Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Hội nghị khoa học giáo viên

Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
8
nhu cầu của người học. Trong nhu cầu giảng dạy mới hiện nay, “việc đạt được
những mục tiêu đặt ra là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá hiệu quả và chất
lượng giảng dạy" (Kostomarov & Mitrofanova,1990, trang 42).
Sinh viên học tiếng Nga tại khoa tiếng Nga trường Đại học Hà Nội bao
gồm hai đối tượng chính: Sinh viên đầu vào tiếng Nga và sinh viên đầu vào
tiếng Anh.
Sinh viên đầu vào tiếng Nga là những sinh viên đã theo học tiếng Nga
từ phổ thông với thời lượng 105 tiết/năm đối với học sinh theo học chương
trình cơ bản và 140tiết/năm đối với học sinh theo học chương trình phân ban.
Đến khi thi đại học các em không có nhiều lựa chọn ngành nghề như các thí
sinh thi khối D khác, hoặc nếu muốn thi vào chuyên ngành kinh tế đối ngoại
của trường Đại học Ngoại thương thì tỉ lệ chọi và điểm đầu vào khá cao. Vì
vậy lựa chọn học tập theo khối chuyên ngữ (trở thành phiên dịch hoặc giáo
viên) là lựa chọn an toàn và phù hợp nhất. Đồng thời, khi học tập tại trường
Đại học Hà Nội, các em có cơ hội học thêm ngoại ngữ hai, hoặc chuyên ngành
hai nếu đạt được mức điểm yêu cầu đối với chuyên nghành một. Đối với đối
tượng này các em đã nắm được những đặc đ
iểm cơ bản của ngữ pháp tiếng
Nga, song điểm hạn chế của các sinh viên này (nhất là những em không theo
học chương trình chuyên ngữ tiếng Nga) là mắc nhiều lỗi sai về phát âm, trọng
âm rất khó sửa. Đồng thời do cách dạy ở phổ thông cộng với lối sống ít giao
tiếp ở nông thôn đã tạo cho nhưng sinh viên này cách học thụ động, ít sáng tạo,
thiên về học dập khuôn.
Sinh viên đầu vào tiếng Anh
là những sinh viên có nhiều lựa chọn hơn
khi đăng kí thi tuyển sinh nhưng đa phần các em chọn khoa tiếng Nga là những
học sinh có trình độ trung bình hoặc khá ở phổ thông trung học. Vì vậy các em
chọn vào học tiếng Nga như một giải pháp an toàn để chắc chắn đỗ đại học.
Số em thi đầu tiếng Anh để học tiếng Nga vì say mê ngôn ngữ và văn hóa Nga
thường chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ. Cũng như
các em sinh viên đầu vào tiếng Nga,
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
9
nhiều em thi vào để tìm cơ hội học ngành hai. Điểm thuận lợi có khối sinh viên
này là các em bắt đầu từ đầu nên giáo viên không mất thời gian để chỉnh sửa
những âm sai, hay các lỗi ngữ pháp cố hữu mà dạy mới hoàn toàn nên có thể
uốn nắn các em ngay từ đầu. Tuy nhiên, do các em chuyển từ tiếng Anh sang
tiếng Nga với hệ thống chữ viết khác, nguyên tắc phát âm khác, nguyên tắc
ngữ pháp đều chặt chẽ và khó hơn tiế
ng Anh rất nhiều nên nhiều em gặp khó
khăn tâm lí, chán nản và không có động lực để học. Thêm vào đó tâm lí học
tạm, muốn tìm cơ hội học ngành hai hay muốn thi lại để được học ngành yêu
thích cũng cản trở khả năng tập trung và tiếp thu bài của các em.
Với yếu tố tâm lí sinh viên như vậy, nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của
người giáo viên không phải chỉ là giảng dạy mà còn là tìm ra phương pháp
thích h
ợp để tạo ra động lực học tập cho sinh viên, giới thiệu cho các em các
yếu tố văn hóa mới để tạo ra sự say mê, thích thú với việc học ngôn ngữ mới.
Nền âm nhạc, điện ảnh, văn học và thể thao Nga hiện đại có tính sáng tạo và
hấp dẫn cao. Công bằng mà nói, chính giáo viên chúng ta cũng chưa theo dõi
và cập nhật được hết mảng thông tin này. Vì vậy, nếu chúng ta khai thác tốt
mảng thông tin này, kết h
ợp cùng hình ảnh nước Nga truyền thống, tiếng Nga
và văn hóa Nga sẽ thu hút được nhiều hơn sự quan tâm của những sinh viên
học tiếng Nga nói riêng, và đối tượng người học ngoại ngữ nói chung. Động
lực muốn tìm hiểu về văn hóa, cũng nhận thức về các cơ hội phát triển khi học
tốt tiếng Nga sẽ làm sinh viên có thêm say mê trong quá trình học tập. Tăng
cường các hoạt động giao lưu, ngoại khóa bằng ti
ếng Nga như: tổ chức chiếu
phim Nga mới, tổ chức nhạc hội, các chương trình thảo luận theo chủ đề cũng
là những biện pháp giúp tăng động cơ học tập cho cả hai khối sinh viên.
II. Đánh giá giáo trình tiếng Nga năm 1
Hiện tại với cả sinh viên năm thứ nhất, nhóm thực hành tiếng 1 đang sử
dụng giáo trình chính «Дорога в Россию» cho cả khối Anh Nga và Nga Nga.
Bộ giáo trình do nhóm tác giả Antonova V., Naxabina M., Toltych А
. biên
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
10
soạn và giới thiệu năm 2001 gồm ba сấp độ: Элементарный уровень,
Базовый уровень và Первый уровень.
Khác với các giáo trình được biên soạn và giảng dạy trước đó chỉ tập
trung nhiều vào việc hình thành và phát triển kĩ năng sử dụng các cấu trúc ngữ
pháp và từ vựng, cuốn giáo trình này được biên soạn theo hướng phát triển kĩ
năng giao tiếp, trên cơ sở nắm vững cấu trúc ngữ pháp và từ v
ựng. Đây là một
thay đổi quan trọng vì với giáo trình truyền thống, sinh viên có thể có khả năng
ngữ pháp tốt nhưng các em không sử dụng được kiến thức đã học của mình
trong các tình huống giao tiếp thực tế như khi trò chuyện với nguời nói tiếng
Nga hoặc diễn đạt một vấn đề gì đó bằng tiếng Nga… Kostomarov và
Mitrofanova đã chỉ ra rằng "học ngoại ngữ không chỉ là việc n
ắm được cấu
trúc và nguyên tắc của ngôn ngữ mới, mà việc tập trung phát triển khả năng sử
dụng các kiến thức đó" (Kostomarov & Mitrofanova, 1982 trang 17)
Nói như vậy không có nghĩa chúng ta bỏ qua các bài tập ngữ pháp trong
giáo trình. Các bài tập ngữ pháp trong giáo trình được thiết kế hợp lí và khoa
học, giúp người học nắm được các nguyên tắc cơ bản của ngữ pháp tiếng Nga.
Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tâm lí người h
ọc khi bắt đầu
học tiếng Nga đều cảm thấy lo lắng về các vấn đề giống, số, cách trong tiếng
Nga và dẫn đến việc sinh viên ngại nói, lười nói vì sợ sai. Cuốn giáo trình trên
đưa yếu tố giao tiếp vào để sinh viên có cơ hội thực hành ngay những qui tắc
ngữ pháp vừa học vừa học được vào các tình huống thực tế như “Hãy dựa vào
các hình vẽ bạn hãy nói những người trong đó dang làm gì?” hoặ
c “Bạn có thể
đặt được những đoạn đối thoại như thế nào dựa vào các hình vẽ sau?”… Tuỳ
theo các cấp độ của giáo trình mà các dạng bài tập tăng dần độ khó nên nó giúp
sinh viên vượt qua e ngại thường gặp và tự tin hơn trong giao tiếp. Để phát huy
hiệu quả tối đa của cuốn sách này vai trò của giáo viên là vô cùng quan trọng.
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
11
Giáo viên ngoài việc tạo ra cho các em không khí thoải mái để giao tiếp
(không có áp lực cho điểm, chấm điểm như phổ thông) còn có vai trò là người
chữa và giải thích lỗi sai cho sinh viên để họ không lặp lại lần sau.
Chúng ta có thể lấy ví dụ một tình huống cụ thể sau:
Sinh viên A nhận được yêu cầu «Пригласите вашего друга пойти
куда-нибудь»
Sinh viên B nhận được yêu cầu «Как вы откажете от приглашения,
если вы
ещё не прочитали текст?»
Hai sinh viên A và B sẽ có một đoạn hội thoại nhỏ trực tiếp sử dụng các
cấu trúc hỏi đáp, giải thích lí do. Sau đấy giáo viên có thể hỏi lại các sinh viên
trong lớp nội dung của đoạn hội thoại để ôn lại kĩ năng chia động từ các ngôi,
đồng thời kiểm tra khả năng tập trung và nghe hiểu. Đồng thời, nếu phát hiện
sinh viên mắc các l
ỗi phát âm hay ngữ pháp, giáo viên có thể chữa trực tiếp
hoặc yêu cầu cả lớp cùng phát hiện và chữa lỗi.
Hoặc để đồng thời phát triển kĩ năng giao tiếp với việc rèn luyện và phát
triển tư duy logic của sinh viên giáo viên có thể đưa ra yêu cầu cao hơn với
yêu cầu bài tập đặt ra. Ví dụ: trong bài tập chỉ yêu cầu “Hãy nhìn các hình vẽ
và nói những người này đi đâu và đến chỗ ai?”. Giáo viên yêu cầu sinh viên
hãy dự
a vào các mỗi hình vẽ để đặt thành một câu chuyện nhỏ hoặc tuỳ theo
chuỗi hình vẽ có thể đặt một câu chuyện. Như vậy sinh viên sẽ hứng thú và
tích cực hơn trong giờ học và tham gia vào hoạt động lời nói nhiều hơn.
Để khắc phục tình trạng học vẹt một cách máy móc mà sinh viên đã có
trong những năm học phổ thông, khi dạy các bài khoá quan trọng về văn hoá
hay đất nước học như v
ề các thành phố nổi tiếng Matxcơva, Xanh Pêtecbua
hay trường Đại học Tổng hợp Lomonosov… Sau khi sinh viên đọc kỹ bài
khoá giáo viên nên yêu cầu họ gập sách lại và trả lời các câu hỏi ở dạng dàn ý
bằng lời của mình.
III. Một số gợi ý để phát triển phương pháp giao tiếp
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
12
1. Làm việc nhóm: chia sinh viên thành các nhóm nhỏ (3-4 em) và giao
các bài tập như tìm hiểu về tục lệ đón năm mới, lễ Phục Sinh, Giáng Sinh tại
Nga hoặc các nước nói tiếng Nga và thuyết trình trước lớp. Chúng ta thường
ít áp sụng phương pháp này khi giảng dạy năm thứ nhất vì e ngại bài tập sẽ quá
khó cho các em. Nhưng thực tế, những dạng bài tập nhóm như thế này sẽ giúp
các em tăng khả năng nghiên cứu, làm việc chủ độ
ng, phát triển kĩ năng thuyết
trình cho sinh viên ngay từ năm thứ nhất.
2. Chữa bài viết tập thể: Thông thường, chúng ta thường giao bài viết
luận nhỏ cho sinh viên tại lớp và thu, chữa bài cho từng cá nhân. Để thay đổi,
chúng ta có thể yêu cầu các em đổi chéo bài, tự chữa cho bạn mình những chỗ
tự các em cảm thấy chưa đúng. Sau đó chúng ta có thể tổng hợp lỗi sai chung
và rút kinh nghiệm cho tập thể chứ không chỉ qua từ
ng bài viết cá nhân. Đây
cũng là phương pháp giúp các em trau dồi ngữ pháp và kĩ năng viết rất tốt,
đang được áp dụng nhiều hiện nay.
3. Đối với sinh viên đầu vào Anh Nga chúng ta có thể áp dụng phương
pháp học ngoại ngữ song song. Đa số các giáo viên trong khoa đều có bằng
cấp và giảng dạy tiếng Anh. Với một số bài tập, cấu trúc đơn giản, chúng ta có
thể khuyến khích sinh viên bằng cách cho các em thử dịch sang tiếng Anh để

các em cảm thấy vốn tiếng Anh học ở phổ thông không bị lãng phí. Thực tế
các giáo trình đào tạo cho bậc dự bị đại học ở Nga và Ucraina đều có phần
thống kê từ vựng hoạc ngữ pháp đơn giản bằng tiếng Anh và tiếng Trung để
sinh viên có thể tăng cường vốn ngoại ngữ của mình bên cạnh tiếng Nga (tham
khảo giáo trình dạy dự bị của trường Đại họ
c tổng hợp Lomnosov, trường Đại
học tổng hợp Shevchenko, trường Bách khoa quốc gia Kiev).
4. Các hoạt động ngoại khóa: Chúng ta có đoàn thanh niên và hội sinh
viên cộng với một số lượng giáo viên trẻ nhiệt tình, được đào tạo bài bản, quan
trọng các hoạt động cần được đưa ra hợp lí chứ không mang tính hình thức.
Giả sử chúng ta tổ chức xem phim mà chỉ chiếu phim sinh viên không hiểu và
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
13
sẽ không tham gia. Nhưng nếu xem phim mà có giáo viên hướng dẫn, ngắt
thành các đoạn nhỏ để thảo luận, hay hướng dẫn về từ mới và một số cấu trúc
hay sử dụng. Trong giảng dạy, đây được gọi là phương pháp sử dụng ngôn ngữ
sống, hay ngôn ngữ trực tiếp (использованием живого языка), vì phim chính
là cuộc sống. Sách giáo khoa về cơ bản chỉ cho các em một lượng kiến thức
nhất đinh, nhưng phim hay các chương trình truyền thanh, truyền hình mới
chính là nơi để các em thấy kiến thức các em học được sử dụng thế nào.
IV. Kết luận
Những giá trị nhân bản sâu sắc của nền văn hóa và văn học Nga đang không
ngừng để chuyển đổi và lớn mạnh. Những sự kiện trong hai thập kỷ qua đã
khẳng định tính trường tồn, sức mạnh vô t
ận và giá trị quý báu của một trong
những nền văn hóa lớn nhất thế giới, của một trong những thứ tiếng thấm
đượm tình yêu thương và sức biểu đạt của loài người. Là những người có trách
nhiệm truyền bá và phát triển nền văn hóa và ngôn ngữ ấy, chúng ta cũng cần
có những thay đổi hợp lí và kịp thời trong phương pháp giảng dạy để không
chỉ duy trì và truyền bá các giá trị văn hóa Nga tạ
i Việt Nam mà quan trọng là
đào tạo được một đội ngũ giáo viên, biên, phiên dịch có trình độ chuyên môn
đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội. Chỉ có như vậy chúng
ta mới có thể thu hút được ngày càng nhiều số sinh viên vào học tiếng Nga,
góp phần vào sự phát triển của khoa Nga và trường Đại học Hà Nội, đồng thời
góp phần vào việc gìn giữ và phát triển tình hữư nghị truyền thống, lâu đời
giữa hai dân t
ộc.
Tài liệu tham khảo
1. Костомаров, В.Г. & O.D.Митрофанова 1982. Учебный принцип активной
коммуникативности в обучении русскому языку иностранцев. Russian Language
Journal, Vol.36, No. 125. 7-23.
2. Костомаров, В.Г. & O.D.Митрофанова 1990. Методика преподавания русского
языка как иностранного. Русский язык и литература в общении народов мира.
Проблемы функционирования и преподавания. VII международный конгресс
MAPRAL. Москва: Русский язык
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
14
3. Bragger, Jeannette D. 1985. "Materials Development for the Proficiency-Oriented
Classroom". James, Charles, ed. Foreign Language Proficiency in the Classroom and
Beyond. Lincolnwood, Illinois: National Textbook Co., 79-115.
4. Canale, Michael, and MerrillS wain. 1980. "Theoretical Bases of Communicative
Approaches to Second Language Teaching and Testing". Applied Linguistics, 1-47.
5. Tiếng Nga rất cần thiết cho ngành du lịch.
http://www.truongngoaingu.vn/TinTuc/NewsDetail/tabid/265/newsid/364/seo/Tieng-Nga-
rat-can-thiet-cho-nganh-du-lich/Default.aspx
6. Người Mỹ thích học tiếng Nga? http://timkhoahoc.com/tin-tuc/tintuc-8530/Nguoi-My-
thich-hoc-tieng-Nga.aspx
7. Người SNG nói bằng tiếng Nga.
http://www.truongngoaingu.vn/TinTuc/NewsDetail/tabid/265/newsid/361/seo/Nguoi-SNG-
noi-bang-tieng-Nga/Default.aspx

 
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
15
CÓ GÌ HỨNG THÚ TRONG MỘT GIỜ HỌC
TIẾNG NGA THEO HÌNH THỨC CẶP – NHÓM?

ThS-GVC: Trương Thanh Xuân
Bộ môn Thực hành tiếng Nga

Trong quá trình giảng dạy nhiều năm ở tổ bộ môn Thực hành tiếng, nhất
là những năm gần đây khi làm việc với giáo trình “Дорога в Россию” theo
phương pháp giao tiếp tích cực, chúng tôi thấy rằng một giờ học tiếng Nga
thực sự gây hứng thú nếu động viên được tất cả thành viên trong lớp cùng
tham gia – điều này rất khó khăn đố
i với đối tượng sinh viên khoa Nga với đầu
vào thấp, đặc biệt là sinh viên khối Anh-Nga – những sinh viên lần đầu làm
quen với thứ tiếng mới, khó và “đáng sợ”.
Từ kinh nghiệm giảng dạy cho thấy cách dạy-học theo cặp, theo nhóm
đối với các bài hội thoại, tình huống và bài khoá mang lại hiệu quả tốt.
Thực hiện các hoạt động lời nói theo cặp (là cứ 2 sinh viên thực hiện
cùng nhau một hoạt động lờ
i nói; cặp sinh viên do giáo viên lựa chọn nên theo
nguyên tắc khả năng tương đối ngang bằng, tránh một sinh viên nói trôi chảy
đi kèm với một sinh viên kém, khi đó, sinh viên nói trôi chảy gần như độc
thoại, còn sinh viên kia sẵn sàng để bạn mình trình diễn) nói chung khá dễ
dàng vì cả hai cùng được tham gia: một người nói, người kia nghe và phản
ứng. Nếu trong một buổi học có nhiều hội thoại thì các cặp nên thay đổi người,
tránh nhàm chán, tạo cơ hội hoà đồng với nhau. Khi sinh viên nói, tôi cố g
ắng
ghi nhớ các lỗi sai ngữ âm, ngữ pháp, cách dùng từ… điển hình để sau đó ghi
lên bảng cho các em thấy sai ở đâu và chữa như thế nào, tuyệt đối không ngắt
lời khi sinh viên đang nói, dễ gây lúng túng, lo lắng và khó kết thúc lời nói của
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
16
mình. Trong giáo trình năm thứ nhất đang giảng dạy có rất nhiều hội thoại, tình
huống, nên việc áp dụng cách học theo cặp rất có lợi và mang lại hiệu quả.
Trong bài viết này, chúng tôi muốn dành nhiều thời gian hơn chia sẻ
kinh nghiệm dạy-học theo nhóm đối với những bài khoá dài (chủ yếu cuối
phần “Базовый уровень” và phần “Первый уровень”).
Làm việc theo nhóm không bao giờ là một việc dễ dàng, bởi vì mỗ
i cá
nhân có cách nhìn nhận, năng lực, kỹ năng khác nhau và luôn mong muốn
đóng góp tích cực cho nhóm của mình, vì vậy cơ hội được phát biểu và sự góp
phần của mỗi thành viên nên phân chia bình đẳng. Một nhóm hoạt động có
hiệu quả là biết xác định rõ nhiệm vụ của mình, lựa chọn đúng người đúng
việc; ai cũng có quyền phát biểu quan điểm và những người khác có nghĩa vụ
lắng nghe. Đôi khi nảy sinh bấ
t đồng ý kiến, nhưng điều đó là tốt, nếu không
sẽ chỉ có một người duy nhất trong nhóm làm tất cả mọi việc. Tuy nhiên, sự
tranh cãi hay không tán thành phải được kiểm soát. Mỗi cá nhân có trách
nhiệm thực hiện tốt phần việc được giao và giúp đỡ những thành viên khác.
Giáo viên cần lưu ý sắp xếp vị trí ngồi của từng nhóm sao cho thuận tiện
trong việc giao tiếp, để mọi thành viên của nhóm dễ dàng quan sát và trao đổ
i
ý kiến với nhau.
Một việc nữa không kém phần quan trọng đó là lời nhận xét của giáo
viên – chính là phân tích nhấn mạnh điểm được/chưa được trong phần trình
bày của mỗi nhóm. Nếu phê bình đúng thì người học sẽ đánh giá cao những
những nhận xét và quan điểm của giáo viên và qua đó họ có cơ hội để học hỏi,
rút kinh nghiệm từ những lỗi sai của chính mình và của bạn bè mình.
Tóm lại, hiểu được tâm lý của người học trong quá trình giảng dạy là
một việc vô cùng quan trọng tạo nên hiệu quả cho một buổi học.
Dưới đây là những việc làm cần thiết trong việc dạy-học theo nhóm (qua
kinh nghiệm bản thân) cho một bài khoá dài (khoảng 500 ÷ 800 từ) trong phần
cuối cuốn “Дорога в Россию” - Базовый уровень và Первый уровень.
Hội nghị Khoa học giáo viên, 19-5-2011
 
Khoa tiếng Nga – Trường Đại học Hà Nội
17
1. Sinh viên thực hiện bài tập trước bài khoá (thường là một bài) có sự
hướng dẫn của giáo viên.
2. Giáo viên đọc bài khoá, giải thích từ, cụm từ, câu khó. Không dịch cả
bài khoá.
3. Giáo viên chia lớp thành các nhóm (mỗi nhóm gồm 3 ÷ 4 sinh viên).
4. Giáo viên chia bài khoá thành từng phần dựa theo nội dung, giao cho
từng nhóm (nói rõ nhiệm vụ của từng sinh viên: hoặc đặt câu hỏi,
hoặc tóm tắt nội dung…).
5. Sinh viên mỗi nhóm chuẩn bị phần của mình. Giáo viên đến t
ừng
nhóm quan sát và trợ giúp nếu sinh viên yêu cầu.
6. Các nhóm lần lượt trình bày.
7. Giáo viên tổng kết.
Việc phân chia thời gian cho mỗi việc làm nói trên cần được tính toán
hợp lý. Để minh chứng cho điều này tôi lấy ví dụ cụ thể bằng một bài khoá
thuộc Урок 6, trang 198 – 202 tựa đề: Москва – Красная площадь. Theo lịch
trình sẽ có 2 bài tập, gồm: bài 20 – bài tập trước bài khoá và bài 21 – bài khoá
được thực hiện trong khoảng thời gian 90 phút (2 tiết h
ọc).
1. Bài tp 20 (bài tp trc bài khoá):                                     10 phút 
2. Giáo viên đc, gii thích…:                                                    15 phút 
3. Giáo viên chia lp thành 5 nhóm:     5 phút 
4. Giáo  viên  chia  bài  khoá  thành  5  phn,  giao  cho  5 
nhóm, nói rõ công vic phi làm 
ca tng thành viên 
mi nhóm:        
10 phút 
 
5. Các nhóm làm vic, sau khong 5 ÷ 7 phút giáo viên 
đn tng nhóm quan sát và h tr  nu cn thit:          
15 phút 
6. Các nhóm ln lt trình bày (mi nhóm 3 ÷ 4 phút). 
Mt sinh viên
 trình bày tóm tt ni dung chính, mt 
 20 ÷ 25 phút 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét