Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tăng cường công tác quản lý nguyên vật liệu tại cty Vật liệu XD Bưu Điện Hà Nội

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
nhất định. Căn cứ vào nội dung kinh tế, vai trò của chúng trong quá trình sản xuất
kinh doanh và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp thì nguyên vật liệu được chia
thành:
- Nguyên vật liệu chính (bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài). Đối với các
doanh nghiệp sản xuất nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu
thành nên thực thể chính của sản phẩm như sắt, thép chế tạo nên máy cơ khí, xây
dựng cơ bản Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trinh
sản xuất sản phẩm ví dụ như sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng
được gọi là nguyên vật liệu chính.
- Nguyên vật liệu phụ: cũng là đối tượng lao động nhưng chỉ có tác dụng phụ
trong quá trình sản xuất được sử dụng cùng với nguyên vật liệu chính để làm thay
đổi một số tính chất lí hoá của nguyên vật liệu chính (hình dáng, màu sắc, mùi
vị ) hoặc phục vụ hoạt động của các tư liệu lao động, phục vụ cho lao động của
công nhân viên chức, phục vụ cho công tác quản lý.
- Nguyên vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất, chế
tạo sản phẩm như gỗ, sắt, thép vụn hay phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình
thanh lý tài sản cố định.
Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý mà từng loại nguyên vật liệu lại được chia thành
từng nhóm, từng thứ quy cách một cách chi tiết, cụ thể hơn. Việc phân loại cần
lập thành sổ danh điểm cho từng thứ vật liệu, trong đó mỗi nhóm được sử dụng
một ký hiệu riêng.
1.2 Bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
1.2.1 Công tác bảo đảm, quản lý nguyên vật liệu.
1.2.1.1 Bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.
1.2.1.1.1 Các quan điểm và chỉ tiêu đánh giá nguyên vật liệu trong sản xuất.
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Như chúng ta đã biết nguyên vật liệu là một trong ba yếu tố cấu thành của quá
trình sản xuất (sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động), nội dung cơ
bản của đối tượng lao động là nguyên vật liệu. Nếu xét về mặt vật chất thì
nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chất lượng sản
phẩm. Chất lượng của nguyên vật liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản
phẩm. Xét về mặt giá trị thì tỷ trọng các yếu tố nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu giá thành. Còn xét về lĩnh vực vốn thì tiền bỏ ra mua nguyên vật liệu
chiếm tỷ trọng lớn trong vốn lưu động của các doanh nghiệp. Do đó, việc đảm
bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là yêu cầu cấp bách đặt ra đối với mọi đơn vị
sản xuất kinh doanh. Để đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất phải thực hiện
tốt các yêu cầu sau:
- Đảm bảo cung cấp kịp thời nguyên vật liệu cho sản xuất. Tính kịp thời là yêu
cầu về mặt lượng của sản xuất. Phải luôn đảm bảo để không xảy ra tình trạng
thiếu nguyên vật liệu làm cho sản xuất bị gián đoạn.
- Đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, chủng loại và quy cách của nguyên vật
liệu. Tính kịp thời phải gắn liền với đủ về số lượng và đúng về chất lượng. Đây
là một yêu cầu của công tác phục vụ. Nếu cung cấp kịp thời nhưng thừa về số
lượng và chất lượng không đảm bảo thì hiệu quả sản xuất sẽ không cao. Về mặt
quy cách và chủng loại cũng là yếu tố quan trọng, nếu cung cấp kịp thời, đủ số
lượng, đảm bảo chất lượng nhưng sai quy cách và chủng loại sẽ gây nhiều thiệt
hại cho sản xuất, thậm chí sản xuất còn bị gián đoạn.
- Đảm bảo cung cấp đồng bộ. Tính đồng bộ trong cung cấp cũng có ý nghĩa
tương tự như tính cân đối trong sản xuất. Tính đồng bộ hoàn toàn không phải là
sự bằng nhau về số lượng mà đó chính là quan hệ tỷ lệ do định mức tiêu hao
nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm quyết định. Ví dụ định mức tiêu hao
nguyên liệu để sản xuất một máy tiện T616 thì cần 2188 Kg gang, 540 Kg thép
và 0,4 Kg kim loại màu. Như vậy, nếu sản xuất 10 máy thì đòi hỏi phải cung cấp
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
21880 kg gang, 5400 kg thép và 4 kg kim loại màu mới đảm bảo tính đồng bộ.
Nếu cung cấp không đồng bộ (tức là không đảm bảo quan hệ tỷ lệ) thì sản xuất
sẽ không mang lại hiệu quả cao. Tính đồng bộ trong cung ứng được thể hiện qua
nội dung của kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu.
1.2.1.1.2 Vai trò của công tác bảo đảm nguyên vật liệu trong sản xuất.
Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là một nội dung quan trọng trong
công tác quản lý doanh nghiệp. Thước đo để đánh giá trình độ bảo đảm nguyên
vật liệu trong sản xuất chính là mức độ đáp ứng của 3 yêu cầu: cung cấp kịp
thời, đảm bảo đủ số lượng, chất lượng, quy cách, chủng loại và cung cấp đồng
bộ.
Việc đảm bảo nguyên vật liệu đầy đủ, đồng bộ, kịp thời là điều kiện tiền đề
cho sự liên tục của quá trình sản xuất, cho sự nhịp nhàng đều đặn của quá trình
sản xuất. Đó chính là cơ sở để tăng năng suất lao động, tăng sản lượng, đáp ứng
ngày càng đầy đủ yêu cầu của thị trường về mặt số lượng. Bất cứ một sự không
đầy đủ, kịp thời và đồng bộ nảo của nguyên vật liệu đều có thể gây ra ngừng trệ
sản xuất, gây ra sự vi phạm các quan hệ kinh tế đã được thiết lập giữa các doanh
nghiệp với nhau, gây ra sự tổn thất trong sản xuất kinh doanh.
Nguyên vật liệu được đảm bảo sử dụng hợp lý và tiết kiệm góp phần quan
trọng vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp duy trì và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, nhờ đó mà tăng
doanh thu, tăng quỹ lương và đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được
cải thiện.
Đảm bảo nguyên vật liệu trong sản xuất là vấn đề quan trọng để đưa các mặt
quản lý đi vào nề nếp và đạt hiệu quả cao như quản lý lao động, định mức, quỹ
lương, thiết bị, vốn Đảm bảo sản xuất kinh doanh có lợi, tăng khả năng sinh lời
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
của vốn, thực hiện tốt các yêu cầu của quy luật tái sản xuất mở rộng bằng con
đường tích tụ vốn.
Như vậy, công tác bảo đảm trong sản xuất có một vai trò hết sức quan trọng
trong quá trình sản xuất. Việc đảm bảo này ảnh hưởng đến năng suất của doanh
nghiệp, đến chất lượng sản phẩm, đến việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm đầu tư,
đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và
sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.
1.2.1.1.3 Nội dung của công tác đảm bảo nguyên vật liệu.
• Lập kế hoạch mua nguyên vật liệu:
Kế hoạch mua sắm nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng của kế hoạch sản
xuất-kĩ thuật-tài chính của doanh nghiệp. Trong mối quan hệ này, kế hoạch mua
sắm nguyên vật liệu bảo đảm yếu tố vật chất để thực hiện các kế hoạch khác, còn
các kế hoạch khác là căn cứ để xây dựng mua sắm nguyên vật liệu. Kế hoạch
mua sắm nguyên vật liệu ảnh hưởng tới hoạt động dự trữ, tiêu thu, kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Trước hết phải xác định lượng vật liệu cần dùng. Lượng vật liệu cần dùng là
lượng vật liệu được sử dụng một cách hợp lý và tiết kiệm trong kỳ kế hoạch
(thường là 1 năm). Lượng vật liệu cần dùng phải đảm bảo hoàn thành kế hoạch
sản xuất sản phẩm cả về mặt hiện vật và giá trị, đồng thời cũng phải tính đến nhu
cầu vật liệu cho chế thử sản phẩm mới, tự trang tự chế, sửa chữa máy móc thiết
bị Lượng vật liệu cần dùng được tính toán cụ thể cho từng loại theo quy cách,
cỡ loại của nó ở từng bộ phận sử dụng, sau đó tổng hợp lại cho toàn doanh
nghiệp. Khi tính toán phải dựa trên cơ sở định mức tiêu dùng nguyên vật liệu
cho một sản phẩm, nhiệm vụ sản xuất, chế thử sản phẩm mới và sửa chữa trong
kỳ kế hoạch. Tuỳ thuộc vào từng loại nguyên vật liệu, từng loại sản phẩm, đặc
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
điểm kinh tế kĩ thuật của doanh nghiệp mà vận dụng phương pháp tính toán
thích hợp.
Lượng nguyên vật liệu chính cần dùng được tính theo công thức:
Vcd = Σ [(Si*Dvi)(1+Kpi)(1-Kdi)]
Trong đó:
Vcd: lượng vật liệu cần dùng.
Si: số lượng sản phẩm loại i kỳ kế hoạch.
Dvi: định mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm loại i.
Kdi: tỷ lệ phế liệu dùng lại loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.
Kpi: tỷ lệ phế phẩm cho phép loại sản phẩm i kỳ kế hoạch.
- Xác định lượng nguyên vật liệu dự trữ. Để đảm bảo cho quá trình tiến hành
được liên tục, hiệu quả đói hỏi phải có một lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý.
Lượng nguyên vật liệu dự trữ (còn gọi là định mức dự trữ nguyên vật liệu) là
lượng nguyên vật liệu tồn kho cần thiết được quy định trong kỳ kế hoạch để đảm
bảo cho quá trình sản xuất được tiến hành liên tục và bình thường. Căn cứ vào
tính chất, công dụng, nguyên vật liệu dự trữ được chia thành ba loại: dự trữ
thường xuyên, dự trữ theo mùa và dự trữ bảo hiểm.
+ Lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên là lượng nguyên vật liệu cần thiết
tối thiểu để đảm bảo cho sản xuất tiến hành bình thường giữa hai lần mua sắm
nguyên vật liệu.
Công thức xác định:
Vdx = Vn*tn
Trong đó:
Vdx: lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên lớn nhất.
Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.
tn: thời gian dự trữ thường xuyên.
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Lượng nguyên vật liệu dùng bình quân tuỳ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp
còn thời gian dự trữ tuỳ thuộc vào thị trường mua, nguồn vốn lưu động và độ dài
của chu kỳ sản xuất.
+ Lượng nguyên vật liệu dự trữ bảo hiểm: là lượng nguyên vật liệu cần thiết tối
thiểu để đảm bảo cho sản xuất được tiến hành bình thường.
Công thức xác định:
Vdb = Vn*N.
Trong đó:
Vdb: lượng vật liệu dự trữ bảo hiểm.
Vn: lượng nguyên vật liệu cần dùng bình quân một ngày đêm.
N: số ngày dự trữ bảo hiểm.
Số ngày dự trữ bảo hiểm được tính bình quân, số ngày lỡ hẹn mua trong năm.
+ Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa: trong thực tế có những loại nguyên
vật liệu chỉ mua được theo mùa như mía cho doanh nghiệp đường, trái cây cho
doanh nghiệp thực phẩm đồ hộp Hoặc có những loại nguyên vật liệu vận
chuyển bằng đường thuỷ, mùa mưa bão không vận chuyển được thì cũng phải dự
trữ theo mùa.
Công thức xác định:
Vdm = Vn*tm.
Trong đó:
Vdm : Lượng nguyên vật liệu dự trữ theo mùa .
Vn : Lượng nguyên vật liệu tiêu hao bình quân .
Tm : Số ngày dự trữ theo mùa .
Xác định lượng nguyên vật liệu cần mua để làm cơ sở cho việc xây dựng kế
hoạch vốn lưu động, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính toán chính xác lượng
nguyên vật liệu cần mua sắm trong năm. Lượng nguyên vật liệu cần mua sắm
trong năm phụ thuộc vào ba yếu tố:
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Lượng nguyên vật liệu cần dùng (Vcd).
Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ (Vd1).
Lượng nguyên vật liệu dự trữ cuối kỳ (Vd2).
Công thức xác định:
Vc = Vcd + Vd2 – Vd1
Với Vc là lượng nguyên vật liệu cần mua. Lượng nguyên vật liệu dự trữ đầu kỳ
được tính theo công thức:
Vd1 = (Vk+Vnk)-Vx.
Trong đó
Vk là lượng nguyên vật liệu tồn kho ở thời điểm kiểm kê.
Vnk: lượng nhập kho từ sau kiểm kê đến cuối năm báo cáo.
Vx: lượng xuất cho các đơn vị sản xuất từ sau kiểm kê đến cuối năm báo
cáo.
Đối với các doanh nghiệp không có dự trữ theo mùa, lượng nguyên vật liệu dự
trữ cuối năm kế hoạch chính là lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên và
lượng nguyên vật liệu bảo hiểm.
- Xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu.
Sau khi đã xác định được lượng nguyên vật liệu cần dùng, cần dự trữ và cần
mua trong năm, bước tiếp theo là phải xây dựng kế hoạch tiến độ mua. Thực
chất của kế hoạch này là xác định số lượng, chất lượng, quy cách và thời điểm
mua của mỗi lẫn. Khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu phải
căn cứ trên các nguyên tắc sau:
+ Không bị ứ đọng vốn ở khâu dự trữ.
+ Luôn đảm bảo lượng dự trữ hợp lý về số lượng chất lượng và quy cách.
+ Góp phần nâng cao các chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn.
+ Khi tính toán phải tính riêng cho từng loại, mỗi loại tính riêng cho từng thứ.
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Xuất phát từ những nguyên tắc trên, khi xây dựng kế hoạch tiến độ mua sắm
phải dựa vào các nội dung sau:
+ Kế hoạch tiến độ sản xuất nội bộ.
+ Hệ thống định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm.
+ Các hợp đồng mua bán vật tư và giao nộp sản phẩm cho khách hàng.
+ Mức độ thuận tiện và khó khăn của thị trường mua, bán vật tư.
+ Các chỉ tiêu của kế hoạch mua nguyên vật liệu trong năm.
+ Phương tiện vận chuyển và phương thức thanh toán.
+ Hệ thống kho tàng hiện có của đơn vị.
Phương pháp xây dựng tiến độ mua sắm: Với nội dung kế hoạch tiến độ đã trình
bày ở trên, việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch được thực hiện theo 2 phương
pháp:
• Đối với các loại nguyên vật liệu đã có định mức tiêu hao thì tính trực tiếp:
Lấy số lượng sản phẩm nhân với định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một
đơn vị sản phẩm đó.
• Đối với những loại nguyên vật liệu chưa xây dựng được định mức thì dùng
phương pháp tính gián tiếp. Lấy mức tiêu hao kỳ trước làm gốc nhân với tỷ lệ
tăng sản lượng của kỳ cần mua sắm.
* Tiến hành mua nguyên vật liệu.
Sau khi có kế hoạch tiến độ mua sắm nguyên vật liệu, công tác mua và vận
chuyện về kho của doanh nghiệp do phòng vật tư (thương mại hoặc kinh doanh)
đảm nhận. Giám đốc hoặc các phân xưởng có thể ký các hợp đồng với phòng vật
tư về việc mua và vận chuyển nguyên vật liệu. Hợp đồng phải được xác định rõ
số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách mua, giá và thời gian giao nhận. Hai
bên phải chịu bồi thường về vật chất nếu vi phạm hợp đồng. Phòng vật tư chịu
trách nhiệm cùng cấp kịp thời, đầy đủ, đảm bảo chất lượng cho các đơn vị sản
xuất. Nếu vì lý do gì đó không cung cấp kịp, phòng vật tư phải báo cáo với giám
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
đốc từ 3 đến 5 ngày để có biện pháp xử lý. Phòng vật tư làm tốt hoặc không tốt
sẽ được thưởng hoặc phạt theo quy chế của doanh nghiệp.
1.2.2 Công tác quản lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp:
Việc quản lý nguyên vật liệu là cần thiết khách quan của mọi nền sản xuất xã
hội. Tuy nhiên, do trình độ sản xuất khác nhau nên phạm vi, mức độ và phương
pháp quản lý nguyên vật liệu cũng khác nhau. Làm thế nào để cùng một khối
lượng nguyên vật liệu có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất thoả mãn nhu cầu
ngày càng cao của khách hàng. Việc quản lý nguyên vật liệu có hiệu quả hay
không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trách nhiệm của cán bộ quản lý. Để
quản lý nguyên vật liệu một cách có hiệu quả còn phải xem xét trên các khía
cạnh sau:
1.2.2.1 Tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu.
Tiếp nhận nguyên vật liệu là một khâu quan trọng và là khâu mở đầu của việc
quản lý. Nó là bước chuyển giao trách nhiệm trực tiếp bảo quản và đưa vật liệu
vào sản xuất giữa đơn vị cung ứng và đơn vị tiêu dùng. Đồng thời nó là ranh giới
giữa bên bán và bên mua, là cơ sở hạch toán chính xác chi phí lưu thông và giá
cả nguyên vật liệu của mỗi bên. Việc thực hiện tốt khâu này sẽ tạo điều kiện cho
người quản lý nắm chắc số lượng, chất lượng và chủng loại, theo dõi kịp thời
tình trạng của nguyên vật liệu trong kho từ đo làm giảm những thiệt hại đáng kể
cho hỏng hóc đổ vỡ, hoặc biến chất của nguyên vật liệu. Do tính cấp thiết như
vậy, tổ chức tiếp nhận nguyên vật liệu phải thực hiện tốt hai nhiệm vụ:
Một là, tiếp nhận một cách chính xác về chất lượng, số lượng, chủng loại
nguyên vật liệu theo đúng nội dung, điều khoản đã ký kết trong hợp đồng kinh
tế, trong hoá đơn, phiếu giao hàng, phiếu vận chuyển
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Hai là, phải vận chuyển một cách nhanh chóng nhất để đưa nguyên vật liệu từ
địa điểm tiếp nhận vào kho của doanh nghiệp tránh hư hỏng, mất mát và đảm
bảo sẵn sàng cấp phát kịp thời cho sản xuất.
Để thực hiện tốt hai nhiệm vụ này công tác tiếp nhận phải tuân thủ những yêu
cầu sau:
- Nguyên vật liệu khi tiếp nhận phải có đầy đủ giấy tờ hợp lệ tuỳ theo nguồn
tiếp nhận khác nhau trong ngành, ngoài ngành hay trong nội bộ doanh
nghiệp.
- Nguyên vật liệu khi nhập phải qua đủ thủ tục kiểm nhận và kiểm nghiệm.
Phải xác định chính xác số lượng, chất lượng, chủng loại hoặc phải làm thủ
tục đánh giá, xác nhận nếu có hư hỏng mất mát.
- Nguyên vật liệu sau khi tiếp nhận sẽ được thủ kho ghi số thực nhập và người
giao hàng cùng với thủ kho ký vào phiếu nhập kho. Phiếu nhập kho sẽ được
chuyển cho bộ phận kế toán ký nhận vào sổ giao nhận chứng từ. Trong cơ
chế mới, các doanh nghiệp được phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh
doanh.
Bên doanh nghiệp và bên cung ứng phải thống nhất địa điểm tiếp nhận, cung
ứng thẳng hay qua kho của doanh nghiệp. Những vật tư mẫu theo kế hoạch hoặc
hợp đồng đặt hàng thì theo quy định “ Những xí nghiệp có nhu cầu vật tư ổn
định, trước hết là những hộ tiêu thụ lớn được nhân thẳng hợp đồng dài hạn về
mua bán vật tư “.
1.2.2.2. Tổ chức quản lý kho :
Kho là nơi tập trung dự trữ nguyên vạt liệu , nhiên liệu , thiết bị máy móc ,
dụng cụ chuẩn bị cho quá trình sản xuất , đồng thời cũng là nơi thành phẩm của
công ty trước khi tiêu thụ.Do tính chất đa dạng và phức tạp của nguyên vật liệu
nên hệ thống kho của doanh nghiệp phải có nhiều loại khác nhau phù hợp với
SV: Ph¹m ThÞ Kim Th - Q8T2
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét