình, thì bán phương sai chính xác bằng ½
phương sai.)
• Rủi ro hệ thống: Là phần rủi ro còn lại của danh mục thị trường, không thể đa
dạng hóa. Nói cách khác, rủi ro hệ thống chính là tính khả biến trong tất cả các
tài sản rủi ro do tác động của các biến kinh tế vĩ mô. Rủi ro hệ thống được đo
lường bởi độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi của danh mục thị trường và có thể thay
đổi theo thời gian khi có những thay đổi trong các biến kinh tế vĩ mô tác động
đến giá trị của tất cả các tài sản rủi ro. Các biến kinh tế vĩ mô có thể là sự thay
9
đổi của tốc độ tăng cung tiền, sự biến động của lãi suất, sự biến động trong sản
xuất công nghiệp, thu nhập và dòng tiền của các công ty.
• Rủi ro năng động: Là sai số mô phỏng của danh mục đầu tư, nó mô tả danh mục
đầu tư này có thể theo danh mục chuẩn tốt như thế nào. Rủi ro năng động được
tính bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi năng động. (Tỷ suất sinh lợi năng
động là sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi danh mục của nhà quản trị và tỷ suất
sinh lợi danh mục chuẩn).
• Rủi ro thặng dư: Là rủi ro của tỷ suất sinh lợi thặng dư hay rủi ro của phần tỷ
suất sinh lợi độc lập với tỷ suất sinh lợi hệ thống.
• Lãi suất phi rủi ro: Là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ
tài chính mà không bị rủi ro vỡ nợ.
• Lãi suất rủi ro: Là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ tài
chính có thể bị rủi ro vỡ nợ.
• Rủi ro về lãi suất thị trường: khi lãi suất thị trường tăng, giá chứng khoán sẽ
giảm và ngược lại.
• Rủi ro tái đầu tư: nếu lượng tiền mặt thu vào được tái đầu tư thì thu nhập từ
những hoạt động tái đầu tư đôi khi được gọi là “lãi-trên-lãi” và phụ thuộc mức
lãi suất thị trường vào thời điểm tái đầu tư, cũng như chiến lược tái đầu tư. Khả
năng thay đổi tỷ lệ tái đầu tư theo một chiến lược do những thay đổi lãi suất thị
trường trên thị trường được gọi là rủi ro tái đầu tư.
• Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là nguy cơ công ty phát hành không có khả năng chi trả đúng
hạn. Tức là sẽ không thể chi trả mệnh giá và lãi đúng hạn. Rủi ro tín dụng được
đánh giá bằng các dịch vụ đánh giá khả năng tín dụng của cá nhân hay công ty.
10
• Rủi ro lạm phát
Rủi ro lạm phát hay rủi ro sức mua phát sinh bởi trị giá lưu lượng tiền mặt của
một chứng khoán thay đổi do lạm phát. Ví dụ, nếu nhà đầu tư mua một trái
phiếu có lãi suất 8%/năm, nhưng tỷ lệ lạm phát là 9%/năm, thì thực tế, sức mua
lưu lượng tiền mặt của trái phiếu đã giảm.
• Rủi ro về tỷ giá
Một chứng khoán không dựa trên đơn vị đồng nội tệ không chịu ảnh hưởng của
lưu lượng tiền mặt đồng nội tệ. Lưu lượng tiền mặt đồng nội tệ lệ thuộc vào tỷ
giá hối đoái và thời điểm thanh toán. Ví dụ, một nhà đầu tư mua trái phiếu dựa
vào đơn vị đồng bảng Anh. Nếu đồng bảng Anh mất giá so với đồng USD, thì
người đầu tư sẽ nhận được ít USD hơn. Rủi ro ở đây được gọi là rủi ro về tỷ giá
hay rủi ro tiền tệ.
• Rủi ro thanh lý
Rủi ro thanh lý hay rủi ro về tính thị trường phụ thuộc vào khả năng bán dễ dàng
một chứng khoán bằng hay gần bằng trị giá của nó. Cách đo lường chủ yếu khả
năng thanh lý là mức chênh lệch giữa giá đặt mua và giá đặt bán. Chênh lệch
càng lớn, rủi ro thanh lý càng nhiều.
• Rủi ro do biến cố bất ngờ
Đôi khi khả năng chi trả lãi và mệnh giá của nhà phát hành thay đổi lớn lao và
bất ngờ bởi vì một tai nạn do thiên nhiên hay công nghiệp hoặc một thay đổi về
quy định nào đó… Các rủi ro này được gọi chung là rủi ro do biến cố bất ngờ.
• Rủi ro đạo đức: Là rủi ro xảy ra khi người đi vay tham gia vào những hoạt động
không nên làm theo quan điểm của người cho vay bởi vì chúng làm cho khoản
cho vay ít có khả năng hoàn lại.
• Rủi ro phá sản: Là rủi ro mà người mua cổ phiếu hay trái phiếu doanh nghiệp
phải chịu khi nhà phát hành trái phiếu mất khả năng chi trả tiền lãi và vốn gốc,
11
hay nhà phát hành cổ phiếu bị phá sản, mất khả năng chi trả cổ tức và giá trị cổ
phiếu bằng zero.
• Mức phí rủi ro: Là mức chênh lệch giữa trái phiếu an toàn và trái phiếu có rủi ro
phá sản
1.2. Phân loại rủi ro
Dựa trên góc độ quan sát:
• Rủi ro gắn với những tác nhân kinh tế bên ngoài là những tác nhân kinh tế vĩ
mô. (Bất ổn chính trị làm giá trái phiếu chính phủ giảm, lạm phát đột biến, giá
dầu biến động mạnh khiến giá cổ phiếu giảm, tỷ giá hối đoái thay đổi, sản lượng
công nghiệp thay đổi,vv vv)
• Rủi ro gắn với các thuộc tính tiêu biểu bên trong của tài sản. Thuộc tính tiêu
biểu này có hai nhóm, nhóm chỉ tiêu cơ bản và nhóm thị trường.
 Nhóm chỉ tiêu cơ bản gồm tỷ suất cổ tức, tỷ suất thu nhập, dòng tiền, giá
trị sổ sách, doanh thu,… Khi tỷ suất cổ tức, tỷ suất thu nhập giảm hoặc
không như mong đợi,…thì coi như nhà đầu tư đã gặp rủi ro.
 Nhóm thị trường gồm tính biến động của một thời kì đã qua, tỷ suất sinh
lợi trước đây, doanh thu cổ phần, đà phát triển,… Một cổ phiếu có giá
tăng song không tăng đúng như kì vọng của đà phát triển thì nhà đầu tư
nắm giữ cổ phiếu cũng coi như gặp rủi ro.
Dựa trên các giai đoạn của quyết định đầu tư:
• Rủi ro trước khi quyết định (rủi ro thông tin): Là loại rủi ro xảy ra khi thu thập các
thông tin không đầy đủ, không chính xác dẫn đến nhận diện sai về bản chất của các
yếu tố liên quan đến phương án đầu tư, dẫn tới ra các quyết định đầu tư sai.
12
• Rủi ro khi ra quyết định (rủi ro cơ hội): Xảy ra khi lựa chọn phương án không tối
ưu.
• Rủi ro sau quyết định: Thể hiện ở sự sai lệch giữa dự kiến và thực tế.
Dựa trên tính chất tác động
• Rủi ro theo suy tính (rủi ro mang tính chất đầu cơ): Là loại rủi ro phụ thuộc vào
mong muốn chủ quan của nhà đầu tư, nó xảy ra trong trường hợp nhà đầu tư chủ
động lựa chọn phương án cho dù biết rằng có thể có lợi hoặc bị thiệt hại. Ví dụ:
nhà đầu tư quyết định mua vàng để bán lại nhằm hưởng chênh lệch, dù không biết
chắc giá vàng trong tương lai có tăng hay không.
• Rủi ro thuần túy: Là rủi ro mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ
quan của nhà đầu tư, rủi ro này thường chỉ mang lại thiệt hại cho nhà đầu tư.
1.3. Những phương pháp đo lường rủi ro (định lượng rủi ro)
Những khái niệm và việc phân loại rủi ro đã nói ở trên phần nào giúp các nhà đầu tư
đánh giá mức độ rủi ro của tài sản. Song bên cạnh những cách định nghĩa rủi ro mơ hồ,
nặng về định tính, người ta đã nỗ lực tìm ra những phương pháp định lượng cụ thể, để rủi
ro có thể được đem lên bàn cân, đo, đong, đếm một cách chuẩn xác hơn.
• Phương pháp 1: Sử dụng phương sai, độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi để đo
lường rủi ro.
 Nội dung: Một phương sai hoặc độ lệch chuẩn lớn hơn sẽ biểu thị rủi ro cao
hơn.
Độ lệch chuẩn được tính theo công thức:
( )
2
e
i i
P R R
σ
= × −

Ví dụ:
13
Trái phiếu A có suất sinh lời dự tính sau một năm là 9.6%. Nó có thể mang lại các
suất sinh lợi khác nhau, có khả năng là 15% và có thể là 18%.
Tín phiếu kho bạc thời hạn 1 năm cho lợi suất đáo hạn (bằng với suất sinh lời dự
tính) chắc chắn là 9.60%.
Độ lệch chuẩn của trái phiếu A ở ví dụ trên:
2 2 2
0.3 (15% 9.6%) 0.2 (18% 9.6%) 0.5 (3% 9.6%) 6.68%
σ
= × − + × − + × − =
Độ lệch chuẩn của tín phiếu Kho bạc T-Bill:
2
1.0 (9.6% 9.6%) 0%
σ
= × − =
 Ưu điểm của phương pháp: Dễ hiểu, rõ ràng trong thống kê. Phương pháp
này cũng được nhận định đúng và rộng, dùng trong hầu hết lý thuyết mô
hình định giá tài sản, là công cụ hữu hiệu để hình thành những danh mục đầu
tư.
 Nhược điểm của phương pháp: Độ lệch chuẩn là tiêu chuẩn đánh giá khả
năng của tỷ suất sinh lợi cả trên và dưới giá trị trung bình, trong khi hầu hết
các nhà đầu tư chỉ đều định nghĩa về rủi ro như sự liên quan tỷ suất sinh lợi
thấp hoặc âm, nghĩa là khả năng tỷ suất sinh lợi ở dưới giá trị trung bình.
• Phương pháp 2: Sử dụng phạm vi tỷ suất sinh lợi để đo lường rủi ro.
 Nội dung: Phạm vi tỷ suất sinh lợi tính từ tỷ suất sinh lợi thấp nhất đến tỷ
suất sinh lợi cao nhất, nghĩa là sự không chắc chắn lớn hơn và rủi ro tùy
thuộc vào tỷ suất sinh lợi mong đợi trong tương lai.
 Ưu, nhược điểm của phương pháp: tương tự như ưu, nhược điểm của
phương pháp 1.
• Phương pháp 3: Sử dụng bán phương sai và căn bậc hai của bán phương sai
tỷ suất sinh lợi để đo lường rủi ro.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét