5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Kể từ khi có sự trao đổi hàng hoá, quá trình sản xuất kinh doanh của bất kỳ cơ
sở, doanh nghiệp nào không những gắn liền với tiềm lực của bản thân cơ sở,
doanh nghiệp đó mà còn chòu ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài, và cả sự tác
động của các doanh nghiệp bên ngoài, hơn nữa là trong thế kỷ XXI này thì việc
đa phương hoá trong mậu dòch đã làm cho môi trường kinh doanh đã phức tạp
ngày càng phức tạp hơn, và đầy những yếu tố mang tính cạnh tranh khắc nghiệt
hơn: về giá cả; về chất lượng; về tính kòp thời; về mẫu mã đa dạng của những
đối thủ cạnh tranh với tiềm lực mạnh mẽ hơn
Trãi qua hàng thập kỷ, những nhà sản xuất kinh doanh thành công hàng đầu thế
giới đã rút ra nhận đònh sau: “Dù trãi qua các thời kỳ khác nhau thì thứ tự ưu tiên
về cạnh tranh luôn thể hiện là giá cả hợp lý; chất lượng và giao hàng đúng lúc”.
Nhận đònh trên càng được khẳng đònh thông qua kết quả nghiên cứu của Đại học
Boston trong 10 năm đối với 212 công ty tại Mỹ là: 1 sản phẩm khi đưa ra thò
trường thì đóng vai trò quan trọng là giá cả hợp lý, chất lượng đảm bảo, tính kòp
thời của sản phẩm đối với nhu cầu của khách hàng.
Do đó, nếu doanh nghiệp biết cách áp dụng linh hoạt các hệ thống quản lý hợp
lý với điều kiện thực tế của doanh nghiệp thì sẽ đạt được thành công. Một trong
các hệ thống quản lý về sản xuất quan trọng mà tôi đề cập ở đây là Hệ thống
quản lý chất lượng toàn diện (TQM), hệ thống quản lý đúng lúc (JIT); hệ thống
đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng (ISO)
Đối với ngành ắc quy, do tính đặc thù là thuộc loại sản phẩm công nghiệp mang
tính kỹ thuật cao, vì thế các khách hàng đòi hỏi chất lượng cao, kòp thời và nếu
không thoả mãn nhu cầu kòp thời thì dễ dàng xảy ra tình trạng khách hàng chọn
nhà cung cấp khác để đặt hàng. Một trong các giải pháp quan trọng để đảm bảo
tính kòp thời là áp dụng hệ thống sản xuất đúng lúc, đây chính là lý do mà tôi
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
6
chọn đề tài: Một số giải pháp hoàn thiện sản xuất ắc quy tại công ty pin ắc quy
miền Nam theo hệ thống sản xuất đúng lúc (Just In Time) và mong muốn đóng
góp một số giải pháp thiết thực để đảm bảo và nâng cao tính cạnh tranh của sản
phẩm ắc quy ở thò trường Việt Nam cũng như khu vực ASEAN.
2. Mục đích nghiên cứu, ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Từ những điểm nêu trên, mục đích của đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện sản
xuất ắc quy tại Công ty pin ắc quy miền Nam theo hệ thống sản xuất đúng lúc
(Just In Time) của Taiichi Ohno” là nhằm nghiên cứu Just In Time (JIT) và áp
dụng vào việc quản lý sản xuất ắc quy đạt hiệu quả cao.
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã nêu trên, luận văn có những nội dung
như sau:
+ Giới thiệu cơ sở lý luận của hệ thống sản xuất đúng lúc (JIT).
+ Nêu bật tầm quan trọng của việc áp dụng một số yếu tố chủ yếu của JIT trong
quản lý sản xuất ắc quy.
+ Giới thiệu các công cụ kỹ thuật khi áp dụng JIT vào quản lý sản xuất.
Thông qua đó đưa ra các giải pháp để từng bước hoàn thiện hệ thống sản xuất ắc
quy tại PINACO, nâng cao hiệu quả trong hệ thống sản xuất, hướng đến mục
tiêu giảm chi phí sản xuất, giữ vững uy tín trong chất lượng và giao hàng kòp
thời.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
+ Đối tượng nghiên cứu: là Công ty pin ắc quy miền Nam – PINACO
+ Phạm vi nghiên cứu: Ở Việt Nam hiện nay, số lượng công ty sản xuất và kinh
doanh pin và ắc quy có quy mô lớn chỉ đếm trên đầu ngón tay : như công ty ắc
quy Vónh Phú, công ty sản xuất ắc quy GS, công ty sản xuất Lê Long, còn lại là
những tổ hợp nhỏ, do đó việc nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống sản xuất ắc quy
tại Công ty pin ắc quy miền Nam cũng có thể xem là xây dựng những mô hình
thử nghiệm để áp dụng cho ngành sản xuất ắc quy tại Việt Nam.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
7
4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp hệ thống nhằm rút ra những điểm cơ
bản trong hệ thống sản xuất ắc quy của công ty PINACO. Bên cạnh đó, phương
pháp phân tích – tổng hợp được sử dụng để tìm ra những ưu khuyết của hệ thống
sản xuất hiện tại , và với những cơ sở lý luận cùng thực tiễn, thông tin, ý kiến
góp ý từ chính những người quản lý tại công ty để đưa ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống sản xuất theo triết lý JIT.
5. Bố cục luận văn :
+ Chương I : Cơ sơ lý luận của hệ thống sản xuất đúng lúc (Just In Time): mục
tiêu của hệ thống JIT, yếu tố cơ bản của hệ thống JIT, yêu cầu trong việc áp
dụng hế thống sản xuất theo JIT, cũng như những hạn chế của hệ thống sản xuất
đúng lúc (JIT).
+ Chương II: Giới thiệu tổng quan về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh tại
công ty PINACO và phân tích những điểm cơ bản trong hoạt động sản xuất kinh
doanh tại PINACO theo các yêu cầu của hệ thống sản xuất đúng lúc (JIT).
+ Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống sản xuất ắc quy tại công ty
pin ắc quy miền Nam – PINACO.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
8
CHƯƠNG I
NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC
(JUST IN TIME)
1.1 LÝ THUYẾT VỀ JUST IN TIME:
1.1.1 Lòch sử xuất hiện Just In Time:
Just In Time (JIT) là một phương pháp quản lý sản xuất của người Nhật, được
phát triển trong thập niên 70 của thế kỷ 20, được áp dụng đầu tiên bởi nhà máy
sản xuất xe ô tô Toyota do Taiicho Ohno với mục tiêu chính là đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ. Cũng do thành công trong việc áp dụng JIT, ông Taiicho Ohno được
xem là cha đẻ của JIT.
Sau đó, phương pháp quản lý JIT được các công ty khác áp dụng trong những
năm 70 vì phương pháp JIT đã hổ trợ cho rất nhiều công ty, nhà sản xuất .
Một trong những lý do tích cực cho việc phát triển JIT và những phương pháp kỹ
thuật sản xuất vượt trội hơn là:
Sau thế chiến thứ 2, người Nhật có một ý chí để phát triển kỹ thuật sản xuất tốt
hơn để nhằm giúp họ xây dựng lại nền tảng kinh tế, hơn nữa là họ có một ý chí
làm việc rất mạnh mẽ là dồn tâm trí tập trung vào công việc hơn là giải trí, họ
luôn tìm phương pháp hoàn thiện không ngừng sản xuất, trung thành với công ty
suốt đời, làm theo nhóm hơn là phát triển cá nhân để đạt mục tiêu đặt ra. Đây
cũng chính là những động lực chính để nền kinh tế Nhật đạt được thành công.
Thêm vào đó là do sự khó khăn, hạn chế về nguồn tài nguyên thiên nhiên và
nền kinh tế sụt giảm sau thế chiến thứ 2, các nhà sản xuất Nhật luôn tìm cách sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa chi
phí và chất lượng tốt nhất của sản phẩm làm ra.
Trước khi đưa ra JIT , trong cách quản lý sản xuất lúc bấy giờ có những tồn tại
mà theo Hirano Hiroyuki đó là những khuyết điểm trong tồn kho, thiếu sót trong
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
9
sản xuất, chi phí sản xuất tăng, sản xuất với số lượng lớn, giao hàng trễ, cụ thể
là:
Về tồn kho: do sản xuất với số lượng lớn, việc dự trữ vật tư, nguyên vật liệu hàng
ngày càng nhiều, ngoài việc quản lý chúng phức tạp và khó khăn, số lượng tồn
kho lớn sẽ làm tăng chi phí tồn trữ, làm chậm vòng quay vốn lưu động.
Chất lượng sản phẩm: do có những sai sót trong sản phẩm nên dễ đánh mất uy
tính với khách hàng, từ đó dễ dẫn đến mất khách hàng, vì thế cần phải tạo ra
một quy trình sản xuất “không lỗi”
Đa dạng hoá sản phẩm và sản xuất lô hàng nhỏ: để thu hút và đáp ứng mọi nhu
cầu đa dạng của khách hàng, nhưng mỗi loại hàng cần sản xuất với lô hàng nhỏ
để giảm bớt chi phí tồn kho, cần phải rút ngắn thời gian chuẩn bi máy. Muốn như
vậy, cần phải tìm mọi cách để giảm bớt thời gian chuẩn bò máy, để thực hiện
điều này cần tiến hành bằng nhiều cách khác nhau:
- Cơ khí hoá, tự động hoá quá trình chuẩn bò.
- Tiến hành chuẩn bò khi máy đang hoạt động.
- Thiết kế băng chuyền chuẩn bò sẵn theo thứ tư sản phẩm đinh lắp ráp, sản
xuất.
Cần tổ chức giao hàng đúng lúc: muốn thực hiện được điều này cần tổ chức một
hệ thống giao hàng theo từng nhóm khách hàng.
- Nhóm giao hàng cho khách hàng có số lượng lớn.
- Nhóm giao hàng cho khách hàng có yêu cầu hàng chất lượng cao.
- Nhóm giao hàng cho khách hàng đòi hỏi có tiến độ giao hàng gấp.
Các nhóm giao hàng này được phục vụ chuyên môn hoá cho những nhóm khách
hàng.
Như thế, hệ thống sản xuất đúng lúc (Just in Time) đã được phát triển dựa trên
những vấn đề trên.
1.1.2 Giới thiệu các giai đoạn của JIT:
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
10
Theo Hirano Hiroyuki, các giai đoạn mở đầu của JIT liên quan đến 5 giai đoạn
sau:
1.1.2.1 Nhận biết “Sự đổi mới” (“Cách mạng”): liên quan đến việc từ bỏ lý
thuyết quản lý cũ và tiếp nhận cách suy nghó của phương pháp JIT. Đó là những
cải tiến sau:
- Từ bỏ các khái niệm truyền thống trước đó.
- Giả sử là phương pháp mới vận hành có hiệu quả
- Không chấp nhận sự bào chữa cho hành động sai.
- Đó không là việc tìm kiếm sự hoàn hảo tuyệt đối, quá trình không có
sai sót luôn vận hành, một vài sai sót được chấp nhận.
- Sửa lỗi “ngay tức thì”
- Không chi phí nhiều cho việc cải tiến, việc sửa lỗi.
- Vận dụng tri thức để giải quyết trục trặc, vấn đề vấp phải.
- Suy nghó 5 lần trước khi quyết đònh, suy nghó kỹ trước khi quyết đònh.
- Thu thập nhiều thông tin, ý kiến là tốt nhất, một người suy nghó không
bằng nhiều người cùng làm.
- Luôn quan niệm là sự cải tiến thì không có giới hạn.
Với quan điểm trên, việc từ bỏ sản xuất theo lô hàng lớn là cần thiết và nên đổi
sang sản xuất theo số lượng ít là tốt hơn: “sản xuất với số lượng theo nhu cầu;
hàng hoá sản xuất ra đúng theo nhu cầu và thời gian giao hàng thích hợp” .
1.1.2.2 Cải tiến quá trình sản xuất theo 5S: Theo Hirano, 5S đại diện cho:
S – SEIRI: “Proper arrangement”: Sắp xếp phù hợp những gì mà nhà sản xuất
đang có, nhận biết nhu cầu và từ bỏ những gì không cần thiết.
S – SEITON: “Orderliness”: Sự ngăn nắp trong việc sắp xếp hàng hoá, hàng tồn
kho …trong sản xuất, trong văn phòng
S – SEISO: “Clearliness”: Sạch sẽ trong nơi làm việc, nơi sản xuất, công cụ, quá
trình sản xuất …
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
11
S – SEIKETSU: “Cleanup”: Dọn dẹp, lau sạch các thiết bò, bảo dưỡng máy
móc,…
S – SHITSUKE: “Discipline”: Tính kỷ luật trong việc tiến hành, áp dụng theo
các nội quy trong sản xuất, …
1.1.2.3 Sản xuất theo luồng: “Flow manufacturing”: có nghóa là sản xuất một
chi tiết, một bộ phận của sản phẩm ở một thời điểm nhưng đa (nhiều) điều khiển
- theo một tiến trình nhất đònh trong phối hợp. Những điểm chính liên quan đến
sản xuất theo luồng là:
- Xếp đặt máy móc, thiết bò theo trình tự, chuỗi trình tự nối tiếp.
- Dây chuyền theo hình chữ U
- Sản xuất một bộ phận ở một thời điểm
- Công nhân, người điều khiển được huấn luyện đa kỹ năng
- Tuân thủ theo chu kỳ, vòng sản xuất của quy trình
- Cho phép công nhân, người điều khiển đứng theo dõi máy và di chuyển
theo dây chuyền
- Sử dụng máy móc thiết bò có kích thước nhỏ gọn và có hiệu quả.
Bảng so sánh giữa sản xuất theo đơn hàng số lượng lớn và theo luồng:
Sản xuất số lượng,
lô hàng lớn
Sản xuất theo luồng
Cách bố trí xưởng Theo xưởng làm việc truyền thống Theo hình chữ U
Nhóm máy Máy cùng loại Máy khác loại được đặt theo nhóm, vào
một khu vưcï
Sản lượng sản phẩm Rất lớn 01 chi tiết, bộ phận
Quy mô của máy Lớn Nhỏ
Tồn kho Lớn, tồn ở các quá trình Ít, hay không có giữa các quá trình sản
xuất
Sự vận hành Đơn giản Phức tạp, nhiều máy
Sự vận động của công
nhân
Ngồi hoặc đứng một chỗ Di chuyển suốt trong quá trình sản xuất
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
12
Kỹ năng công nhân Đơn giản Đa kỹ năng
Kiểm tra sản phẩm Nơi cuối của quá trình sản xuất Mỗi quá trình sản xuất 1 chi tiết sản phẩm
1.1.2.4 Điều hành theo tiêu chuẩn đề ra: sản xuất theo chất lượng cùng với đảm
bảo sự an toàn, hạn chế thấp nhất sự hao phí thông qua các quy đònh trong sản
xuất và các phương pháp về bố trí nhân lực, sản phẩm và máy móc thiết bò như
sau:
- Thời gian chu kỳ sản xuất:
Số lượng sản xuất trong một ngày = [Số lượng sản xuất trong tháng]/[Số ngày
làm việc trong tháng]
Thời gian chu kỳ sản xuất = [Số giờ làm việc trong ngày]/[Số lượng sản xuất
trong ngày]
- Bố trí công việc
- Tiêu chuẩn tồn kho
- Sử dụng biểu đồ điều hành sản xuất
1.1.2.5 Điều khiển quá trình sản xuất đa kỹ năng: công nhân có trách nhiệm
đảm đương hiệu quả một vài khâu trong quá trình sản xuất, muốn thế :
- Xác đònh rõ một cách chi tiết về công việc phải bố trí cho người công nhân
cũng như máy móc
- Xếp đặt máy móc theo hình chữ U để đảm bảo quá trình sản xuất liên tục.
- Bố trí công nhân đa kỹ năng đảm nhận công việc cho nhiều máy trong quá
trình sản xuất.
- Bố trí công nhân theo dõi nhiều quá trình cùng một lúc, tức là theo dõi nhiều
máy có chức năng khác nhau.
05 giai đoạn trên là cơ bản nhất của JIT. Vì thế, những yếu tố cơ bản JIT được
tóm tắt phần 1.1.3
1.1.3 Các yếu tố cơ bản của JIT:
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
13
1.1.3.1 Phương pháp bố trí dòng vật liệu: trong hệ thống sản xuất, hai phương
pháp bố trí dòng vật liệu là phương pháp đẩy và phương pháp kéo.
- Phương pháp “đẩy”: theo Steven Nahmias thì đònh nghóa diễn đạt ý tưởng triết
lý này là : “là một hệ thống đẩy, đề xướng sản xuất trong sự lường trước những
nhu cầu tương lai”
1
Đại diện là Hoạch đònh nhu cầu vật tư, dựa vào những nhu cầu tương lai, tức là:
hệ thống hoạch đònh sản xuất là kết quả dự báo các nhu cầu cho các chi tiết cuối
được dùng để sản xuất theo. Song song đó, nhà quản trò cũng dựa vào Lòch trình
sản xuất tổng thể để xác đònh tương đối chính xác số lượng và thời gian sản xuất
của từng chi tiết trong hệ thống sản xuất dây chuyền và từ Lòch trình sản xuất
tổng quát này, nhà quản trò sẽ đưa ra các Lòch trình sản xuất chi tiết cho các
phân xưởng, cho từng công đoạn. Do đó, hoạch đònh nhu cầu tương lai đóng vai
trò rất quan trọng trong hệ thống đẩy và dòng vật liệu theo đó được “đẩy” từ
giai đoạn trước sang giai đoạn kế tiếp, lượng tồn kho có sẵn cho quá trình sản
xuất và các bộ phận trong hệ thống phải chờ các bán thành phẩm hay chi tiết
khác từ các bộ phận sản xuất trước đó để tiếp tục quá trình sản xuất của mình, vì
thế việc “đẩy” trong toàn bộ quá trình sản xuất cần phải được hoạch đònh cụ thể,
rõ ràng.
- Phương pháp “kéo”: là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong Just In Time –
theo như đã trình bày ở trên. Hệ thống Just In Time là một hệ thống kéo nhằm
mục đích đảm bảo lượng tồn kho vật tư luôn ở mức thấp có thể chấp nhận được,
trong đó nhu cầu của khách hàng được đưa trực tiếp và tạo nhu cầu kéo toàn bộ
hệ thống sản xuất. Vì thế, nhu cầu vật tư phải đáp ứng đúng chủng loại, số
lượng, đúng bộ phận đang cần và dây chuyền theo hình U sẽ tạo hiệu quả cho
việc cung cấp và thay đổi vật liệu một cách hiệu quả việc cung cấp và thay đổi
1
Steven Nahmias, Production and Operatiosn Analysis, McGraw Hill International edittions,1997, trang
333
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
14
nguyên vật liệu một cách nhanh chóng. Như là với yêu cầu phải thay đổi sản
phẩm kòp với nhu cầu của khách hàng, nhà sản xuất phải có một dây chuyền sản
xuất thật linh động để thay đổi nhanh chóng các khuôn mẫu, nhằm giảm thời
gian chết trong quá trình sản xuất, quản lý tồn kho hiệu quả. Dòng nguyên vật
liệu trong hệ thống Just In Time sẽ được kéo từ nhu cầu thực tế, quá trình trước
kéo quá trình sau, và cứ thế cho đến khi lượng tồn kho giảm đến mức cho phép
để đặt đơn hàng mới. Vì thế, giữa 02 hệ thống có sự khác biệt cơ bản sau:
Trong hệ thống Hoạch đònh yêu cầu vật tư, nhà quản lý phân chia cỡ lô của đơn
hàng vật tư dựa vào dự báo nhu cầu tương lai, tồn kho tương ứng dựa vào sự
quyết đònh của nhà quản lý; việc Hoạch đònh yêu cầu vật tư là một hệ thống
hoạch đòch từ trên xuống dưới; số lượng sản phẩm sẽ dựa vào nhu cầu dự báo;
kích cỡ lô hàng được cung cấp theo từng cấp độ của hệ thống. Và đối với Just In
Time, nhà quản lý cố gắng giảm thiểu số lượng của lô hàng, loại bỏ sự lãng phí
trong tồn kho; yêu cầu cho sản phẩm bắt đầu ở mức cao hơn của hệ thống và
được kéo xuyên suốt qu nhiều cấp độ của sản xuất.
1.1.3.2 Kích thước lô hàng nhỏ:
Nhiều mô hình tồn kho được áp dụng trong sản xuất, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn
của doanh nghiệp. Dù chọn mô hình nào, doanh nghiệp đều cân nhắc kỹ lưỡng
việc đảm bảo chi phí tồn kho của các doanh nghiệp về nhu cầu, khả năng sản
xuất, tình hình thò trường
Đối với hệ thống Just In Time, việc giảm lượng tồn kho ở mức thấp nhất là điều
mong muốn, vì thế việc chọn lựa lô hàng có kích thước nhỏ là được ưu tiên với
những lý do sau:
+ Thứ nhất là kích thước lô hàng nhỏ sẽ làm giảm đáng kể thời gian tồn kho
nguyên vật liệu, như thế là chi phí tồn trữ cũng giảm tương ứng và làm giảm
tổng chi phí, ảnh hưởng tích cực đến giá thành, là một yếu tố làm tăng tính cạnh
tranh của sản phẩm hàng hoá.
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP-HỆ THỐNG SẢN XUẤT ĐÚNG LÚC (JUST IN TIME) NGUYỄN MỘNG HÀ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét